Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua - Pdf 67


1
Đề tài: Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều hành lãi suất ở
Việt Nam trong thời gian qua.
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều phạm trù kinh tế tài chính, trong đó tín
dụng và lãi suất tín dụng là một trong những phạm trù quan trọng. Như chúng ta đã
biết, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ trong nền kinh
tế. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của cá nhân, doanh
nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tín dụng và lãi suất, thấy rõ tầm
quan trọng của lãi suất, từ đó vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam cho thấy lãi suất biến
động và được điều hành dưới hình thức các chính sách lãi suất trong từng thời kỳ.
Chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc
gia, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiếm chế lạm phát, lãi suất được sử dụng
linh hoạt sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Ngược lại lãi suất được giữ cố định
có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng sang thời kỳ khác, có thể nó trở thành vật
cản cho sự phát triển kinh tế.
Với tầm quan trọng như vậy của sự biến động lãi suất, chúng tôi đã lựa chọn
phân tích đề tài: “Tìm hiểu sự biến động lãi suất tín dụng thông qua cơ chế điều
hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua”
2
Phần 1. Cơ sở lí luận về lãi suất tín dụng
1.1 Những vấn đề chung về tín dụng
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của tín dụng.
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền. Quan hệ tín dụng đầu tiên và thô
sơ nhất phát sinh ngay từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã là tín dụng nặng lãi.
Khi đó xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và có hiện
tượng phân hóa giàu nghèo. Những người đứng đầu các thị tộc, bộ lạc chiếm được
nhiều tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng. Trong khi đó, đại bộ phận các gia đình

- Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (người cho vay) chu
cấp tiền hay hàng hóa dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (người
đi vay)
- Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị
dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một
thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
- Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và
bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một
thời gian nhất định, theo thỏa thuận bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng
- Tín dụng mang tính chất hoàn trả.
- Trong quan hệ tín dụng có sự tách rời giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở
hữu vốn. Thực tế, nó chỉ thay đổi quyền sử dụng vốn tín dụng chứ không thay đổi
quyền sở hữu vốn tín dụng. Quyền sở hữu nguồn tài chính vẫn thuộc về người cho vay
và quyền sử dụng thuộc về người đi vay.
- Lợi tức tín dụng là loại giá cả đặc biệt, thông thường, giá cả là biểu hiện bằng
tiền của giá trị, lợi tức tín dụng là biểu hiện giá trị sử dụng trong một khoảng thời gian
nhất định.
4
- Thời hạn tín dụng được xác định do thỏa thuận giữa người cho vay và người đi
vay. Người sở hữu vốn được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức.
1.1.4 Phân loại tín dụng
a. Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng
+ Tín dụng hàng hoá: Đối tượng là hàng hoá, thể hiện qua quan hệ mua bán chịu
hàng hoá (mua nợ)
+ Tín dụng tiền tệ
b. Căn cứ vào chủ thể cấp tín dụng
+ Tín dụng thương mại ( Tín dụng hàng hoá): là quan hệ tín dụng phát sinh giữa
các doanh nghiệp, biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu.

dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn
được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương.
f. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
+ Tín dụng sản xuất: Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể
kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng.
1.1.5 Vai trò của tín dụng
a. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh không
những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất,
cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất và lưu
thông hàng hóa.
Trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế, tín dụng đã góp phần đẩy
nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ giữa
sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội. Chính vì vậy, tín dụng đã làm cho lưu
thông hàng hoá được mở rộng.
6
Như vậy, tín dụng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và làm lưu thông hàng hóa
phát triển nhanh chóng, đó là điều không thể phủ nhận.
b. Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi ngân
sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách
kinh tế - xã hội.
Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, nhà
nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn
vốn tín dụng. Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước sử dụng tín dụng để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối
tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa. Như vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ

trả cho người gửi ( lãi suất có thời hạn > không có thời hạn)
+ Lãi suất cho vay: Là mức lãi suất người cho vay phải trả cho ngân hàng cho
việc sử dụng vốn vay của ngân hàng
b. Phân loại theo giá trị thực
+ Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất mà người cho vay được hưởng khi không
tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ
+ Lãi suất thực tế: Là mức lãi suất mà người cho vay được hưởng sau khi loại
trừ sự biến động của giá trị tiền tệ (VN: lâm vào lãi suất thực âm)
+ Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lam phát
c. Phân loại theo tiêu thức quản lý vĩ mô của nhà nước
+ Lãi suất trần: cao nhất quy định với việc cho vay của các ngân hàng
+ Lãi suất sàn: Thấp nhất quy định với mức lãi suất huy động
+ Lãi suất cơ bản: NHTW đưa ra để định hướng sự thay đổi của mức lãi suất
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng
a. Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường:
8
Đường cung tiền biểu thị NHTW muốn giữ cung tiền tệ ổn định. Khi NHTW
muốn kiềm chế lạm phát sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ lãi
suất.
LS tăng, mức đầu tư giảm, mức cầu tiền tệ giảm các nhà doanh nghiệp và các
gia đình sẽ giảm lượng tiền gửi vào tài khoản của họ.
Ngược lại, khi NHTW lo sắp có nguy cơ suy thoái, sẽ tăng mức cung cầu tiền tệ
bằng việc bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. LS có xu
hướng giảm xuống.
b. Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng
thêm quy mô về cầu quỹ cho vay. Bởi với LS danh nghĩa cho trước khi lạm phát dự
tính tăng lên chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống kích thích người ta đi vay dẫn
đến LS tăng
c. Chính sách vĩ mô của nhà nước

Phần 2. Thực trạng về sự biến động lãi suất tín dụng ở Việt Nam
2.1 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua
2.1.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương
thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1988)
Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng
nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới. Dẫn đến lãi suất
thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không
thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm
phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.
2.1.2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị
trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước
(từ năm 1988 đến 2006)
Nội dung cơ bản của Nghị định 53/HĐBT chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng
một cấp và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng
các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực
hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương
mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế.
Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy
những bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế.
Quá trình tự do hóa lãi suất của Việt Nam được thể hiện tổng quát như sau:
a. Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định (1989 - 5/1992):
Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên
tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các
11
doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến
động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị
trường tiền tệ quốc tế. Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status