Lời nói đầu
Ngày 15
tháng 4 năm 1992, Quốc hội nớc cộng hoà xă hội chủ nghĩa
Việt nam đã thông qua ban hành Hiến pháp nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (Hiến pháp 1992), để thay thế Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 thể
hiện một sự thay đổi toàn diện về chế độ kinh tế xã hội của nớc ta, thể hiện
sự đổi mới về đờng lối phát triển của Đảng và Nhà nớc. Trong đó chính sách
kinh tế - đợc xác định là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa,thừa nhận nhiều hình thức sở hữu mới nh sỏ hữu t nhân,t bản đồng thời
Hiến pháp 1992 cũng mở rộng hơn quyền của các cá nhân, công dân trong lĩnh
vực kinh tế, dân sự , dới sự quản lý của Nhà nớc.
Thể chế hoá các qui định của Hiến pháp 1992, Quốc hội Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, ngày 28 tháng 10 năm 1995 đã thông qua Bộ
luật dân sự và Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01tháng 07 năm 1996. Đây là một b-
ớc tiến lớn của pháp luật nớc ta, là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy
giao lu dân sự , tạo môi trờng thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trong
giai đoạn phát triển mới.
Một trong những quan hệ mà Pháp luật dân sự chú trọng điều chỉnh đó
là hợp đồng dân sự , đây cũng là vấn đề trọng tâm của pháp luật dân sự các nớc
khác trên thế giới. Bởi vì hợp đồng dân sự thể hiện rõ nét nhất các đặc trng cơ
bản của pháp luật dân sự . Trong bộ luật dân sự Việt nam, các quy định về hợp
đồng dân sự chiếm gần 1/2 tổng số điều (838 điều) của Bộ luật, bao gồm
những quy định chung về hợp đồngvà những quy định riêng về từng loại hợp
đồng cụ thể . Việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình đa Bộ luật dân sự vào đời sống xã
hội, thúc đẩy các giao lu dân sự từ đó góp phần hoàn thiện hơn các quy
định của Bộ luật dân sự về hợp đồng .
Chế định hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự gồm hai phần :
Phần chung bao gồm các qui định, các nguyên tắc chung trong quá trình
3. 2. Kết luận
2
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp, tôi đã nhận đợc sự
chỉ bảo và giúp đỡ của các thầy cô và một số bạn bè, đặc biệt là sự chỉ bảo giúp
đỡ tận tình của thầy giáo Chu Đức Nhuận đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt
thời gian nghiên cứu đề tài. Vì thế tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ bảo của
thầy Chu Đức Nhuận và những góp ý chân thành của mọi ngòi đã giúp tôi hoàn
thành khoá luận này.
Chơng 1: khát quát chung về hợp đồng dân sự
1.1. Lợc sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật dân sự về
hợp đồng ở Việt Nam.
Nh n ớc và pháp luật là hai hiện tợng xã hội phức tạp và đa dạng, hai
hiện tợng này có cùng bản chất và gắn bó hết sức mật thiết với nhau. Những
nguyên nhân để hình thành Nh n ớc cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra
đời của pháp luật. Pháp luật ra đời và là công cụ của Nh n ớc để thực hiện
quyền lực của mình. Nh n ớc ban hành pháp luật, đảm bảo cho pháp luật đợc
3
thực hiện, và vì vậy pháp luật luôn luôn phản ánh điều kiện kinh tế xã hội
phản ánh lợi ích của Nh n ớc đó. Bác Hồ đã từng nói Nh n ớc nào, pháp luật
ấy. Từ đó cho thấy việc tìm hiểu pháp luật không tách rời khỏi điều kiện kinh
tế xã hội, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của Nh n ớc, cũng nh sự tìm
hiểu chính bản thân Nh n ớc đó.
