một số nội dung cơ bản của tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc - Pdf 18

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
BCHTƯ Ban Chấp hành Trung Ương
BCT Bộ Chính trị
CENTO Central Treaty Organization
CHDC Cộng hòa Dân chủ
CHLB Cộng hòa Liên bang
CONEFO Conference of The New Emerging Forces
CPCMLTCHMNVN Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
ĐCS Đảng Cộng sản
ĐCS&CN Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế
LĐVN (Đảng) Lao động Việt Nam
MTDTGPMNVN Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
NATO The North Atlantic Treaty Organization
NLF National Liberation Front
Nxb Nhà xuất bản
OAU Organization of African Unity
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development
SEATO The Southeast Asia Treaty Organization
SEV Council of Mutual Economic Assistance
TBCN Tư bản chủ nghĩa
Tr. Trang
U.S The United States
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
VNCH Việt Nam Cộng hòa
VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
XHCN Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, chiến lược đoàn
kết quốc tế là một trong những nhân tố góp phần đưa tới thắng lợi giải phóng miền

hướng đúng đắn để hiểu sâu hơn về cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” đặt
trong diễn tiến của Chiến tranh Lạnh.
Vì vậy, để góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, và làm rõ
thêm tiến trình của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc từ 1954
đến 1975, chúng tôi chọn vấn đề: “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
2
Minh về đoàn kết quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-
1975)” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Hy vọng rằng, những quan điểm tư tưởng chỉ đạo
cụ thể của Hồ Chí Minh để thực hiện đoàn kết quốc tế sẽ gợi mở cho công tác mở rộng
hợp tác quốc tế hiện nay cái nhìn cụ thể hơn về sự việc, sự kiện, về cách đánh giá cũng
như phương pháp xử lý các mối quan hệ phức tạp, đa chiều.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn một cách khái quát, các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu
được phân bố theo các nhóm sau đây:
2.1. Nhóm những công trình khoa học về lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng của
các học giả trong nước đề cập đến công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
dân tộc và đề tài nghiên cứu
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ghi dấu trong lịch sử dân
tộc như một trong những thắng lợi vẻ vang nhất, đã và vẫn tiếp tục được nhận thức,
cũng như nghiên cứu chuyên sâu. Bài học về đoàn kết quốc tế, tập hợp, mở rộng mặt
trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc đã được nhận
định nhất quán và đề cao ở cả tầm vóc đóng góp vào chiến thắng đã qua và tiền đề cho
những chiến thắng ngày hôm nay, mai sau của đất nước. Các học giả với những công
trình tiêu biểu có liên quan là: Lê Ngọc Ngọc Dũng, Phạm Xuân Nam, Văn Tiến
Dũng, Trần Nhâm, Trần Văn Quang, Nguyễn Đình Ước, Nguyễn Quốc Dũng, Trịnh
Vương Hồng, Phạm Khắc Lãm, Tường Hữu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh,
Văn Tiến Dũng, Đinh Nho Liêm, Lưu Văn Lợi, Trịnh Ngọc Thái, Hồ Sơn Đài, Bùi
Đình Thanh, Nguyễn Khắc Huỳnh…
Trong số đó, nổi bật là công trình Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, (Nxb. Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2005), chủ

