Lời nói đầu
Ngày 15
tháng 4 năm 1992, Quốc hội nớc cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt
nam đã thông qua ban hành Hiến pháp nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(Hiến pháp 1992), để thay thế Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 thể hiện một sự
thay đổi toàn diện về chế độ kinh tế xã hội của nớc ta, thể hiện sự đổi mới về
đờng lối phát triển của Đảng và Nhà nớc. Trong đó chính sách kinh tế - đợc xác
định là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa,thừa nhận nhiều hình
thức sở hữu mới nh sỏ hữu t nhân,t bản ....đồng thời Hiến pháp 1992 cũng mở
rộng hơn quyền của các cá nhân, công dân trong lĩnh vực kinh tế, dân sự , dới sự
quản lý của Nhà nớc.
Thể chế hoá các qui định của Hiến pháp 1992, Quốc hội Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, ngày 28 tháng 10 năm 1995 đã thông qua Bộ luật
dân sự và Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01tháng 07 năm 1996. Đây là một bớc tiến
lớn của pháp luật nớc ta, là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy giao lu dân
sự , tạo môi trờng thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn phát
triển mới.
Một trong những quan hệ mà Pháp luật dân sự chú trọng điều chỉnh đó là
hợp đồng dân sự , đây cũng là vấn đề trọng tâm của pháp luật dân sự các nớc
khác trên thế giới. Bởi vì hợp đồng dân sự thể hiện rõ nét nhất các đặc trng cơ
bản của pháp luật dân sự . Trong bộ luật dân sự Việt nam, các quy định về hợp
đồng dân sự chiếm gần 1/2 tổng số điều (838 điều) của Bộ luật, bao gồm những
quy định chung về hợp đồngvà những quy định riêng về từng loại hợp đồng cụ
thể . Việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong quá trình đa Bộ luật dân sự vào đời sống xã hội, thúc đẩy
các giao lu dân sự ..... từ đó góp phần hoàn thiện hơn các quy định của Bộ luật
dân sự về hợp đồng .
Chế định hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự gồm hai phần :
Phần chung bao gồm các qui định, các nguyên tắc chung trong quá trình
bảo và giúp đỡ của các thầy cô và một số bạn bè, đặc biệt là sự chỉ bảo giúp đỡ
tận tình của thầy giáo Chu Đức Nhuận đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt thời
gian nghiên cứu đề tài. Vì thế tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ bảo của thầy
Chu Đức Nhuận và những góp ý chân thành của mọi ngòi đã giúp tôi hoàn thành
khoá luận này.
Chơng 1: khát quát chung về hợp đồng dân sự
1.1. Lợc sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật dân sự về hợp
đồng ở Việt Nam.
Nh n ớc và pháp luật là hai hiện tợng xã hội phức tạp và đa dạng, hai hiện
tợng này có cùng bản chất và gắn bó hết sức mật thiết với nhau. Những nguyên
nhân để hình thành Nh n ớc cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của
pháp luật. Pháp luật ra đời và là công cụ của Nh n ớc để thực hiện quyền lực của
mình. Nh n ớc ban hành pháp luật, đảm bảo cho pháp luật đợc thực hiện, và vì
vậy pháp luật luôn luôn phản ánh điều kiện kinh tế xã hội phản ánh lợi ích
của Nh n ớc đó. Bác Hồ đã từng nói Nh n ớc nào, pháp luật ấy. Từ đó cho
thấy việc tìm hiểu pháp luật không tách rời khỏi điều kiện kinh tế xã hội, là
cơ sở của sự tồn tại và phát triển của Nh n ớc, cũng nh sự tìm hiểu chính bản
thân Nh n ớc đó.
