---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬT DÂN SỰ MODEL2 - BÀI TẬP HỌC KÌ
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hàng ngày
một yếu tố không thể thiếu được là phải có giao lưu dân sự, đó là sự chuyển giao tài
sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với người
khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhân khác.
Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các
bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đó. Sự
thỏa thuận đó gọi là hợp đồng.
Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng
ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và
bảo vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của nhà nước, trong đó có các quy
định về hình thức và nội dung của hợp đồng. Với mục đích đi sâu tìm hiểu về các
quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của hợp đồng dân sự, em xin lựa
chọn đề tài: “ Hình thức và nội dung của hợp đồng dân sự theo qui định của pháp
luật hiện hành – Nhận thức và kiến nghị ”.
Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn
đề còn hạn chế nên bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất
mong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô cũng như các bạn để bài
làm của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
NGUYỄN VĂN HẢI : N05 – TL4 – NHÓM 1
1
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬT DÂN SỰ MODEL2 - BÀI TẬP HỌC KÌ
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬT DÂN SỰ MODEL2 - BÀI TẬP HỌC KÌ
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải
chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên.
Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,
thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không
được trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cân
nhắc, thảo luận. Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắt buộc phải
được nhất trí hoàn toàn) được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ
một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể
hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải
được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay
tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã
cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên. Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ
được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay
được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết hay hợp đồng thành văn. Tuỳ theo từng
trường hợp được gọi là hợp đồng hay hiệp định; vd. hiệp định mua bán, hợp đồng
đại lí.
Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự
thống nhất về mặt ý chí. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp
đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của luật
dân sự so với các ngành luật khác.
Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng
dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp
lý song phương hay đa phương. Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều
phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp
luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải
đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…).
bên đã cùng nhau thống nhất cam kết. Tuy thuộc vào nội dung, tính chất của từng
hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn
một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường
hợp cụ thể.
Để đảm bảo được tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau
trong hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng, chế định hợp đồng trong Bộ luật
NGUYỄN VĂN HẢI : N05 – TL4 – NHÓM 1
4
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬT DÂN SỰ MODEL2 - BÀI TẬP HỌC KÌ
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Dân sự 2005 được xây dựng theo hướng là nền tảng chung cho pháp luật về hợp
đồng, có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợp đồng trong mọi lĩnh vực.
Về hình thức hợp đồng, Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 quy định :
“1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải
được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải
tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp có quy định khác.
Và tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ
thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu
được coi là giao dịch bằng văn bản".
Vì hợp đồng cũng là một loại giao dịch dân sự, nên theo các quy định nêu trên
có thể thấy, hình thức của hợp đồng bao gồm các loại sau: bằng lời nói, bằng văn
bản, bằng hành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử). Như vậy, so
Đối với những hợp đồng có giá trị quá nhỏ ( ví dụ: mua mớ rau, bao diêm, mượn cái
bút chì,…) thì các bên không có cách nào khác ngoài cách áp dụng hình thức miệng,
nếu áp dụng các hình thức khác sẽ có thể tạo nên những chi phí quá lớn, mà giá trị
hợp đồng quá nhỏ nên các chi phí đó làm cho việc ký kết hợp đồng trở nên vô nghĩa.
Thứ ba, hình thức miệng được áp dụng đối với những hợp đồng mà có thể
được thực hiện và chấm dứt ngay sau khi giao kết. Ví dụ như đa số các hợp đồng
bán lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng. Sau khi thỏa thuận miệng xong về
giá cả, số lượng và chất lượng …thì hai bên thực hiện ngay thỏa thuận đó ( bên bán
cân đong và bàn giao hàng, bên mua nhận lấy hàng và trả tiền ). Đến đây hợp đồng
coi như đã thực hiện xong và chấm dứt.
- Hình thức văn bản
NGUYỄN VĂN HẢI : N05 – TL4 – NHÓM 1
6
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬT DÂN SỰ MODEL2 - BÀI TẬP HỌC KÌ
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Các bên có thể ký kết hợp đồng dưới hình thức cùng nhau lập một văn bản
viết. Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hình thức hợp
đồng miệng. Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung đã thỏa thuận,
cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Văn bản hợp đồng thường được soạn thành hai
hay nhiều bản gốc giông nhau, đều phải có chữ ký của các bên, mỗi bên được giữ
một bản. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu
cầu của mình đối với bên kia. Các trường hợp cơ bản áp dụng hình thức văn bản này
là :
+) Đối với những hợp đồng có giá trị lớn.
+) Đối với những hợp đồng mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng
có thể diễn ra trong một thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết (ví dụ :
hợp đồng gia công xây dựng nhà…)
+) Khi giữa các bên chưa đật được sự tin cậy nhất định.
Đối với riêng dạng hợp đồng bằng văn bản thì Điều 401 khoản 2 Bộ luật dân
Thông qua mạng Internet, các doanh nghiệp ở các địa phương khác nhau, ở các quốc
gia khác nhau có thể nhanh chóng tìm kiếm được bạn hàng để thiết lập mối quan hệ
làm ăn, mở rộng thị trường. Với chiếc máy tính nối mạng Internet, ngồi ở nhà chúng
ta có thể dạo quanh thị trường một cách thoải mái vào bất cứ thời điểm nào trong
ngày. Khi cần mua một món hàng, chúng ta chỉ cần liên lạc với cửa hàng qua hệ
thống mạng, sau đó sẽ có người mang món hàng đó đến tận nơi theo yêu cầu. Sự
phát triển mạnh mẽ của giao dịch điện tử kéo theo sự ra đời một hình thức hợp đồng
mới: hợp đồng điện tử- hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử.
2.2. Nội dung của hợp đồng dân sự
Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham
gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định những quyền và
nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng.
Để nhận biết được một hợp đồng và để pháp luật công nhận hợp đồng đó thì
các bên phải thoải thuận được với nhau về một số nội dung quan trọng nhất định.
Vấn đề đặt ra là: Liệu các bên thỏa thuận đến đâu thì hợp đồng coi như được hình
thành (được coi là giao kết) ? Pháp luật không thể quy định cứng nhắc rằng mỗi hợp
đồng có bao nhiêu điều khoản. Điều đó phụ thuộc vào tính chất của từng hợp đồng
NGUYỄN VĂN HẢI : N05 – TL4 – NHÓM 1
8