Công tác huy động nguồn vốn có chi thấp hơn là biện pháp cơ bản nhằm hạ thấp lãi suất cho vay tại Vietinbank Ninh Bình - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh
nghiệp nào, vốn đều được xem là yếu tố không thể thiếu, không có vốn thì
không hoạt động kinh doanh được, khi có vốn rồi thì điều đầu tiên mà doanh
nghiệp phải đối phó là làm thế nào để có được lợi nhuận, sử dụng như thế
nào để đồng vốn có hiệu quả, đây mới là sự quan tâm lớn nhất của các doanh
nghiệp.
Đối với một nền kinh tế mới vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đầu
của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá như nước ta hiện nay, việc sử
dụng vốn là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo và của các doanh nghiệp. Do
đó, đi tìm lời giải về việc sử dụng vốn hay nói cách khác là các giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là vấn đề mang tính thời
sự và thiết thực đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực thương mại vận tải,
Công ty Thương mại vận tải Trường Giang đương nhiên không nằm ngoài
xu thế này. Trong quá trình thực tập tại Công ty Thương mại vân tải Trường
Giang, được sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giao hướng dẫn
cũng như các cán bộ trong Công ty, em đã bước đầu được làm quen với thực
tế, nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vận dụng
lý luận vào thực tiễn và từ thực tiễn làm sáng tỏ hơn những lý luận được
nghiên cứu trong nhà trường. Qua đó, em đã chú trọng đi sâu nghiên cứu đề
tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Thương mại vận tải
Trường Giang” – một trong những vấn đề, mà theo em, có ảnh hưởng trực
1
tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị
trường quốc tế.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm ba chương:
Chương I: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty thương mại

xuất. Định nghĩa của Mác có tầm khái quát lớn, tuy nhiên trong bối cảnh lúc
đó khi mà nền kinh tế chưa phát triển, Mác quan niệm chỉ có khu vực sản
xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Và tiền chỉ được gọi là vốn
khi được dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mục
đích là lợi nhuận. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản trị và sử dụng
vốn, nhưng quan điểm này lại mang tính trừu tượng, do đó hạn chế ý nghĩa
nhất là đối với các vấn đề như hạch toán, phân tích tình hình quản trị và sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
3
Theo Paul-Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển
đã kế thừa quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và chia
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra làm ba loại :đất đai, lao động và
vốn. Theo ông, vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình
sản xuất mới, là đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp. Khái niệm này không đề cập đến các loại tài sản khác, các
giấy tờ có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó cũng
không phản ánh đầy đủ mặt tài chính của vốn.
Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có
cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chi cho các
chững khoán của công ty. Quan điểm này đã đề cập đến mặt tài chính của
vốn, khuyến khích các nhà đầu tư tăng cường đầu tư, mở rộng và phát triển
sản xuất. Song nó có hạn chế là không nói rõ nội dung và trạng thái của vốn
trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiểu theo nghĩa rộng, một số quan điểm lại cho rằng vốn bao gồm
toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài
sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh
nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản trị và tác nghiệp của cán
bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp,
các lợi thế về cạnh tranh như vị trí, uy tín của doanh nghiệp trên thương
trường... Quan điểm này có ý nghĩa rộng trong việc khai thác đầy đủ mọi

Từ các vấn đề trên, có thể định nghĩa: Vốn là một phần thu nhập quốc
dân dưới dạng tài sản vật chất hay tài sản tài chính được các cá nhân, tổ
chức, các doanh nghiệp bỏ ra, đẩu tư phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm tối
đa hoá lợi nhuận.
5
b. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh với bất kỳ quy mô nào
cũng cần có một lượng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời
và phát triển của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên doanh
nghiệp phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng
lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng
loại doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập.
Ngược lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thành lập được. Trường
hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt
điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt
động như phá sản, giải thể, sát nhập… Như vậy vốn có thể được xem là một
trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân
của một doanh nghiệp trước pháp luật.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vón không những
đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để
phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất diễn
ra thường xuyên liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và xác lập vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Điều
này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp không ngừng phải cải thiện máy móc
thiết bị, đầu tư hiện đại hoá công nghệ… tất cả những yếu tố này muốn đạt
được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.