2.2. Những công trình nghiên cứu về chủ đề đoàn kết quốc tế, đối ngoại,
ngoại giao của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Xin điểm lại đây tên những học giả gắn với những công trình tiêu biểu nhất: Lê
Văn Yên, Nguyễn Phúc Luân, Xuân Thuỷ, Tôn Quang Phiệt, Ung Văn Khiêm,
Nguyễn Thị Tình, Chu Đức Tính, Nguyễn Minh Hương, Nguyễn Viết Chung, Nguyễn
Duy Trinh, Mai Văn Bộ, Nguyễn Dy Niên, Hoàng Thu Giang, Nguyễn Mạnh Hùng,
Nguyễn Đình Bin, Nguyễn Xuân, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thuý Đức,
Phạm Thuý Ngân, Phạm Bình Minh, Nguyễn Văn Sự, Nguyễn Ngọc Trường, Đặng
Đình Quý, Bùi Văn Hùng…
Và những luận án tiến sỹ liên quan của các học giả: Phạm Hồng Chương,
Nguyễn Xuân Thông, Trần Minh Trưởng, Lương Viết Sang, Nguyễn Văn Bạo…
Đặc biệt là luận án tiến sĩ của học giả Hoàng Trang, được bảo vệ tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1995, có tên: Chiến lược đại đoàn kết của Đảng
4
Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Tác giả
đã đề cập đến việc đoàn kết các lực lượng, các quốc gia đấu tranh cho độc lập dân tộc,
tiến bộ xã hội và ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ trong suốt hai
thập kỷ được điều hành bởi Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những công trình này đã cung cấp những tổng kết, đánh giá quan trọng về vai
trò của sách lược mở rộng mặt trận nhân dân thế giới nói riêng, của chiến lược đoàn
kết quốc tế nói chung, đồng thời đề cập đến nhiều sự kiện hoạt động, chỉ đạo của Hồ
Chí Minh trên lĩnh vực nghiên cứu.
Thêm vào đó là những công trình nghiên cứu trực tiếp về Hồ Chí Minh với
công tác đối ngoại và các cuốn sách phản ánh trực tiếp những tư tưởng, tiểu sử, sự
nghiệp của Người (giai đoạn từ 1954-1969) có liên quan tới đề tài nghiên cứu: Hồ Chí
Minh: Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, (Nxb. Sự thật, 1967); Hồ Chí Minh: Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công !, (Nxb. Sự thật,
1973); Hồ Chí Minh: Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc anh hùng, (Nxb. Sự thật,
1975); Hồ Chí Minh: Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản,
(Nxb. Sự Thật, 1978); Bộ sách: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, 10 tập (xuất bản 2008)

1972” của Irwin Unfer (1974) đã giới thiệu khái quát về phong trào đấu tranh của nhân
dân Mỹ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phản đối sự xâm lược của
chính phủ Mỹ.
Ngoài ra, còn phải kể đến những chuyên khảo trong mảng đề tài về Chiến tranh
Lạnh, một trong những bối cảnh quốc tế tác động rất lớn đến cuộc kháng chiến chống
Mỹ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Năm 2010, Cambridge University Press đã
tập hợp xuất bản những tư liệu quý về Cold War, trong đó, phải kể đến những bài tạp
chí liên quan tới lịch sử kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam của các học
giả: Thomas Perry Thornton, P. J. Honey, A. M. Halpern, King Chen, Jan S. Prybyla,
Kurt L. London, H. G. Nicholas, Jay Tao, W. E. Willmott, Michael Yahuda, Phan
Thien Chau, Jean Lacouture, King C.Chen…[206]. Những chuyên luận này xuất bản
trong thời điểm cuộc chiến tranh Việt Nam đang tiếp diễn, chính vì vậy, các học giả
tập trung vào quan điểm chiến lược và sách lược cách mạng của cả Việt Nam và Mỹ,
đồng thời cũng không bỏ qua sự đánh giá về những chính thể quốc tế có nhiều ít tác
động tới tình hình chiến sự trên chiến trường như Liên Xô hay Trung Quốc v.v… Từ
những nhìn nhận và đánh giá có tính thực chứng, dường như, kết cục của chiến sự đã
được dự báo trước trong một số nghiên cứu. Tính chính nghĩa của công cuộc kháng
chiến của nhân dân Việt Nam sẽ chiến thắng và những hành động xâm lược, leo thang
chiến tranh phi nghĩa của Mỹ dù có tới mức nào, nhất định cũng sẽ bị thất bại.
Khi chiến tranh đã kết thúc thì kết cục thắng-bại của cuộc chiến vẫn tiếp tục
được các thế hệ sử gia nghiên cứu với những chuyên luận của: Gareth Proter, Steve
6
Chan, Phillip B.Davidson, Ronald H. Spector, Jean Lacouture, Carlyle A. Thayer, Ilya
V.Gaiduk, Xiaoming Zhang, Ed.P.Lowe…[206]
Cũng phải kể thêm những nghiên cứu đạt kết quả trong những năm bắt đầu cho
một thế kỷ mới- thế kỷ XXI: Robert Scott: China, Russia and the United states
(Council On Foreign Relations, Inc, 2004); King C.Chen: Hanoi with Peking: Policies
and Relations- A Survey (University of California Press, 2007); Paul Ham: Vietnam:
The Australian war, (Nxb. Harper Collins, 2007); Mao Lin: China and the Escalation
of the Vietnam War The First Years of the Johnson Administration (The MIT Press,