Thời đại Hùng Vơng An Dơng Vơng với sự phát triển rực rỡ của nền
văn minh Sông Hồng đã xuất hiện một hình thái Nh n ớc sơ khai. Trong thời
kỳ này qua nghiên cứu khảo cổ học cho thấy nền kinh tế cũng đã có bớc phát
triển nhất định ngoài sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công phát triển
phong phú nh: nghề dệt, nghề gốm, nghề mộc, chế tác đá, luyện kim cho nên
các hoạt động tổ chức sản xuất và trao đổi hàng hoá bớc đầu gia tăng. Tuy
nhiên, với sự khởi đầu nh vậy cho thấy pháp luật trong thời kỳ này cha có gì
nhiều có lẽ chủ yếu luật tục. Riêng trong lĩnh vực dân sự, tài liệu có rất ít để
khóa, tiền tệ Chính sách thuế: Tô, dung, điệu hay lỡng thuế đợc áp dụng từ
thế kỷ thứ VII đến thế kỷ VIII. Tuy nhiên các vấn đề về dân sự nh hợp đồng,
thừa kế không có tài liệu nào đề cập. Điều chỉnh quan hệ này có lẽ thực hiện
chủ yếu bằng phong tục, tập quán; các quy định về dân sự chủ yếu điều chỉnh
các quan hệ sở hữu ruộng đất, mang tính chất củng cố quyền sở hữu ruộng đất
của chính quyền đô hộ và quan lại ngời Hán. Hiệu lực của những quy định này
mang tính chất áp đặt, tức là duy trì hiệu lực bằng lực lợng của chính quyền đô
hộ.
Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh
nớc từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu bằng sự hình thành và củng cố
chính quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này,
lĩnh vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy
có tài liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm
nhất. Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu
công xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời
kỳ Bắc thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân
sự đã có bớc phát triển mới. Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là
việc Nh n ớc tiến hành đúc tiền Thái bình thông báo năm 968. Lê Hoàn đúc
tiền Thiên phúc vào năm 984. Việc Nh n ớc đúc tiền ngoài ý nghĩa khẳng đ
Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh n ớc từ
thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu bằng sự hình thành và củng cố chính
quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này, lĩnh
vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy có
tài liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm
nhất. Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu
công xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời
5
kỳ Bắc thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân
sự đã có bớc phát triển mới. Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là
việc Nh n ớc tiến hành đúc tiền Thái bình thông báo năm 968. ịnh thiết chế
ruộng đã cấy cầy, đã có văn tự, thì Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, mở đầu
6
thời kỳ độc lập tự chủ của Nh n ớc từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu
bằng sự hình thành và củng cố chính quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến
Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này, lĩnh vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà
khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy có tài liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu
ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm nhất. Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng
đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu công xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về
ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời kỳ Bắc thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ
hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân sự đã có bớc phát triển mới. Yếu tố để
khẳng định và liên quan đến điều này là việc Nh n ớc tiến hành đúc tiền Thái
bình thông báo năm 968. Lê Hoàn đúc tiền Thiên phúc vào năm 984. Việc
Nh n ớc đúc tiền ngoài ý nghĩa khẳng đ Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, mở
đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh n ớc từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt
đầu bằng sự hình thành và củng cố chính quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến
Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này, lĩnh vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà
khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy có tài liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu
ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm nhất. Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng
đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu công xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về
ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời kỳ Bắc thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ
hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân sự đã có bớc phát triển mới. Yếu tố để
khẳng định và liên quan đến điều này là việc Nh n ớc tiến hành đúc tiền Thái
bình thông báo năm 968. ịnh thiết chế quyền lực nó cũng phản ánh nhu cầu
giao lu hàng hoá mở rộng, kinh tế phát triển đòi hỏi phải có tiền làm vật ngang
giá chung trong quan hệ trao đổi hàng hoá. Sự xuât hiện tiền tệ đã thúc đẩy sự
phát triển giao lu dân sự, điều này chứng minh rằng giao lu dân sự trong thời
kỳ này có bớc phát triển về cả lợng và về chất. Tuy nhiên hiện nay chúng ta
không còn tài liệu ghi nhận điều này, nhng pháp luật cũng chỉ phản ánh tồn tại
khách quan của giao lu dân sự đang diễn ra mà thôi. Tập quán vẫn đợc coi là
công cụ chủ yếu để điều chính quan hệ dân sự và hôn nhân gia đình.
ruộng đó. Những quy định này thể hiện những giao lu dân sự liên quan đến
ruộng đất đợc ghi nhận cụ thể và cho thấy trong lĩnh vực hợp đồng dân sự pháp
luật cũng đã có những quy định thành văn . Đó là bớc tiến trong lĩnh vực pháp
luật về hợp đồng dân sự.