- Vốn góp do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng để thành lập hoặc
mở rộng kinh doanh và được sử dụng vào mục đích kinh doanh. Số
vốn này có thể được bổ sung, tăng thêm hoặc rút bớt trong quá
trình kinh doanh.
- Lợi nhuận chưa phân phối (lãi lưu giữ): đây là kết quả của toàn bộ
hoạt động kinh doanh. Số lợi nhuận này trong khi chưa phân phối
được sử dụng cho kinh doanh và coi như một nguồn vốn chủ sở
hữu.
- Vốn chủ sở hữu khác: là số vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ lợi
nhuận để lại ( các quỹ doanh nghiệp, các khoản dự trữ theo điều lệ,
dự trữ theo luật định…) hoặc các loại vốn khác (xây dựng cơ bản,
chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, nguồn
kinh phí…)
b. Vốn nợ
Vốn nợ là khoản vốn đầu tư ngoài vốn chủ sở hữu được hình thành
từ nguồn vốn đi vay, đi chiếm dụng của các cá nhân, đơn vị tổ chức
trong và ngoài nước và sau một thời gian nhất định,doanh nghiệp phải trả
cho người cho vay cả gốc lẫn lãi.Phần vốn này,doanh nghiệp được sử
dụng với những điều kiện nhất định(Như thời hạn sử dụng,lãi suất,thế
chấp,..)nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vốn nợ luôn
được ưu tiên chi trả trước vốn chủ sở hưũ trong bất cứ hoàn cảnh nào đặc
8
biệt doanh nghiệp khó khăn về tài chính. Doanh nghiệp càng sử dụng vốn
vay càng nhiều thì độ rủi ro càng cao nhưng để phục vụ sản xuất kinh
doanh thì đây là nguồn vốn rất lớn tùy thuộc vào khả năng thế chấp, tình
hình sản xuất kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp.
Vốn nợ của doanh nghiệp gồm hai loại:
Nợ ngắn hạn: là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong
vòng một chu kì hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một
năm. Các khoản nợ này được trang trải bằng tài sản lưu động hoặc bằng

doanh tương ứng.
-VCĐ được luân chuyển dần từng phần khi tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh. TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu
nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần và kéo theo giá trị tài
sản đó cũng bị giảm đi. Theo đó, VCĐ cũng được tách làm hai phần:
+Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình
thức khấu hao TSCĐ. Tức là trong quá trình sử dụng và bảo quản, TSCĐ
bị hao mòn. Bộ phận giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn mà
nó được chuyển dịch dần dần vào giá trị sản phẩm, gọi là khấu hao
TSCĐ.
+ Phần còn lại của VCĐ được “cố định” trong TSCĐ. Việc quản
trị VCĐ và TSCĐ trên thực tế là một công việc rất phức tạp. Để giảm nhẹ
khối lượng quản trị, về kế toán tài chính người ta có những quy định
thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng một
TSCĐ. Hiện nay, ở nước ta một tư liệu lao động là TSCĐ phải đồng thời
10
thoả mãn hai điều kiện: Giá trị tối thiểu từ 10 triệu đồng Việt nam và thời
hạn sử dụng ít nhất là 1 năm.
Để quản trị VCĐ hiệu quả, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VCĐ.
* Cơ cấu của vốn cố định
Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ
cấu vốn là một chỉ tiêu động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều
nhân tố như: khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút
vốn đầu tư, phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang
bị kỹ thuật, quy mô sản xuất. Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý
nghĩa quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu
vốn cố định phải nghiên cứu trên hai góc độ là: nội dung kế hoạch và
quan hệ mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được
một cơ cấu hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh

vốn sẽ gặp nhiểu khó khăn và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay
gián đoạn. Để quản trị VLĐ tốt, cần nghiên cứu kết cấu và phân loại VLĐ.
* Cơ cấu vốn lưu động
Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số
VLĐ. ở những doanh nghiệp khác nhau, kết cấu vốn lưu động không giống
nhau. Xác định được cơ cấu VLĐ hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả VLĐ.
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VLĐ thì cần thiết phảI tiến hành phân
loại vốn khác nhau.
12
*Phân loại VLĐ
+Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động người
ta chia vốn là ba loại:
- Vốn dự trữ: Là một bộ phận dùng để mua nguyên liệu, phụ tùng
thay thế.... dự trữ và đưa vào sản xuất.
- Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai
đoạn sản xuất.
- Vốn trong lưu thông: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai
đoạn lưu thông như thành phẩm, vốn tiền mặt...
+ Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn thành:
- VLĐ định mưc: là số VLĐ cần thiết tối thiểu thường xuyên trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: vốn dự trữ,
vốn trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho
tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến.
- VLĐ không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính định
mức được.
+ Căn cứ và nguồn hình thành:
- VLĐ tự có: là số vốn doanh nghiệp được Nhà nước cấp, VLĐ từ
bổ sung lợi nhuận, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn...