công trình nghiên cứu của: Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc (Nxb. Sao
Mới Bắc Kinh, 1990) hay Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam ;
hoặc N.Bớt sét: Tam giác Trung Quốc-Campuchia-Việt Nam và Pitơ A.Pinlơ: Nước
Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986)…
Nhưng tựu chung lại, sự phản ánh của các công trình này về đề tài đang quan tâm vẫn
chưa đạt tới sự khái luận, toàn diện, mà chỉ đơn lẻ phản ánh phần nào những khía cạnh
riêng. Nhiều cách nhìn nhận vấn đề của các sử gia phương Tây còn có lúc chủ quan,
phiến diện.
Nhìn tổng thể lại lịch sử nghiên cứu của vấn đề phải khẳng định rằng các công
trình sử học trong và ngoài nước, khi tiến hành khai thác nhân tố đoàn kết quốc tế theo
tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đề cập đến những khía cạnh riêng lẻ, có thể xét trên tiêu chí
nào đó là tiêu biểu cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới cho cuộc cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Nhưng ngay cả khi đề cập về mặt trận nhân dân thế
giới, các công trình cũng chỉ đề cập chủ yếu, trọng tâm vào mặt trận nhân dân Mỹ đã
giúp đỡ, tác động tới tiến trình chiến tranh Việt Nam ra sao - phản ánh trong ngoại
diên của khái niệm “phong trào phản chiến”- mà chưa đề cập một cách khái quát, tổng
lược đến những sự ủng hộ của các thành phần khác trong mặt trận nhân dân thế giới
thực tế đã diễn ra trong lịch sử. Những công trình nghiên cứu này cũng chưa đề cập
đầy đủ, sâu sắc đến tư tưởng và những chỉ đạo, hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong quá trình xây dựng, mở rộng những ảnh hưởng tích cực của chiến lược
đoàn kết quốc tế.
Chính vì vậy, mặc dù là đề tài đã được nghiên cứu khá phổ biến, nhưng lại
thiếu một chuyên luận đề cập toàn diện và sâu sắc đến các chiều cạnh của vấn đề.
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của công trình này là nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những nội
dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), đồng thời phân tích, đánh giá vai trò, tác động
của tư tưởng và những hoạt động của Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành, phát
8

con người và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguồn sử liệu này sẽ được tổng hợp, xác định
mức độ tin cậy, và được sử dụng có chọn lọc trong nghiên cứu, luận văn.
9
Nhưng dù cố gắng thì việc tiếp xúc, thu thập sử liệu, tài liệu ở các phòng tư
liệu, thư viện, từ các nguồn mở trong và ngoài nước vẫn không thể đầy đủ, bởi vấn đề
nghiên cứu ở tầm vĩ mô, do vậy, chất lượng của nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những
hạn chế nhất định.
5. Giới hạn vấn đề và phương pháp nghiên cứu
5.1. Giới hạn vấn đề
Như tên của đề tài, chúng tôi nghiên cứu về những tư tưởng chỉ đạo hoạt động
đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1954-1975 để thực hiện đoàn
kết quốc tế, nội dung của chiến lược này và những đóng góp của nó trong lịch sử cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam.
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những sự kiện tiêu
biểu nhất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở tuân thủ phương pháp luận mác-xít
trong nghiên cứu lịch sử, bên cạnh việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
lô-gíc phù hợp với yêu cầu nghiên cứu từng vấn đề của đề tài, chúng tôi đồng thời sử
dụng phương pháp thống kê, so sánh theo lịch đại và đồng đại, kết hợp với phương
pháp nghiên cứu trong Hồ Chí Minh học nhằm làm sáng tỏ các luận điểm đưa ra lý
giải trong công trình.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của nghiên cứu
- Làm rõ những cơ sở hay nền tảng hình thành chiến lược đoàn kết quốc tế của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phân tích khoa học để rút ra kết luận: Yếu tố bên trong- chủ
quan hay bên ngoài- thuộc về khách quan đã có vai trò quyết định nổi bật tới chiến
lược đoàn kết quốc tế vào thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc
Việt Nam.
- Bằng các sự kiện lịch sử của diễn trình cuộc kháng chiến, của những sự kiện
tiêu biểu mà nhân dân thế giới ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, nghiên cứu làm rõ nội dung