Đến đời nhà Trần các giao lu dân sự đối với ruộng đất càng phát triển
hơn. Ruộng đất t hữu trở thành đối tợng trong các quan hệ chuyển nhợng, cầm
đợ, việc mua ruộng cúng cho nhà chùa thể hiện rõ chế độ t hữu ruộng đất phát
triển trong thời kỳ này. Năm 1292 nhà Trần ban hành đạo dụ quy định : Cho
phép lúc đói kém bán con làm nô tỳ, bố mẹ có thể chuộc lại con, Ruộng đất
đã bán đứt (đoạn mại) không đợc đòi chuộc lại. Để ổn định giao lu dân sự,
pháp luật thời kỳ này quy định rõ hình thức, thủ tục của hợp đồng mua bán
8
ruộng đất, đạo dụ năm 1237, tháng 12 đời Trần Thái Tông (Trần Cảnh) bắt
buộc: Phàm làm chúc th văn khế, nếu là giấy tờ về ruộng đất, vay mợn, thì ng-
ời làm chứng in tay ở ba dòng trớc, ngời bán in tay ở bốn dòng sau. Cũng
chính dới triều Trần Thái Tông, Nh n ớc phong kiến đã thực hiện một việc
hiếm có về mặt này là tự đứng ra đem ruộng công (quan điền) bán cho dân làm
của t với giá 5-10 quan/mẫu. Thời kỳ này chắc là có sự tranh chấp liên quan
đến sự dịch chuyển đất đai nên mới có đạo dụ quy định hình thức, thủ tục rõ
ràng vậy. Vấn đề hiệu lực hợp đồng cũng đợc quy định chặt chẽ: Nếu ruộng
đất đã bán đứt, không đợc đòi chuộc lại, nếu cố tình đòi chuộc lại thì bị phạt 80
trợng. Quy định có tính chất hình sự nhằm ổn định giao lu dân sự, sử dụng
trách nhiệm hình sự bảo vệ quan hệ dân sự là nét đặc trng, điển hình của pháp
luật phong kiến Việt Nam và pháp luật phong kiến Trung Quốc.
Các quan hệ khác nh vay mợn, cầm cố cũng đợc pháp luật thời Lý
Trần quy định cụ thể về hình thức và nội dung. Đặc biệt vấn đề thời hạn, đợc
ghi nhận cụ thể. Chiếu chỉ 1237 quy định hạn cầm ruộng là 20 năm, quá 20
năm ngời cầm ruộng không có quyền lấy lại, việc cầm ruộng phải làm văn khế.
Quan hệ vay nợ quy định rõ Nếu con nợ không trả đợc nợ sẽ bắt giam cho đến
khi có tiền chuộc, nếu không có tiền chuộc, thì phải làm nô tỳ để trả nợ.
định trong đạo dụ năm 1477 thời Lê Lợi và đợc hoàn chỉnh vào thời Hồng Đức
(vua Lê Thánh Tông).
Với các chính sách Trọng nông, khuyến nông, thống nhất tiền tệ và
các đơn vị đo lờng chính, quan hệ giao lu dân sự có bớc phát triển cả bề rộng
và chiều sâu. Họat động lập pháp của nhà Lê đợc đẩy mạnh và thể hiện trên
nhiều lĩnh vực xã hội. Những thành tựu lập pháp phải kể đến làm Luật th gồm
6 quyển do Nguyễn Trãi soạn thảo (1400-1442).Quốc triều luật lệnh gồm 6
quyển do Phan Phù biên soạn (1440-1442); Hồng Đức Thiện chính th (1470-
1497) Đặc biệt tiêu biểu là: Bộ Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ luật Hồng
Đức) ra đời 1483. Bộ luật Hông Đức là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng
trong lịch sử pháp luật Việt Nam, là đỉnh cao trong thành tựu lập pháp phong
kiến.