Thời đại Hùng Vơng An Dơng Vơng với sự phát triển rực rỡ của nền
văn minh Sông Hồng đã xuất hiện một hình thái Nh n ớc sơ khai. Trong thời kỳ
này qua nghiên cứu khảo cổ học cho thấy nền kinh tế cũng đã có bớc phát triển
nhất định ngoài sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề thủ công phát triển phong
phú nh: nghề dệt, nghề gốm, nghề mộc, chế tác đá, luyện kim.... cho nên các
hoạt động tổ chức sản xuất và trao đổi hàng hoá bớc đầu gia tăng. Tuy nhiên, với
sự khởi đầu nh vậy cho thấy pháp luật trong thời kỳ này cha có gì nhiều có lẽ
chủ yếu luật tục. Riêng trong lĩnh vực dân sự, tài liệu có rất ít để nghiên cứu, chủ
yếu dựa vào Tống sử và t liệu khảo cổ học để suy đoán. Tổ chức xã hội trong
thời kỳ này rất đơn giản chủ yếu là mối quan hệ giữa Nh n ớc với công xã nông
thôn. Toàn bộ đất đai nằm trong phạm vi công xã đều thuộc sở hữu của công xã,
ngời dân chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, vấn đề t hữu ruộng đất cha có và đây
là duy trì hiệu lực bằng lực lợng của chính quyền đô hộ.
Sau chiến thắng Bạch Đằng 938, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh
nớc từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu bằng sự hình thành và củng cố
chính quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này,
lĩnh vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy
có tài liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm
nhất. Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu
công xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời kỳ
Bắc thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân sự
đã có bớc phát triển mới. Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là việc
Nh n ớc tiến hành đúc tiền Thái bình thông báo năm 968. Lê Hoàn đúc tiền
Thiên phúc vào năm 984. Việc Nh n ớc đúc tiền ngoài ý nghĩa khẳng đ Sau
chiến thắng Bạch Đằng 938, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh n ớc từ thế
kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu bằng sự hình thành và củng cố chính
quyền độc lập tự chủ từ họ Khúc đến Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này, lĩnh
vực hình sự thể hiện hình bằng phạh hà khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy có tài
liệu đề cập, trong đó vấn đề sở hữu ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm nhất.
Chế độ sở hữu Nh n ớc với ruộng đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu công
xã về ruộng đất. Yếu tố t hữu về ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời kỳ Bắc
thuộc nhng chiếm một tỷ lệ nhỏ hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân sự đã có
bớc phát triển mới. Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là việc Nh
nớc tiến hành đúc tiền Thái bình thông báo năm 968. ịnh thiết chế quyền lực
nó cũng phản ánh nhu cầu giao lu hàng hoá mở rộng, kinh tế phát triển đòi hỏi
phải có tiền làm vật ngang giá chung trong quan hệ trao đổi hàng hoá. Sự xuât
hiện tiền tệ đã thúc đẩy sự phát triển giao lu dân sự, điều này chứng minh rằng
giao lu dân sự trong thời kỳ này có bớc phát triển về cả lợng và về chất. Tuy
nhiên hiện nay chúng ta không còn tài liệu ghi nhận điều này, nhng pháp luật
cũng chỉ phản ánh tồn tại khách quan của giao lu dân sự đang diễn ra mà thôi.
Tập quán vẫn đợc coi là công cụ chủ yếu để điều chính quan hệ dân sự và hôn
nhân gia đình.
triển mới. Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là việc Nh n ớc tiến
hành đúc tiền Thái bình thông báo năm 968. Lê Hoàn đúc tiền Thiên phúc
vào năm 984. Việc Nh n ớc đúc tiền ngoài ý nghĩa khẳng đ Sau chiến thắng
Bạch Đằng 938, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của Nh n ớc từ thế kỷ thứ X đến
thế kỷ thứ XIX. Bắt đầu bằng sự hình thành và củng cố chính quyền độc lập tự
chủ từ họ Khúc đến Ngô - Đinh- Tiền Lê. Thời kỳ này, lĩnh vực hình sự thể hiện
hình bằng phạh hà khắc. Nhng lĩnh vực dân sự ít thấy có tài liệu đề cập, trong đó
vấn đề sở hữu ruộng đất là một vấn đề đợc quan tâm nhất. Chế độ sở hữu Nh n -
ớc với ruộng đất đợc xác lập trên danh nghĩa sở hữu công xã về ruộng đất. Yếu
tố t hữu về ruộng đất có thể xuất hiện từ trong thời kỳ Bắc thuộc nhng chiếm một
tỷ lệ nhỏ hẹp không phổ biến. Trong giao lu dân sự đã có bớc phát triển mới.