như đã được kế thừa và phát huy hiệu quả để dân tộc Việt Nam “đánh cho Mỹ cút,
đánh cho Ngụy nhào”, thống nhất đất nước.
NỘI DUNG
Đối ngoại là quan hệ giữa chủ thể là một nhà nước, một quốc gia, dân tộc với
một chính thể hoặc nhiều chính thể, tổ chức giữ vai trò tương đương và quan hệ đối
ngoại thể hiện trên tổng hợp nhiều vấn đề: kinh tế, chính trị, văn hóa v.v Đối ngoại
có ngoại diên rộng hơn khái niệm ngoại giao. Hay nói cách khác, ngoại giao chính là
11
sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại đã được thể chế cho một đối tượng nhà nước, dân
tộc, tổ chức cụ thể, trong những điều kiện, bối cảnh cụ thể của lịch sử.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống các quan điểm về đấu tranh
ngoại giao, hoạt động ngoại giao và hợp tác phát triển, bao gồm cả đường lối chiến
lược, sách lược, phương pháp, nghệ thuật và phong cách Hồ Chí Minh
Đoàn kết quốc tế, theo đó, là một bộ phận quan trọng của đường lối đối ngoại
được thực hiện bởi một thể chế nhà nước. Đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
quốc tế là một bộ phận trong tư tưởng mang tầm chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết. Theo đó, Người đã đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ bộ
phận, biện chứng với phong trào cách mạng thế giới- đấu tranh cho hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cách mạng Việt Nam có quan hệ mật thiết với các
cuộc cách mạng phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên khắp hành tinh. Từ đó,
sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là sự tranh thủ, phát huy, vận dụng, kết hợp
giữa đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế trong tiến trình cách mạng đánh đổ ngoại
xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và góp phần giữ gìn hòa bình, bảo vệ
những giá trị nhân văn, nhân quyền của nhân loại.
Tư tưởng về đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành, phát triển
bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống dân tộc và văn hóa nhân loại, cùng
với đó là thực tiễn Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong tiến
trình của lịch sử dân tộc, chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được
hoàn thiện và đưa vào thực tiễn đấu tranh cách mạng với hiệu quả cao. Chính tư tưởng
về đoàn kết quốc tế đó đã tạo ra sức mạnh đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng

(10-1955) để bước đầu là phế truất Bảo Đại, sau đó tiến hành vận động bầu cử (3-
1956), lập ra Quốc hội bù nhìn, suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của Chính
phủ VNCH (10-1956). Việc Mỹ chủ mưu giật dây cho Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp
nghị Giơnevơ được thể hiện rõ ràng qua bức điện mật của Bộ trưởng Ngoại giao
Dulles, gửi đại diện cho Mỹ tại Giơnevơ là Walter Bedell Smith: “Vì chắc chắn là
tuyển cử thì cuối cùng có nghĩa là thống nhất nước Việt Nam dưới quyền ông Hồ Chí
Minh, nên điều quan trọng hơn hết là trì hoãn tuyển cử càng lâu càng tốt sau khi ký
hiệp định đình chiến là chỉ tuyển cử trong điều kiện không có sự đe dọa để tạo cho các
phần tử dân chủ có cơ hội tốt nhất”[134, tr.55]. Thực hiện mưu đồ xây dựng một
phòng tuyến chống cộng, tạo ra một “con đê ngăn làn sóng đỏ” ở khu vực Đông Nam
Á, Mỹ đã tập trung viện trợ kinh tế, quân sự, giúp Ngô Đình Diệm xây dựng đội quân
ngụy binh gồm nhiều sư đoàn chính quy, được trang bị vũ khí hiện đại.
13
Dựa vào sự ủng hộ của Washington, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành liên
tục các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, trong thời gian 5 năm (từ 1955 đến 1960) và đã
tàn sát dã man hàng chục ngàn cán bộ nhân dân miền Nam. Chỉ tính riêng từ tháng 7-
1955 đến tháng 2-1956, số đảng viên, cán bộ cách mạng bị Mỹ-Diệm bắt bớ lên tới
hơn 800.000 người, trong đó số người bị giết chết là 93.362 người [45, tr. 35]. Các nhà
tù, trại giam, trại tập trung chật ních những người vô tội, họ bị hành hạ đánh đập, bị
xâu dây thép qua tay rồi đem phơi nắng, hoặc bị buộc đá vào cổ ném xuống sông
Ngô Đình Diệm còn sử dụng cả cách giết nguời từ thời trung cổ, đưa máy chém đi
khắp miền Nam, chém giết những người cách mạng mà chúng gọi là “xử theo luật 10-
59”. Các vụ thảm sát tập thể ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Hướng Điền, Mỏ
Cày, vụ đầu độc hàng nghìn tù chính trị ở Phú Lợi v.v , là những tội ác tày trời bị cả
thế giới lên án.
Ngay khi đế quốc Mỹ tiến hành áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới vào miền
Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án sự can thiệp này của Mỹ đã làm cho
xã hội miền Nam hỗn loạn: các phe nhóm chống đối, tiêu diệt lẫn nhau làm cho nhiều
thường dân chết oan, nhiều nhà cửa, xóm làng bị thiêu cháy. Người đã vạch rõ âm
mưu, hành động xâm lược của đế quốc Mỹ không chỉ gây bao tại họa cho nhân dân