Bộ luật Hồng Đức gồm 722 điều chia thành 6 quyển. Điểm đáng lu ý
trong luật Hồng Đức là vấn đề dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình đã có một vị
trí quan trọng trong bộ luật. Các quy định về : Hộ, hôn, điền sản đều ghi nhận
trong quyển ba đã phản ánh khá chính xác phong tục tập quán của ngời Việt
Nam trong giao lu dân sự. Quan điểm thể hiện trong bộ luật Hồng Đức rất tiến
bộ, nó không phải là bộ luật hớng nho với t tởng tam tòng, tứ đức nh pháp luật
nhà Minh, nhà Đờng, bộ luật Hồng Đức cho phép con cái có quyền tài sản
riêng mặc dù vẫn đang chung sống cùng cha mẹ. Thể hiện mối quan hệ bình
đẳng giữa vợ chồng về tài sản, đây thực sự là điều khó hình dung trong các
10
triều đại phong kiến mà nho giáo vốn là t tởng chính thống trị Quốc. Các quan
hệ trong lĩnh vực hợp đồng đợc quy định đầy đủ và chi tiết hơn pháp luật của
triều đại trớc. Cùng với việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của giao lu dân c
thì những điều kiện bảo đảm hiệu lực của khế ớc (hợp đồng) cũng đã đợc thể
hiện trong các quy định của pháp luật, đặc biệt vi phạm nguyên tắc ng thuận
(hà tỳ).
Điều 187 luật Hông Đức quy định: Trong các chợ ở kinh thành, thôn
quê những mua bán không theo đúng cân, thớc, thăng, đấu chính thức mà sửa
Vấn đề trách nhiệm trong các trờng hợp vi phạm hợp đồng cũng đợc quy
định chặt chẽ trong đó có trách nhiệm hình sự. Điều 588 bộ luật Hồng Đức quy
định : Mắc nợ quá hạn thì phải tội trợng, cố ý không trả bị biếm hai t và trả
gấp đôi, hay điều 579 bộ luật Hồng Đức: ngời thuê súc vật để chăn nuôi mà
đánh mất thì phải phạt 80 trợng và đền tiền theo giá súc vật bị mất. Nguyên
tắc bình đẳng và công bằng đợc thể hiện trong quan hệ thuê mớn ruộng đất.
Luật nhà Lê chú ý bảo vệ quyền lợi cả ngời chủ ruộng và cả tá điền (ngời thuê
mớn). Ví dụ quy định bớt tò suất khi bị mất mùa hoặc thời tiết xấu.
Nhìn chung trong bộ luật Hồng Đức, chế định hợp đồng dân sự đợc quy
định tơng đối đầy đủ, bao quát đợc các hợp đồng chủ yếu nh mua bán, cầm cố,
vay nợ, thuê mớn, bảo lãnh. Đã xử lý các vấn đề liên quan đến hiệu lực pháp lý
của hợp đồng. Có thể nói pháp luật về HĐDS trong luật Hồng Đức đã có sự
phát triển đáng kể, có một vị trí tơng đối độc lập trong hệ thống pháp luật nói
chung, các yêu cầu cơ bản về phơng diện pháp lý của giao dịch dân sự đợc
phản ánh có nhiều nét tơng đồng với các quy định của luật dân sự hiện đại. Tập
hợp hệ thống các quy định trong pháp luật thời Lê cho thấy chế định HĐDS đ-
ợc quy định chi tiết, cụ thể làm cơ sở cho sự ổn định và mở rộng giao lu dân sự.
Cuối thế kỷ XV sang đầu thế kỷ XVI, xã hội Việt Nam có sự mất ổn
định và đi vào cuộc nội chiến phân biệt. Thời kỳ này đất nớc bị phân chia làm
hai miền: Đàng trong- Đàng ngoài, lấy sông Gianh làm giới tuyến.
Năm 1527 Mạc Đăng Dung phế truất nhà Lê lập ra Triều Mạc (1527-
2592) Triều Mạc tồn tại trong một thời gian ngắn, nhng nhìn về góc độ pháp
luật đã ban hành bộ Thiên Chính Th. Trong đó vấn đề giao lu dân sự lại có
những điểm tiến bộ so với luật Hồng Đức. Mạc Đăng Dung cho đúc tiền mới.
Cải cách đặc biệt của Mạc Đăng Dung trong lĩnh vực dân sự là điều chỉnh quan
hệ dân sự bằng biện pháp dân sự. Nội dung chủ yếu của các quy định pháp luật
đã phản ánh đợc tính chất bình đẳng, ngang giá trong giao lu dân sự thông qua
việc quy định những hình phạt tiền nhiều hơn là các biện pháp hình sự và đó
chính là điểm tiến bộ trong pháp luật về HĐDS.