Yếu tố để khẳng định và liên quan đến điều này là việc Nh n ớc tiến hành đúc
tiền Thái bình thông báo năm 968. ịnh thiết chế quyền lực nó cũng phản ánh
nhu cầu giao lu hàng hoá mở rộng, kinh tế phát triển đòi hỏi phải có tiền làm vật
ngang giá chung trong quan hệ trao đổi hàng hoá. Sự xuât hiện tiền tệ đã thúc
đẩy sự phát triển giao lu dân sự, điều này chứng minh rằng giao lu dân sự trong
thời kỳ này có bớc phát triển về cả lợng và về chất. Tuy nhiên hiện nay chúng ta
không còn tài liệu ghi nhận điều này, nhng pháp luật cũng chỉ phản ánh tồn tại
khách quan của giao lu dân sự đang diễn ra mà thôi. Tập quán vẫn đợc coi là
công cụ chủ yếu để điều chính quan hệ dân sự và hôn nhân gia đình.
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ XV là thời kỳ phát triển rực rỡ: thời kỳ Lý
Trần- Hồ. Cùng với việc củng cố chế độ và phát triển Nh n ớc phong kiến Trung
ơng tập quyền, chính sách xã hội và hoạt động lập pháp của Nh n ớc cũng phát
triển. Thời kỳ Lý Trần, xã hội phong kiến cũng có bớc phát triển nhất định về
kinh tế văn hóa góp phần ổn định cuộc sống của nhân dân. Pháp luật thời kỳ
này cũng có pháp luật thành văn. Đó là bộ hình th của triều Lý và triều Trần. Hai
bộ hình th đều bị nhà Tống cớp mất, nhng nội dung còn đợc thể hiện trong sử
sách. Với một nền kinh tế nông nghiệp lúa nớc, vấn đề ruộng đất là vấn đề
trọng yếu trong chính sách pháp luật của Nh n ớc phong kiến. Dới triều đại Lý
Trần ruộng đất vẫn thuộc sở hữu Nh n ớc. Chế độ t hữu ruộng đất đã phát
chúc th văn khế, nếu là giấy tờ về ruộng đất, vay mợn, thì ngời làm chứng in tay
ở ba dòng trớc, ngời bán in tay ở bốn dòng sau. Cũng chính dới triều Trần Thái
Tông, Nh n ớc phong kiến đã thực hiện một việc hiếm có về mặt này là tự đứng
ra đem ruộng công (quan điền) bán cho dân làm của t với giá 5-10 quan/mẫu.
Thời kỳ này chắc là có sự tranh chấp liên quan đến sự dịch chuyển đất đai nên
mới có đạo dụ quy định hình thức, thủ tục rõ ràng vậy. Vấn đề hiệu lực hợp đồng
cũng đợc quy định chặt chẽ: Nếu ruộng đất đã bán đứt, không đợc đòi chuộc
lại, nếu cố tình đòi chuộc lại thì bị phạt 80 trợng. Quy định có tính chất hình sự
nhằm ổn định giao lu dân sự, sử dụng trách nhiệm hình sự bảo vệ quan hệ dân sự
là nét đặc trng, điển hình của pháp luật phong kiến Việt Nam và pháp luật phong
kiến Trung Quốc.