Trong đó : K:Là kết quả đạt được
C:hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả.
14
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng
của hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động
không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào
qui mô, tốc độ biến động của từng nhân tố.
Hiệu quả kinh doanh cũng là một phạm trù phức tạp, và khó xác định
tính toán bởi cả phạm trù kết qủa và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ
cụ thể đều khó xác định một cách chính xác.
Từ các vấn đề trên suy ra hiệu quả sử dụng vốn là một bộ phận của
hiệu quả kinh doanh, nó phản ánh trình độ lợi dụng nguồn vốn của doanh
nghiệp nhằm mục tiêu xác định. Hiệu quả sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh
mối quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với số vốn bình quân đầu tư cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
đinh.
Và hai loại chỉ tiêu trên được xem xét với yếu tố đầu vào là vốn cố
định và vốn lưu động.
* Bản chất hiệu quả sử dụng vốn
Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử
dụng vốn nói riêng, cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù kết quả và
hiệu quả sử dụng vốn.
Kết quả sử dụng vốn bao giờ cũng là mục tiêu mà doanh nghiệp
hướng tới, có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật cụ thể như m, lít, kg....hay
đơn vị giá trị như triệu đồng, ngoại tệ....Kết quả sử dụng vốn cũng có thể
phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn định
tính của doanh nghiệp như uy tín, danh tiếng, chất lượng sản phẩm....Nhưng
không chỉ có kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kỳ kinh

chi phí kinh doanh tới từng bộ phận hay không còn phụ thuộc vào trình độ
phát triển của khoa học quản trị chi phí kinh doanh.
Cũng cần chú ý rằng hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ lợi dụng
nguồn lực vốn trong một thời kỳ kinh doanh nào đó cũng hoàn toàn khác với
việc so sánh sự tăng lên của kết quả với sự tăng lên của sự tham gia các yếu
tố đầu vào.
Vậy, bản chất của pham trù kết quả và hiệu quả sử dụng vốn là hoàn
toàn khác nhau. Kết quả là mục tiêu còn hiệu quả sử dụng vốn là phương
tiện để doanh nghiệp đạt mục tiêu đó trong một thời kỳ nhất đinh.

*Mục đích phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích
thông tin giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn,
kịp thời .
- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý
- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn
đề sử dụng vốn.
- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả cụ thể đến từng
bộ phận và xem xét, phát hiện ra những nguyên nhân để tìm ra
những biện pháp khắc phục.
Tuy nhiên để phân tích hiệu quả sử dụng vốn là đúng, xác thực và phát
huy được những mục đích trên thì cần quán triệt một số nhiệm vụ sau:
+Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ cả hai nguồn; từ bên
trong như các báo cáo tài chính, báo cáo thực hiện kế hoạch, tài liệu về định
mức...của doanh nghiệp và nguồn thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp như
17
báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng
ngành, tài liệu thống kê các vấn đề có liên quan của ngành.
+Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp.
+Sử dụng các phương pháp đánh giá kết hợp với các chỉ tiêu đã xây

nghiệp càng tiết kiệm được VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao.
n Hiệu suất sử dụng VCĐ = Lợi nhuận thuần/VCĐ bình quân
+ Ý nghĩa: Hiệu suất sử dụng VCĐ cho biết cứ đầu tư một đồng
VCĐ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao.
t Suất hao phí của VCĐ =VCĐ bình quân/ lợi nhuận thuần
+ Ý nghĩa: Suất hao phí cho biết để tạo được một đồng lợi
nhuận thuần thì doanh nghiệp phảI bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào sản
xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng tiết
kiệm được VCĐ nên hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao.
1.2.2.3.Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Các chỉ tiêu đánh gía hiệu sử dụng VLĐ thường được sử dụng là:
C Số vòng quay của VLĐ =doanh thu thuần/VLĐ bình quân
+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết VLĐ của doanh nghiệp quay
được bao nhiêu vòng trong kỳ sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng
19
cao, chứng tỏ VLĐ trong kỳ càng quay vòng nhanh nên hiệu quả sử dụng
VLĐ càng cao.
V Mức đảm nhiệm của VLĐ =VLĐ bình quân/ doanh thu thuần.
+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết để tạo được một đồng doanh
thu thuần doanh nghiệp phảI bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ để đầu tư vào
sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ doanh nghiệp càng
tiết kiệm được VLĐ, do đó hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
t Số ngày bình quân của một vòng luân chuyển VLĐ =365/số
vòng quay của VLĐ
+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để VLĐ quay
được một vòng quay. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ VLĐ càng quay
vòng nhanh và hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
v Hiệu suất sử dụng VLĐ = lợi nhuận thuần/ VLĐ bình quân
+ Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ đầu tư một đồng VLĐ vào