12
triển của HĐDS trải qua một quá trình tất yếu, ban đầu là những phong tục,
tập quán, thói quen trong quan hệ trao đổi, dần dần xã hội phát triển, Tựu
chung lại toàn bộ quá trình phát triển của pháp luật dân sự nói chung và hợp
đồng dân sự nói riêng đều chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế xã hội;
13
điều kiện chính trị của các triều đại phong kiến đơng thời. trong giao lu dân sự
bớc đầu hình thành trong quy định pháp luật thành văn từ các triều đại Lý
Trần. Dới triều đại nhà Lê pháp luật dân sự đã thực sự đợc quan tâm, ghi nhận
trong hệ thống pháp luật chung và đã có một vị trí độc lập trong bộ luật Hồng
Đức.
Thời kỳ tiếp theo trong lịch sử dân tộc là thời kỳ Pháp thuộc. Với t tởng
pháp luật của một chế độ xã hội phát triển, chính quyền đô hộ lúc bấy giờ quan
tâm xây dựng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dân sự. Trong thời kỳ này có ba bộ
luật dân sự đợc ban hành áp dụng cho ba kỳ trên lãnh thổ Việt Nam. Bộ luật
dân sự giản yếu 1883 mà nội dung là sự rút tỉa những nguyên tắc đại cơng của
Bộ luật dân sự Pháp và đợc áp dụng cho xứ thuộc địa Nam kỳ. Bộ dân luật Bắc
Kỳ năm 1931 áp dụng cho xứ bảo hộ Bắc Kỳ và Bộ HoàngViệt Trung Kỳ Bộ
luật 1936 áp dụng cho xứ Trung kỳ. Nhìn chung trong thời kỳ này, lần đầu tiên
trong lịch sử pháp luật Việt Nam có các bộ luật dân sự độc lập để điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự. Chế định HĐDS đợc ghi nhận một
cách hoàn thiện trên nguyên tắc của luật dân sự hiện đại. Mặc dù đợc xây dựng
trên nguyên tắc của Bộ luật dân sự Pháp 1804 nhng đã có sự sửa đổi cho phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là các yếu tố phong
tục tập quán, thuần phong mỹ tục của ngời Việt Nam.
Sau khi đất nớc giành đợc độc lập, ngày 10/10/1945 Hồ Chủ Tịch đã ký
sắc lệnh số 90/SL về việc tạm thời sử dụng luật lệ hiện hành ở Việt Nam cho
đến khi ban hành luật mới. Ngày 22/5/1950 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 97/SL đã
nêu ra những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật dân sự
ở Việt Nam. Từ đó đến nay Nh n ớc đã ban hành rất nhiều văn bản pháp quy
để điều chỉnh quan hệ dân sự, chế định hợp đồng dân sự đã đợc đúc kết xây
độc lập. Trớc thời điểm ban hành BLDS những quy định về hợp đồng dân sự
còn tản mát trong các văn bản pháp luật. Sự ra đời của BLDS là thành tựu lập
pháp to lớn trong lịch sử lập pháp, khẳng định sự hoàn thiện của pháp luật dân
sự nói chung và pháp luật về hợp đồng dân sự nói riêng. Lần đầu tiên, các
nguyên tắc cơ bản, các khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của các chế định hợp
đồng dân sự đợc pháp điển hóa một cách khoa học và có hệ thống trong BLDS.
1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự.
Trong đòi sống xã hội, con ngời muốn tồn tại đợc họ phải có những mối
quan hệ qua lại với nhau. Mối quan hệ này đợc thể hiện nhiều góc cạnh về tinh
thần , về xã hội hoặc về vật chất .
Chính những mối quan hệ qua lại này khẳng định sự tồn tại của xã hội
loài ngời . Con ngời cần có những cơ sở vật chất để phục vụ nhu cầu cá nhân
Nhng mỗi cá nhân lại không thể tự đáp ứng nhu cầu phong phú của bản thân
15
nên cần phải có sự trao đổi qua lại. Trong xã hội cũng nh trong giao lu dân sự
việc chuyển giao tài sản cùng quyền sở hữu tài sản giữa các chủ thể có vai trò
quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của nhau. Việc chuyển giao tài sản chỉ
đợc thực hiện khi có sự ng thuận của các bên nếu không sẽ không thể tồn tại
mối quan hệ trao đổi.