Các quan hệ khác nh vay mợn, cầm cố cũng đợc pháp luật thời Lý Trần
quy định cụ thể về hình thức và nội dung. Đặc biệt vấn đề thời hạn, đợc ghi nhận
cụ thể. Chiếu chỉ 1237 quy định hạn cầm ruộng là 20 năm, quá 20 năm ngời cầm
ruộng không có quyền lấy lại, việc cầm ruộng phải làm văn khế. Quan hệ vay nợ
quy định rõ Nếu con nợ không trả đợc nợ sẽ bắt giam cho đến khi có tiền
chuộc, nếu không có tiền chuộc, thì phải làm nô tỳ để trả nợ.
Năm 1400 nhà Hồ cớp ngôi nhà Trần, triều Hồ đã thực hiện nhiều chính
sách cải tạo táo bạo về kinh tế và chính trị, với chính sách Hạn điền vào năm
1397 và Hạn nô 1401 đợc ban hành đã hạn chế thế lực qúy tộc nhà Trần. Đây
là chính sách làm tiền đề để nhà Lê xóa bỏ chế độ điền trang thái ấp của giai cấp
địa chủ phong kiến quý tộc.
Có thể nói từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ XV xã hội Việt Nam đã có bớc phát
triển nhất định, chính quyền Nh n ớc phong kiến trung ơng tập quyền đợc củng
cố và phát triển vững chắc, tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế. Trong
hoàn cảnh đó quan hệ giao lu kinh tế có cơ sở để đợc Nh n ớc lu tâm và có
những văn bản pháp luật, thành văn quy định, mặc dù chỉ chú trọng nhiều đến
quan hệ có liên quan đến ruộng đất. Với một nớc nông nghiệp thì ruộng đất là t
liệu sản xuất chủ yếu là nền tảng của chế độ kinh tế, vì vậy chế độ sở hữu ruộng
đất chính là cơ sở để tìm hiểu vấn đề cơ bản của luật dân sự, để đánh giá chiều h-
trong giao lu dân sự. Quan điểm thể hiện trong bộ luật Hồng Đức rất tiến bộ, nó
không phải là bộ luật hớng nho với t tởng tam tòng, tứ đức nh pháp luật nhà
Minh, nhà Đờng, bộ luật Hồng Đức cho phép con cái có quyền tài sản riêng mặc
dù vẫn đang chung sống cùng cha mẹ. Thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa vợ
chồng về tài sản, đây thực sự là điều khó hình dung trong các triều đại phong
kiến mà nho giáo vốn là t tởng chính thống trị Quốc. Các quan hệ trong lĩnh vực
hợp đồng đợc quy định đầy đủ và chi tiết hơn pháp luật của triều đại trớc. Cùng
với việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của giao lu dân c thì những điều kiện
bảo đảm hiệu lực của khế ớc (hợp đồng) cũng đã đợc thể hiện trong các quy định
của pháp luật, đặc biệt vi phạm nguyên tắc ng thuận (hà tỳ).
Điều 187 luật Hông Đức quy định: Trong các chợ ở kinh thành, thôn quê
những mua bán không theo đúng cân, thớc, thăng, đấu chính thức mà sửa đổi sai
theo ý riêng để mua bán thì bị phạt tội đồ hay tội biếm (giáng hạ). Theo điều
190 Bộ luật Hồng Đức đoạn cuối Ngời dùng thăng, đấu, cân, thớc để mua bán
lấy lời riêng thì tội cũng những tội trộm. Quan hệ hợp đồng chỉ đợc coi là hợp
pháp khi những tham gia thực sự bình đẳng tự nguyện, điều 355 bộ luật Hồng
Đức Ngời nào ức hiếp mua ruộng đất của ngời, thì phải giáng hạ hai bậc, nhng
cho lấy lại tiền. Điều này cũng thể hiện một điểm tiến bộ trong dân sự là sự
khôi phục tình trạng ban đầu cho các bên khi hợp đồng bị vô hiệu. Hay trong
điều 638 bộ luật Hồng Đức quy định. Những ngời có chức quyền mà nhiễu
sách vay mợn của cải đồ vật của dân trong hạt thì khép vào tội uổng pháp (lạm
dụng pháp luật) phải hoàn lại vật cho chủ, nếu đem của cải đồ vật của mình cho
dân vay mợn để lấy lời nhiều thì cũng phải tội nh vậy, những của cải đồ vật phải
tịch thu sung công.