Như thế là Mỹ đã quyết bám lấy miền Nam Việt Nam và nhân dân Việt Nam
cũng quyết giải phóng miền Nam. Mỹ phải dốc toàn lực và dùng đủ mọi loại vũ khí
hy vọng giành thắng lợi. Việt Nam cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành độc
lập, tự do. Cuộc đấu tranh quyết liệt đó đã làm cho các mâu thuẫn của thời đại trở nên
gay gắt nhất ở Việt Nam. Do đó, cuộc đấu tranh giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc
Mỹ đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử.
Ngày 5-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “ Như vậy là ở Đông Nam
châu Á, chúng tôi- Việt Nam- đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà bình
toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh…”[100, tr. 9]. Nhận định của
Người ở vào thời điểm đó là một nhận định đúng đắn, khách quan. Bởi vì, cuộc chiến
tranh mà nhân dân Việt Nam, dù không muốn, đã bị xô đẩy tới chỗ buộc phải dốc hết
mọi nguồn lực vật chất và tinh thần, hy sinh hàng triệu mạng sống để vượt qua, để
bảo vệ được quyền sống trong độc lập, tự do, bảo vệ sự thống nhất và quyền tự quyết
của dân tộc mình. Do vậy, cuộc đối đầu giữa hai phe TBCN và XHCN diễn ra ở Việt
Nam không chỉ biểu hiện ở mức độ quyết liệt nhất, dưới hình thức tàn khốc nhất là
chiến tranh, mà còn là sự đối đầu phức tạp nhất, không chỉ về ý thức hệ hay sự lựa
chọn chế độ chính trị - xã hội, mà còn là sự đối đầu giữa ý chí độc lập, tự chủ, tự
quyết, tự do của dân tộc Việt Nam với âm mưu nô dịch, thống trị và chi phối của các
thế lực ngoại bang.
Như thế là Việt Nam bị tạm thời chia cắt và nằm trong số những nước bị chia
cắt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Đức. Hai
chế độ xã hội đối lập ở hai vùng của mỗi nước thể hiện mâu thuẫn cơ bản nhất của
15
thời đại: mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB. Các nước bị chia cắt là hình ảnh thu nhỏ
của cuộc đấu tranh trên thế giới sau Chiến tranh thế giới II. Tuy nhiên, ở Triều Tiên,
ở Đức, ở Trung Quốc không diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa hai thế lực
đối lập của thời đại như ở Việt Nam, bởi sự tác động chống chéo của các quan hệ
quốc tế đối với mỗi nước là khác nhau.
1.1.2. Những yếu tố quốc tế tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế
Tình hình thế giới kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhất là từ sau