Trong quan hệ trao đổi nếu các bên bày tỏ ý chí của mình và cùng thống
nhất ý chí để đạt đợc mục đích nhất định thì gọi là hợp đồng. Khi các bên phải
chuyển giao tài sản, phải làm một việc nhằm đáp ứng nhu cầu của nhau trong
sinh hoạt hay sản xuất thì đã hình thành nên quan hệ hợp đồng dân sự. Tại
điều 394 BLDS có qui đinh: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc các lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Tóm lại hợp đồng dân sự là một loại quan hệ pháp luật dân sự đợc xây
dựng trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên tham gia nhằm thoả mãn nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng.Trên cơ sở sự thoả thuận này các bên đã thiết lập quyền và
nghĩa vụ tơng ứng ràng buộc lẫn nhau.
Nghiên cứu hợp đồng dân sự, vấn đề cần xem xét tới chính là bản chất
đồng dân sự , các bên ngoài việc tự do,tự nguyện cam kết thoả thuận thì tính tự
chịu trách nhiệm từ việc cam kết này cũng là một đặc trng.
Tuy nhiên cần thấy rằng pháp luật dân sự tôn trọng các quyền tự do cam
kết, thoả thuận nhng tất cả phải trong khuôn khổ pháp luật không đợc xâm
phạm tới lợi ích Nhà nớc, công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngời khác.
Thông qua các quy định của pháp luật , nhà nớc công nhận quyền tự do cam
kết, thoả thuận của các chủ thể nhng trong những trờng hợp nhất định vẫn có
sự hạn chế. Ví dụ điều 473 BLDS qui định: Lãi suất vay do các bên thoả
thuận nhng không đợc vợt qúa 50% lãi suất cao nhất của Ngân hàng Nhà nớc
qui định đối với loại cho vay tơng ứng. Ngoài ra trong những trờng hợp pháp
luật không qui định, các bên có thể xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự nhng
không đợc trái với những nguyên tắc cơ bản đợc qui định trong Bộ luật dân sự.
Việc qui định này của pháp luật đã tạo ra một hành lang pháp lý rộng rãi để ng-
ời dân thực hiện theo khuôn khổ pháp luật.
Pháp luật là công cụ pháp lý của Nhà nớc để điều tiết các quan hệ theo
hớng phát triển phù hợp lợi ích chung của cộng đồng. Hợp đồng là hình thức
pháp lý của quan hệ trao đổi trong lĩnh vực dân sự.
Nh vậy bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự là việc tự do, tự nguyện
cam kết thoả thuận của các bên phù hợp với qui định của pháp luật. Nếu thỏa
mãn đầy đủ các điều kiện đó thì cam kết này có hiệu lực bắt buộc không những
đối với các bên tham gia mà bên thứ ba và cơ quan Nhà nớc cũng phải tôn
17
trọng cam kết đó. Nếu nh họ không tự nguyện thực hiện đúng các điều khoản
đã cam kết sẽ bị cuỡng chế thực hiện theo qui định của pháp luật.
1.3. Một số vấn đề khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh
tế
Sự khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế là các vấn đề đợc
các nhà nghiên cứu và xây dựng luật quan tâm và bàn luận. Hiện nay Nh n ớc
đã ban hành BLDS và đang xây dựng dự thảo các văn bản pháp luật trong lĩnh
cạnh tranh Vì vậy, việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải xóa bỏ
cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Hệ thống pháp luật kinh tế trớc đây là hậu
quả tất yếu của cơ chế cũ phải đợc thay thế bởi một hệ thống pháp luật kinh tế
mới phù hợp với nền kinh tế thị trờng hiện nay.