Ngoài ra tính hợp pháp trong quan hệ hợp đồng cũng còn thể hiện ở những
quy định có nội dung bảo vệ lợi ích chung của Nh n ớc nh việc bán ruộng đất,
nô tỳ, voi, ngựa cho ngời nớc ngoài bị khép vào tội chém (điều 73, 74 bộ luật
Hồng Đức).
Trong quan hệ cho vay luật cũng quy định mức lãi suất nhất định đảm bảo
công bằng trong giao lu dân sự, điều 587 bộ luật Hồng Đức, dự liệu: cho dù vay
miền: Đàng trong- Đàng ngoài, lấy sông Gianh làm giới tuyến.
Năm 1527 Mạc Đăng Dung phế truất nhà Lê lập ra Triều Mạc (1527-
2592) Triều Mạc tồn tại trong một thời gian ngắn, nhng nhìn về góc độ pháp luật
đã ban hành bộ Thiên Chính Th. Trong đó vấn đề giao lu dân sự lại có những
điểm tiến bộ so với luật Hồng Đức. Mạc Đăng Dung cho đúc tiền mới. Cải cách
đặc biệt của Mạc Đăng Dung trong lĩnh vực dân sự là điều chỉnh quan hệ dân sự
bằng biện pháp dân sự. Nội dung chủ yếu của các quy định pháp luật đã phản
ánh đợc tính chất bình đẳng, ngang giá trong giao lu dân sự thông qua việc quy
định những hình phạt tiền nhiều hơn là các biện pháp hình sự và đó chính là
điểm tiến bộ trong pháp luật về HĐDS.
Từ những năm 40 của thế kỷ XVI, khi vua Lê chúa Trịnh nắm quyền ở
đàng ngoài, thì pháp luật dân sự không có gì tiến triển. Thời kỳ này chủ yếu áp
dụng luật lệ triều Lê. Vấn đề hơng ớc làng xã nổi lên và rất phát triển. Trong xã
hội vừa tồn tại Phép nớc vừa tồn tại Lệ làng không thể dẹp đợc. Theo đánh
giá của C. Mác về vấn đề này thì Đây là con đẻ của nền pháp luật thiếu hoàn
chỉnh, những quy tắc cộng đồng này đợc xuất hiện để duy trì trật tự chung của
cộng đồng đó.
ở Đàng trong chúa Nguyễn cũng vẫn sử dụng pháp luật của nhà Lê. Sau
khi nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn đánh bại thì nền kinh tế nớc nhà bớc vào giai
đoạn trì trệ với chính sách kinh tế ức thơng lạc hậu, với chế độ thuế khóa nặng
nề làm cho quan hệ giao lu hàng hoá kém phát triển. Nền kinh tế bị kìm hãm
bằng nhiều chính sách pháp luật lạc hậu trong đó có đạo dụ 1834 ra lệnh cấm
họp chợ ở nhiều nơi. Quan hệ buôn bán thông thơng với nớc ngoài bị bóp nghẹt
bởi chính sách Bế quan tỏa cảng. Có thể đánh giá chung cho thời kỳ này là
pháp luật dân sự kém phát triển do ảnh hởng của chính sách kinh tế lạc hậu.
Trong thời kỳ này sản phẩm lập pháp cao nhất là bộ Hoàng Việt luật lệ do
chính Gia Long phê chuẩn vào năm 1815 còn đợc gọi là luật Gia Long. Trong đó
vấn đề HĐDS đợc quy định rất hạn chế. Tuy nhiên có một số vấn đề cơ bản về
hợp đồng đợc ghi nhận ở một số điều luật cụ thể; Ví dụ nh quy định về điều kiện
vô hiệu của khế ớc tại điều 87 luật Gia Long về Đạo mại điền sản. Tức là
kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là các yếu tố phong tục tập quán,
thuần phong mỹ tục của ngời Việt Nam.