đương đầu với sự bao vây, phá hoại về kinh tế của chủ nghĩa đế quốc mà còn góp phần
tích cực vào việc giúp đỡ các nước mới giành được độc lập. Do đó, xét về tương quan
lực lượng trên chính trường thì phong trào cách mạng thế giới đang chiếm ưu thế, nhất
là thành công của Liên Xô trên lĩnh vực hạt nhân vào năm 1947 đã phá vỡ thế độc
quyền vũ khí nguyên tử, sau đó là sự kiện Spútnhíc, năm 1957, với việc Liên Xô chinh
phục khoảng không vũ trụ đã gây mối lo ngại đặc biệt cho Mỹ, bởi nước Mỹ từ đây sẽ
không thể yên ổn, nếu một cuộc chiến tranh mới nổ ra.
Như vậy, với sự trưởng thành và lớn mạnh nhanh chóng, phe XHCN không
những là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là yếu tố căn bản ngăn đe
mưu toan áp đặt sự thống trị các dân tộc bằng chiến tranh xâm lược. Việc lập lại cân
bằng và có phần chiếm ưu thế về quân sự của phe XHCN còn làm đảo lộn chiến lược
toàn cầu của Mỹ, từ chiến lược “trả đũa ào ạt”, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược
“phản ứng linh hoạt” đầu năm 1960. Tất nhiên, còn một lý do khác nữa buộc Mỹ phải
có sự điều chỉnh về chiến lược, đó là sự bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc.
Cùng với sự tự khẳng định của hệ thống XHCN, sự phát triển của phong trào
giải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á-Phi-Mỹ Latinh đã làm tan rã từng mảng hệ
thống thuộc địa đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị và bắt đầu
cuộc đấu tranh thoát dần khỏi sự phụ thuộc vào kinh tế. Từ chiến thắng Điện Biên Phủ
của Việt Nam (1954) đến đầu những năm 60, đã có hàng chục nước noi gương Việt
Nam đứng lên phát động đấu tranh vũ trang và giành độc lập dân tộc. Ở Châu Phi đáng
chú ý có cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri (1954-1962), sự kiện kênh đào Xuyê
(1956), Cônggô chống Bỉ (1960), cách mạng Ănggôla (1-1961), Môzămbích chống Bồ
Đào Nha (5-1962) - năm 1960 được gọi là năm châu Phi. Ở Trung Đông, thắng lợi của
cuộc cách mạng Irắc (7-1958) làm tan vỡ khối quân sự CENTO do Anh - Mỹ dựng
lên. Đặc biệt sôi động là ở khu vực châu Mỹ Latinh, nơi mà lâu nay Mỹ coi là “sân
sau” là “ao nhà” thì hắng lợi của cách mạng Cuba (1959) lập nên nhà nước XHCN ở
Tây bán cầu, ngay sát cạnh Mỹ đã động viên, thúc đẩy phong trào đấu tranh vũ trang ở
các nước khác trong khu vực như Vênêduêla, Goatêmala, Nicaragoa, Côlômbia nổ ra
ngày càng mạnh mẽ. Điều đáng chú ý là, các dân tộc sau khi giành được độc lập, tuy
khuynh hướng phát triển xã hội có khác nhau, nhưng đều có điểm chung là định hướng

quốc nội không mấy thuận lợi. Trong quan hệ quốc tế thời điểm đó, Mỹ không chỉ lo
sợ nguy cơ cộng sản tràn như “làn sóng đỏ” mà còn lo ngại nguy cơ “cộng sản đoàn”,
ở đây là đoàn kết, cho nên đã rất coi trọng đối ngoại. Trong đó, các mũi ngoại giao
quan trọng nhất mà Mỹ nhằm vào là Liên Xô và Trung Quốc, hai địch thủ lớn nhất của
18
Mỹ, hai đồng minh chủ yếu của Việt Nam. Đối với Mỹ, nhiệm vụ ngoại giao với hai
nước này là kiềm chế, giữ chân hai nước không trực tiếp can thiệp vào chiến tranh, tác
động để hai nước giảm giúp Việt Nam, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai nước để làm suy
yếu “hậu phương quốc tế” của Việt Nam và khi cần thì vận dụng vai trò của hai nước
trong việc thực hiện các ý đồ của Mỹ.
Nhưng nói tới đoàn kết, bất phân trong phạm vi, quy mô vĩ mô hay vi mô của
một bối cảnh nhất định, người ta không thể không chú ý tới nội dung “cô đọng” nhất
của nó, đó là lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Quan hệ giữa các nước lớn trong công
cuộc kháng chiến chống Mỹ, ở phạm vi vươn tới của tư tưởng đoàn kết quốc tế của
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài phạm trù lợi ích này.
Liên Xô, Trung Quốc, hai đồng minh chiến lược của cách mạng Việt Nam cũng
có những tính toán nhất định trong vấn đề lợi ích dân tộc, hơn nữa, họ còn là những
nước lớn cho nên vấn đề lợi ích nước lớn, lợi ích “thủ lĩnh” là một trong những điều
kiện khách quan đối với sự nghiệp đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam. Chiến
tranh Lạnh chính là cuộc chiến tranh thể hiện rõ nhất quá trình đấu tranh về mặt lợi ích
dân tộc giữa các quốc gia, đóng vị thế là các cường quốc trên thế giới ở thời điểm này.
Mà biểu hiện là trong cả những tính toán ở tầm chiến lược hay sách lược của hai nước
thì Liên Xô muốn giữ Trung Quốc trong phạm vi khống chế của mình, còn Trung
Quốc cũng muốn tách khỏi “cái bóng” của Liên Xô, có vai trò độc lập, bình đẳng và
trở thành người lãnh đạo cách mạng thế giới. Từ đó dẫn đến xung đột giữa hai nước
lớn về chính trị, hợp tác, cho đến xung đột biên giới.
Trong vấn đề Việt Nam, hai nước này cũng có những tính toán khác nhau. Liên
Xô giúp Việt Nam vì vấn đề lợi ích chiến lược, kiềm chế làm suy yếu Mỹ, tạo điều
kiện để Liên Xô cân bằng chiến lược với Mỹ. Liên Xô cũng muốn qua việc giúp Việt
Nam để đề cao vị thế đứng đầu trong phong trào cách mạng thế giới của mình. Trong