Sự phân chia giữa hai ngành luật hiện đang đợc xem xét thông qua nhiều
yếu tố trong đó có yếu tố về sự khác nhau giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng
dân sự. Việc xem xét sự khác nhau này không tách khỏi điều kiện kinh tế xã
hội hiện nay của nớc ta, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trờng có định
hớng XHCN, do đó quyền tự do kinh doanh đợc ghi nhận là nguyên tắc Hiến
định. Điều chắc chắn rằng, nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, tính độc
lập, tự chịu trách nhiệm về tài sản sẽ đợc coi là nguyên tắc cơ bản trong quan
hệ hợp đồng. Cũng chính nguyên tắc đó cùng với nguyên tắc tự định đọat trong
việc giải quyết tranh chấp đã chi phối toàn bộ quan hệ trao đổi trong nền kinh
tế . Điều này dờng nh xóa mờ danh giới đã đợc xác định trong cơ chế kế hoạch
hóa giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Tuyên nhiên ở một phơng diện
nào đó xuất phát từ nền kinh tế thị trờng ở nớc ta và xét thực chất của hai quan
hệ trao đổi trong lĩnh vực dân sự và lĩnh vực kinh doanh, chúng ta vẫn thấy rõ
yếu tố chi phối sự khác biệt giữa hai quan hệ này. Điều này đợc xem từ chính
nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng nh đã nói ở phần trên. Tự do giao
kết hợp đồng thể hiện ở tự do tìm kiếm, lựa chọn đối tác, tự do xác lập những
điều khoản của hợp đồng, tự do cam kết miễn là không trái pháp luật và đạo
đức xã hội. Đây là quyền tuyệt đối của chủ thể trong luật dân sự, quyền này đ-
ợc phản ánh rất rõ trong BLDS (điều 7, 395). Nhng đối với chủ thể của luật
kinh tế không phải bao giờ cũng đạt đợc sự tự do nh vậy.
Trong quan hệ kinh tế nhiều thành phần xuất phát từ lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng nên có những hợp đồng chỉ có sự tham gia của pháp nhân, của
các cơ quan quản lý có thẩm quyền. Chẳng hạn hợp đồng xây dựng kinh
doanh chuyển giao (B.OT) ký kết giữa cơ quan quản lý Nh n ớc Việt Nam với
nhà đầu t nớc ngoài cũng phải có những điều kiện nhất định do pháp luật quy
định về chủ thể, quyền sử dụng đất Sự thỏa thuận trong quan hệ kinh tế xét về
lệnh HĐKT thì hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân,
pháp nhân với cá nhân, có đăng ký kinh doanh; quan hệ hợp đồng kinh tế cũng
có thể đợc xác lập giữa những ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, hộ kinh
tế gia đình, hộ nông dân cá thể, các tổ chức, cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam
với pháp nhân Việt Nam. Điều đó cho thấy trong HĐKT ít nhất một bên chủ
thể bắt buộc phải có t cách pháp nhân. Quan hệ kinh tế và quan hệ dân sự đều
20
là quan hệ mang yếu tố tài sản, do đó chủ thể của nó phải là tổ chức và ngời có
tài sản riêng thuộc quyền sở hữucủa mình hoặc có quyền quản lý nghiệp vụ đối
với tài sản do Nh n ớc giao. Do đó điều 2 pháp lệnh HĐKT và điều 4 pháp
lệnh HĐDS đều thống nhất quy định nếu một tổ chức muốn tham gia ký kết
HĐKT, HĐDS thì tổ chức đó phải là pháp nhân. Nhng pháp luật nớc ta hiện có
quy định về pháp nhân cha thống nhất. Tại điều 1 Nghị định số 17/HĐBT ngày
16/1/1990 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh HĐKT quy định: pháp nhân là
một tổ chức có đủ điều kiện sau đây:
a. Đợc thành lập một cách hợp pháp
b. Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng tài sản đó.
c. Có quyền quyết định một cách độc lập về các hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
d. Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật
Tại điều 94 BLDS quy định: Một tổ chức đợc công nhận là pháp nhân
khi có đủ cá điều kiện sau:
1. Đợc cơ quan Nh n ớc có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng ký hoặc công nhận.
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản của mình.
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Qua hai khái niệm về pháp nhân nêu trên thì khái niệm về pháp nhân
trong BLDS quy định bao quát và đầy đủ hơn so với khái niệm pháp nhân trong
nhân kinh doanh hoặc giữa cá nhân kinh doanh với nhau không đợc xem là hợp
đồng kinh tế . Trong khi đó cũng quan hệ kinh doanh nh vậy nếu các chủ thể
tham gia là pháp nhân thì lại đợc coi là hợp đồng kinh tế. Với pháp luật hiện
hành, vấn đề quy định chủ thể trong quan hệ kinh doanh còn rất hạn chế, điều
này cho thấy nó cha phản ánh đợc sự đa dạng của các quan hệ kinh doanh đang
tồn tại trong nền kinh tế thị trờng. Sự hạn chế, thiếu tính thống nhất đó cha đáp
ứng đợc yêu cầu điều chỉnh quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trờng, cha
phản ánh đợc bản chất của quan hệ hàng hoá -tiền tệ đang có xu hớng lấn át
quan hệ giao lu dân sự (thơng mại hóa quan hệ dân sự).