Sau khi đất nớc giành đợc độc lập, ngày 10/10/1945 Hồ Chủ Tịch đã ký
sắc lệnh số 90/SL về việc tạm thời sử dụng luật lệ hiện hành ở Việt Nam cho đến
khi ban hành luật mới. Ngày 22/5/1950 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 97/SL đã nêu
ra những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật dân sự ở
Việt Nam. Từ đó đến nay Nh n ớc đã ban hành rất nhiều văn bản pháp quy để
điều chỉnh quan hệ dân sự, chế định hợp đồng dân sự đã đợc đúc kết xây dựng
thành pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991. Ngoài ra còn rất nhiều văn bản pháp
luật khác điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự chuyên biệt nh Pháp lệnh nhà ở.
Qua một quá trình soạn thảo lâu dài cho đến ngày 9/11/1995 Nh n ớc đã công
bố ban hành Bộ luật dân sự (viết tắt là : BLDS), việc ban hành BLDS đã đánh dấu
một bớc phát triển mới về pháp luật dân sự, đã pháp điển hóa toàn bộ các quy
định trớc đây trong lĩnh vực dân sự đa vào bộ luật một cách có hệ thống. Chế
định hợp đồng dân sự chiếm một vị trí xứng đáng trong bộ luật. Ngoài những
vấn đề đợc quy định mang tính chất nguyên lý chung trong phần giao dịch dân
sự, thì phần thứ ba của bộ luật: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, đã đợc
quy định chi tiết, cụ thể từ điều 285 điều 633 BLDS.
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của pháp luật dân sự nói chung
và chế định HĐDS nói riêng chúng ta thấy rằng chế định HĐDS đã có một
truyền thống và quá trình phát triển lâu dài. Tuy rằng t liệu lịch sử về pháp luật
nói chung và pháp luật dân sự nói riêng trong thời kỳ đầu dựng nớc, thời kỳ 1000
năm bắc thuộc, thời kỳ Lý Trần Hồ không có nhiều nhng có thể thấy rằng,
trớc đó các quan hệ giao lu chủ yếu đợc điều chỉnh bằng tập quán đã tồn tại lâu
đời. Nhng quy định pháp luật thành văn đã hình thành nhng còn rất hạn chế. Khi
bắt đầu thời kỳ xây dựng Nh n ớc phong kiến trung ơng tập quyền, nền kinh tế
ổn địnn và có những bớc phát triển nhất định đòi hỏi có những quy phạm pháp
luật cụ thể chặt chẽ về hình thức, thủ tục, thời hạn cho những giao dịch về ruộng
đất. Đây là cơ sở khách quan tạo ra một bớc phát triển nhất định của pháp luật
thành văn trong lĩnh vực giao lu dân sự.
các lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Tóm lại hợp đồng dân sự là một loại quan hệ pháp luật dân sự đợc xây
dựng trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên tham gia nhằm thoả mãn nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng.Trên cơ sở sự thoả thuận này các bên đã thiết lập quyền và
nghĩa vụ tơng ứng ràng buộc lẫn nhau.
Nghiên cứu hợp đồng dân sự, vấn đề cần xem xét tới chính là bản chất
pháp lý của hợp đồng.
Ngay trong pháp lệnh dân sự năm 1991 và Bộ luật dân sự năm 1995 đều
ghi nhận hợp đồng dân sự là sự thoả thuận của các bên tham gia nhằm xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên.
Nh vậy sự thoả thuận là nền tảng để hình thành quan hệ hợp đồng. Điều
này có nghĩa rằng sự thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng là rất quan trọng.