trương và việc làm có tính chất chống nhau. Nói cách khác, đường lối chiến lược của
hai nước Xô-Trung đã đặt Việt Nam vào tình thế phải chịu sức ép rất lớn. Trong hoàn
cảnh vừa thiếu về thực lực, lại vừa có nhu cầu nhận viện trợ giúp đỡ toàn diện của cả
Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam phải xử lý “mối quan hệ tay ba” sao cho không có
sự biểu hiện thiên lệch. Nhất là khi mối quan hệ này thường xuyên bị tác động, chi
phối bởi một tác nhân có thế lực và đầy mưu mô là đế quốc Mỹ.
Trước tất cả những tác động trái chiều của quan hệ quốc tế thời điểm đó, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng chính sách từng nước, tìm ra
điểm còn khác nhau và những điểm tương đồng mà mẫu số chung lớn nhất là chống đế
quốc, bảo vệ an ninh, hòa bình, làm nghĩa vụ đối với đồng minh. Từ đó, dân tộc Việt
Nam đã vận dụng linh hoạt đường lối độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, tạm gác các
20
bất đồng, nắm chắc và phát huy “mẫu số chung” của tình đoàn kết để thực hiện công
cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhưng hệ thống các nước XHCN nói chung ở thời điểm này, mặc dù có cùng ý
thức hệ mà vị trí địa lý, địa chính trị khác nhau nhưng cũng đã có những suy tính khác
nhau về lợi ích chiến lược và chính sách trong vấn đề Việt Nam. Một số nước mới
giành được độc lập có khuynh hướng chính trị, xã hội khác, thậm chí trái ngược,
không ủng hộ Việt Nam mà còn đi theo Mỹ. Tình hình “ly tâm” cũng bắt đầu diễn ra
trong nội bộ ổn định, ở Ba Lan xảy ra sự kiện Pôdơnan (6-1956) làm chấn động dư
luận trong phe XHCN. Tháng 10-1956, đến lượt Hungari, những thế lực chống đối đã
lợi dụng những sai lầm của Đảng và Nhà nước để kích động nhân dân nổi dậy lật đổ
chính quyền. Phải hơn một tháng sau, với sự can thiệp trực tiếp của quân đội Liên Xô,
chính phủ Hunggari mới có thể kiểm soát được tình hình. Đó là những biểu hiện đầu
tiên về khủng hoảng chính trị nội bộ rất đáng lo ngại. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm
thực sự chính là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các nước XHCN với nhau, bởi nó là
nguyên nhân cơ bản làm suy yếu hệ thống XHCN.
Như thế, Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, một nước mạnh về tiềm lực, lại có
nhiều phương tiện và thủ đoạn ngoại giao để lôi kéo các nước về phía mình, đồng thời
lại dùng nhiều thủ đoạn tác động đến các đồng minh của Việt Nam, đặc biệt là lợi