Bên cạnh yếu tố chủ thể thì mục đích của việc xác lập quan hệ hợp đồng
đợc xem là căn cứ để phân biệt giữa hợp đồng kinh tế hợp đồng dan sự. Trớc
khi có BLDS thì vấn đề này đợc quy định rõ trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế
và pháp lệnh hợp đồng kinh tế nêu khái niệm hợp đồng kinh tế Hợp đồng kinh
tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc
thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ nghiên cứu, ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với
22
sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực
hiện kế hoạch của mình
(1)
. Qua khái niệm trên đã xác định rõ mục đích đặt ra
trong hợp đồng kinh tế là Kinh doanh. Kinh doanh đợc hiểu là viẹc thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đọan của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu
thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lời. Nh vậy, quan
hệ hợp đồng đợc xác định là hợp đồng kinh tế phải đạt đến mục đích cuối cùng
của nó là lợi nhuận. Tại điều 1 pháp lệnh hợp đồng dân sự nêu khái niệm về
hợp đồng dân sự Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về sự xác lập,
thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê,
vay, mợn, tặng cho tài sản, làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các
thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, thì hợp đồng đó là hợp đồng dân sự.
Vấn đề hình thức của hợp đồng cũng có thể đợc xem là tiêu chí để phân
biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Trong BLDS, tại điều 400 quy
định về hình thức hợp đồng dân sự gồm có: Hợp đồng miệng, hợp đồng bằng
văn bản và hợp đồng bằng văn bản có chứn nhận của Công chứng Nh n ớc,
chứng thực, đăng ký hoặc xin phép. Nh vậy hình thức hợp đồng dân sự đa
dạng đơn giản, linh hoạt phù hợp với bản chất giao lu dân sự, với hậu quả tác
động của hợp đồng trong đời sống xã hội. Đối với hình thức của hợp đồng kinh
tế thì buộc phải thực hiện bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch (điều 1
PLHĐKT). Điều này có nghĩa là: Đã là hợp đồng kinh tế thì phải đợc thực hiện
bằng hình thức văn bản, trên văn bản có đóng dấu, chữ ký của đại diện hợp
pháp của các bên. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết bằng tài liệu giao dịch có thể
hiểu là tập hợp văn bản giao dịch, thể hiện các điều khoản chủ yếu của hợp
đồng, xác định quyền nghĩa vụ của các bên, có chữ ký, con dấu hợp pháp của
các bên. Có thể thấy hình thức của hợp đồng kinh tế đợc ghi nhận chặt chẽ và
buộc phải thực hiện bằng hình thức văn bản. Điều này thể hiện rõ vai trò của
hợp đồng kinh tế, những ảnh hởng, tác động của hậu quả của hợp đồng kinh tế
trong đời sống xã hội. Đối với những hợp đồng kinh tế vi phạm, ảnh hởng của
hợp đồng trong nhiều trờng hợp rất nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Vì vậy
các thủ tục, hình thức pháp lý của hợp đồng phải chặt chẽ đảm bảo sự an toàn
pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng. Sự đổ bể của hợp đồng kinh tế
có thể ảnh hởng đến hàng lọat các chủ thể trong quan hệ kinh tế. Các chủ thể
tham gia quan hệ kinh tế với mục đích kinh doanh, mà trong kinh doanh thì
mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. Sự hối thúc của các lợi ích đã thúc đẩy các chủ
thể vào cuộc chạy đua tìm kiếm lợi nhuận với mọi phơng cách và thủ đoạn, có
thể điều đó làm cho các hoạt động kinh doanh vốn năng động thì lại càng phức
tạp hơn trong nền kinh tế thị trờng. Trong các nguyên nhân dẫn đến phá sản,
không có ít vụ do thủ đoạn lừa gạt, gian trá trong ký hợp đồng, có tác động tiêu
cực đến sự phát triển của nền kinh tế. Điều đó cho thấy tính chất nghiêm trọng
24