Việc giao kết hợp đồng phải dựa trên ý chí thực của các chủ thể không thể tồn tại
sự áp đặt hay ép buộc thể hiện ý chí. ý chí của mỗi bên đợc xây dựng trên cơ sở
nhu cầu, nguyện vọng của chủ thể. Đây là tiền đề khách quan hình thành quan
hệ trao đổi. Sau khi hình thành ý chí chủ quan thì phải biểu lộ ý chí dới những
hình thức cụ thể nh ngôn ngữ hay hành động. Qua sự biểu lộ khách quan này các
bên nhận thức đợc mong muốn yêu cầu của nhau trên cơ sở đó sẽ thiết lập hợp
đồng.
Tự nguyện trong thoả thuận giao kết hợp đồng là một trong những điều
kiện đảm bảo cho hợp đồng dân sự có hiệu lực (Điều 131 BLDS). Sự thoả thuận
thống nhất ý chí giữa các chủ thể là tiền đề hình thành hợp đồng và yếu tố có ảnh
hởng đến hiệu lực của hợp đồng .
Sự quy định của pháp luật về hợp đồng cần đợc xem xét khi tìm hiểu bản
chất pháp lý của hợp đồng .
Nh trên đã nói viêc hình thành hợp đồng tức là đã xác lập quyền và nghĩa
vụ ràng buộc các bên tham gia cho dù nó đợc giao kết dới hình thức nào đi
chăng nữa. Điều này có ý nghĩa rằng: Mọi cam kết thoả thuận hợp pháp có hiệu
lực bắt buộc thực hiện đối với các bên. Đây là nguyên tắc chung đợc quy định
tại điều 7 BLDS và cũng là bản chất pháp lý của hợp đồng.
Sự khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế là các vấn đề đợc
các nhà nghiên cứu và xây dựng luật quan tâm và bàn luận. Hiện nay Nh n ớc
đã ban hành BLDS và đang xây dựng dự thảo các văn bản pháp luật trong lĩnh
vực kinh tế. Việc phân định này vẫn đang có ý nghĩa thực tiễn trong xây dựng
pháp luật kinh tế nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh doanh trong một nền kinh tế
thị trờng đang bắt đầu sôi động trên đất nớc ta. Xét về hệ thống luật thực định
đang điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thì thuật ngữ này đang sử dụng ở nớc ta gọi
là luật kinh tế, và việc tồn tại, phát triển của ngành luật kinh tế có nguyên nhân
lịch sử của nó.
Trong một khoảng thời gian dài nền kinh tế nớc ta đợc quản lý theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung mang nặng tính vật chất, trong đó quan hệ hàng tiền
trì trệ kém phát triển. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sự trao đổi phân
phối đợc kế hoạch hóa một cách chi tiết và tập trung, cứng nhắc đã làm mất đi
tính năng động vốn có của nền kinh tế. ở đó các quan hệ kinh tế chủ yếu đợc
thiết lập theo chiều dọc và kế hoạch hóa tất yếu đợc xem là công cụ quan trọng
nhất để quản lý nền kinh tế quốc dân. Có quan hệ ngang giữa các đơn vị bị xem
nhẹ và hình thức pháp lý của chúng là hợp đồng kinh tế bị biến thành công cụ
của kế hoạch hóa Nh n ớc, mất đi thuộc tính bình đẳng, tự nguyện vốn là đặc tr-
ng bản chất của quan hệ hợp đồng. Với quan niệm Nh n ớc XHCN vừa trực tiếp
hoạt động kinh tế vừa lãnh đạo các hoạt động đó thông qua các cơ quân kinh tế
của mình. Nh n ớc ta chủ trơng xây dựng một ngành luật kinh tế độc lập nằm
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Chính trong điều kiện cơ chế kinh tế tập
trung quan liêu đó, hợp đồng kinh tế đã mất đi giá trị đích thực của mình với tích
cách là hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh tế, bởi sự áp đặt ý chí
chủ quan lên các quan hệ kinh tế khách quan. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI
Nh n ớc ta chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá với nhiều thành phần kinh
tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nh n ớc theo định hớng
XHCN. Nh vậy, nớc ta đã xây dựng nền kinh tế thị trờng từ một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung cao độ; tính chất của nền kinh tế thị trờng hoàn toàn đối lập
với nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp và đối lập với cơ chế cấp phát giao
t nớc ngoài cũng phải có những điều kiện nhất định do pháp luật quy định về chủ
thể, quyền sử dụng đất... Sự thỏa thuận trong quan hệ kinh tế xét về bản chất
cũng không hoàn toàn giống sự thỏa thuận trong dân sự và có sự điều tiết của
Nh n ớc trong một số nớc. Tất nhiên sự can thiệp của cơ quan Nh n ớc có thẩm
quyền nh vậy không làm mất đi tính tự nguyện thoa thuận trong quan hệ kinh tế.