chiếm khu vực đền Preah Vihear, gây căng thẳng về quân sự ở nhiều khu vực biên
giới. Lúc này, Campuchia đã phải tỏ rõ thái độ: tháng 2-1956, quốc vương Xihanúc
tuyên bố không gia nhập khối SEATO mà sẽ thi hành đường lối hòa bình trung lập
(tháng 9-1957, Quốc hội Campuchia thông qua đạo luật về hòa bình trung lập). Tình
thế đã bắt buộc Campuchia một mặt thắt chặt ngoại giao với Pháp, mặt khác phải mở
rộng quan hệ đối ngoại với Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc. Đây là nhân tố thuận
lợi cho Việt Nam và Đông Dương trong quá trình xúc tiến thành lập mặt trận đoàn kết
ba nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ.
Tình hình ở Lào sau năm 1954 cũng có nhiều diễn biến phức tạp. Được sự hậu
thuẫn của Mỹ, Kàtày lật đổ chính quyền của Thủ tướng Phuma và lên nắm quyền (10-
1954), xây dựng nên một chính quyền thân Mỹ. Bằng viện trợ và cố vấn, Mỹ nhanh
chóng gạt ảnh hưởng của Pháp khỏi Lào, từng bước áp đặt chế độ thực dân kiểu mới
và biến Lào thành một căn cứ quân sự lý tưởng giữa Trung Quốc và Việt Nam, “một
vị trí chiến lược như con dao găm vào Đông Nam Á” [125, tr. 11-13]. Nhưng do mâu
thuẫn nội bộ giữa các phe phái trong quốc hội và chính phủ, tháng 7-1956, chính phủ
của Kàtày bị đổ, thay vào đó là sự trở lại ghế thủ tướng của Hoàng thân Xuvana
Phuma.
Thi hành chính sách hòa bình, trung lập và hòa hợp dân tộc, chính phủ Phuma
tiến hành đàm phán với Pathét Lào, (tháng 10-1957 ở Viêng Chăn), ký Hiệp định đình
22
chiến và thành lập chính phủ liên hiệp có đại diện của Pathét Lào tham gia. Điều đó
làm Mỹ không hài lòng, vì vậy, tới tháng 7-1959, lực lượng thân Mỹ đã làm đảo chính
lật đổ chính phủ liên hiệp, bắt giam Hoàng thân Suphanuvông và nhiều lãnh tụ của
Pathét Lào, đưa Phủi Sananikon lên nắm quyền. Nhưng chính phủ này cũng tồn tại
không lâu, tháng 12-1959, Mỹ lại cho bọn tay sai làm đảo chính, thay thế Sananikon
bằng một nhân vật mới là Phumi Nôxavẳn, một phần tử chống cộng cực đoan hơn.
Trước sự đàn áp, bắt bớ của chính phủ cánh hữu tay sai Mỹ, các lực lượng yêu
nước và trung lập ở Lào đã có những phản kháng mạnh mẽ. Ngày 19-5-1959, tiểu
đoàn 2 Pathét Lào đã nổ súng chống lại các lực lượng phái hữu, vượt vòng vây. Ngày
23-5-1960, lực lượng hoạt động bí mật đã giải thoát Hoàng thân Suphanuvông cùng

trường quốc tế.
Tại Hội nghị BCHTƯ lần thứ 6 (khóa II), tháng 7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc một bản báo cáo quan trọng trong đó tập trung phân tích những thay đổi về tình
hình thế giới và trong nước đưa ra nhận định về kẻ thù mới và trực tiếp của nhân dân
Việt Nam là đế quốc Mỹ. Mặc dù có những biến động lớn trong quan hệ quốc tế,
Người khẳng định rằng: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, độc lập,
thống nhất, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì
linh hoạt”[27, tr. 8].
Vận dụng sự linh hoạt này và cụ thể hóa đường lối đối ngoại hòa bình của đất
nước, tại Hội nghị BCT tháng 9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày cụ thể hơn
chiến lược, sách lược trong chính sách ngoại giao của Nhà nước, đối với từng khu vực
và với từng đối tác. Người nhắc lại nguyên tắc chung là: “Xây dựng và phát triển quan
hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi,
tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau”[25, tr. 12]. Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh Việt
Nam phải dựa chủ yếu vào phe XHCN, bởi đây chính là lực lượng mà dân tộc Việt
Nam có thể tin cậy, trông chờ vào sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Đường lối ngoại giao có định hướng, có trọng tâm như thế, một mặt biểu thị sự
tôn trọng và khẳng định xu hướng gắn kết với phe XHCN của nhà nước VNDCCH,
mặt khác cho thấy sự đánh giá đúng đắn về vai trò của hai nước lớn Xô-Trung. Chủ
trương này được Hồ Chí Minh khẳng định lại trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-
1955): “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các
nước XHCN khác, thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạt
động quốc tế và đấu tranh ngoại giao”[25, tr. 23].
Thực hiện mục tiêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tính
toán, cân nhắc rất thận trọng tất cả những nhân tố chủ quan và khách quan để định ra
chủ trương, biện pháp cách mạng sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu cách mạng miền
24
Nam và bảo vệ được miền Bắc, vừa đoàn kết được đồng minh, nhất là Liên Xô, Trung
Quốc.
Thêm vào đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra những chia rẽ trong quan

25

Trích đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh với những hoạt động đối ngoại nêu cao chính nghĩa hòa bình, thực hiện đoàn kết quốc tế và vận động nhân dân thế giới ủng hộ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong những năm 1965- Cách mạng Việt Nam kế thừa và phát huy hiệu quả chiến lược đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1969-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status