đó giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh. Hơn nữa máy móc thiết bị dùng
21
để sản xuất ra những sản phẩm này có giá tị không quá lớn, do vậy doanh
nghiệp có điều kiện đổi mới. Ngược lại nếu sản phẩm có vòng đời dài, có
giá trị lớn như ô tô- xe máy… việc thu hồi vốn sẽ mau hơn.
- Trình độ tổ chức kinh doanh:
Đây cũng là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất của doanh nghiệp phải trải qua
ba giai đoạn là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ.
Cung ứng là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho quá trình
sản xuất như nguyên vật liệu, lao động nó bao gồm hoạt động mua và dự
trữ. Một doanh nghiệp tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tức là
doanh nghiệp đó đã xác định được lượng lao động cần thiết và doanh
nghiệp đã biết kết họp tối ưu các yếu tố đó. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu
quả kinh doanh thì chất lượng hàng hoá đầu vào phải đảm bảo, chi phí
mua hàng giảm đến mức tối ưu. Còn mục tiêu của dự trữ là đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, không bị bỏ lỡ cơ hội
kinh doanh nên để đồng vốn có hiệu quả thì phải xác định mức dự trữ
hợp lý để tránh trường hợp dự trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng vốn và tăng
chi phí bảo quản.
Khâu sản xuất (đối với các doanh nghiệp thương mại không có
khâu này). Trong giai đoạn này phải xắp xếp dây chuyền sản xuất cũng
như công nhân sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả nhất khai
22
thác tối đa công suất, thời gian làm việc của máy đảm bảo kế hoạch sản
xuất sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp phải xác định giá bán tối ưu đồng
thời phải có những biện pháp thích ứng để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
nhanh chóng. Khâu này quyết định đến doanh thu, là cơ sở để doanh

- Yếu tố thị trường:
Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớn tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu thị trường sản phẩm ổn định thì sẽ là tác
nhân tích cực thúc đẩy cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và mở
rộng thị trường. Nếu sản phẩm mang tính thời vụ thì sẽ ảnh hưởng tới
24
doanh thu, quản lý sử dụng máy móc thiết bị và tác động tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp
- Môi trường sản xuất:
Môi trường tự nhiên: có tác động không nhỏ đến công việc sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các điều kiện về khí hậu, tài nguyên
thiên nhiên, sự ổn định cuả thời tiết, thiên tai lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp
đến công việc sản xuất sản phẩm, bảo quản sản phẩm, bảo trì thiết bị máy
móc phục vụ quá trình sản xuất. Yếu tố mùa vụ cũng tác động lớn đến kế
hoạch sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Môi trường xã hội: các phong tục tập quán ảnh hưởng đến cả
quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thói quen tiêu dùng của các tầng
lớp xã hội cũng tác động đến công việc sản xuất của doanh nghiệp.
- Chính sách phát triển kinh tế của nhà nước:
Các chính sách phát triển kinh tế và của chính phủ có tác động
lớn đến công việc sản xuất kinh doanh của công ty. Sự ổn định của
đường lối phát triển tạo lên sự ổn định và yên tâm cho việc kinh doanh
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Hành lang pháp lý và chính sách thúê của chính phủ có ảnh
hưởng trực tiếp đến vịêc sản xuất kinh doanh và kế hoạch sản xuất của
doanh nghiệp.
-Tiến bộ khoa học kĩ thuật:
Tiến bộ của khoa học kỹ thuật có tác động rất lớn đến chất
lượng của sản phẩm nhưng cũng gây sức ép cho doanh nghiệp trong việc
đổi mới trang thiết bị máy móc trang thiết bị sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status