Một vấn đề khác nh vấn đề sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ
hợp đồng không thể xem xét yếu tố quyết định chi phối sự bình đẳng đó chính là
quyền sở hữu của chủ thể đối với đối tợng trao đổi. Lẽ tất nhiên chủ sở hữu mới
có quyền bán những gì mình có. Nh vậy quyền sở hữu với ba nội dung chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt đợc thể hiện rất rõ trong sở hữu của cá nhân là chủ thể
chủ yếu của luật dân sự. Trái lại trong quan hệ kinh tế, có những chủ thể mà
quyền năng đối với tài sản khó xác định đợc rõ ràng, bởi tài sản đó không phải
của chính nó mà do chủ thể khác giao cho quản lý sử dụng (chẳng hạn nh doanh
nghiệp Nh n ớc). Trên cơ sở những quy định của luật thực định đó là pháp lệnh
hợp đồng kinh tế năm 1989 và chế định hợp đồng dân sự quy định trong BLDS
cho thấy sự phân biệt hợp đồng kinh tế hợp đồng dân sự còn có thể dựa trên
một số tiêu chí sau: Đó là chủ thể, đại diện của chủ thể khi giao kết hợp đồng,
hình thức hợp đồng, mục đích hợp đồng.
Trớc hết xét về vấn vấn đề đại diện theo pháp luật. Trong BLDS (điều
150) quy định phạm vi rất rộng ngời đại diện theo pháp luật của chủ thể hợp
đồng dân sự, chứ không chỉ giới hạn ở ngời đợc quy định trong pháp lệnh hợp
đồng kinh tế (điều 11 BLDS) cho phép ngời đợc ủy quyền có thể ủy quyền lại
cho ngời thứ ba nếu đợc ngời ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định (điều
588 BLDS). Trái lại, trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế không cho phép ngời đợc
ủy quyền đợc ủy quyền lại cho ngời thứ ba (điều 9) và chế định ủy quyền không
đợc áp dụng khi ký kết hợp đồng kinh tế bằng tài liệu giao dịch hoặc khi ký kết
những loại hợp đồng kinh tế mà pháp luật quy định phải đăng ký (điều 7 nghị
định 17/HĐBT ngày 16/1/1990).
Những sự khác nhau giữa HĐDS và HĐKT xét về mặt pháp lý chủ yếu
dựa vào yếu tố chủ thể trong quan hệ hợp đồng. Theo các điều 2,42,43 pháp lệnh
cách độc lập các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình dẫn đến một thực tế
hiện có thuật ngữ Pháp nhân kinh tế. Do đó xuất hiện cách hiểu: Có loại pháp
nhân dân sự và có loại pháp nhân kinh tế riêng. Điều này cần có một nhận thức
thống nhất, khoa học. Do sự phân công lao động xã hội, Nh n ớc thành lập các
cơ quan, đơn vị, tổ chức và giao cho chúng một chức năng, nhiệm vụ riêng, mỗi
tổ chức, đơn vị, cơ quan chỉ đợc phép hoạt động và chủ động thực hiện chức
năng nhiệm vụ của mình trong phạm vi Nh n ớc quy định. Vì vậy, việc quy định
điều kiện một tổ chức trở thành pháp nhân cần đợc ghi nhận một cách thống
nhất, tức là chỉ có quy định chung về pháp nhân cho mọi lĩnh vực hoạt động xã