A. LỜI MỞ ĐẦU
Văn bản pháp luật là sản phẩm quyền lực của các cơ quan nhà
nuớc, là phương tiện, công cụ hữu hiệu nhất để nhà nuớc quản lí xã
hội. Do vậy, chất lượng của văn bản pháp luật vừa phản ánh hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nuớc vừa cho thấy mức độ hoàn
thiện của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên cũng như các sản phẩm xã
hội khác, văn bản pháp luật cũng không tránh khỏi những khiếm
khuyết nhất định. Nhưng xác định đó là một điều tất yếu không có
nghĩa là để những văn bản pháp luật khiếm khuyết tiếp tục tồn tại mà
cần phải có biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, ngay bản thân các quy
định của pháp luật về các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm
khuyết, trong đó nổi bật là 2 biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ cũng còn
nhiều tồn tại và bất cập khiến cho việc áp dụng gặp nhiều khó khăn,
vuớng mắc. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta cùng nghiên
cứu đề tài: “biện pháp hủy bỏ và biện pháp bãi bỏ văn bản pháp luật
theo quy định của pháp luật hiện hành, nhận xét và kiến nghị”.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung về văn bản pháp luật khiếm khuyết và các
biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết:
1. Văn bản pháp luật khiếm khuyết:
Văn bản pháp luật (VBPL) đuợc hiểu là những văn bản đuợc ban
hành bởi những chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa
đựng các quy phạm pháp luật thể hiện ý chí nhà nuớc để điều chỉnh
các quan hệ xã hội nhằm đạt đuợc mục tiêu quản lí và đuợc Nhà
nuớc bảo đảm thực hiện. Văn bản pháp luật gồm 3 nhóm văn bản:
văn bản quy phạm pháp luât, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản
hành chính.
Vì nhiều lí do khác nhau mà trong hệ thống pháp luật nước ta
hiện nay còn tồn tại nhiều VBPL khiếm khuyết. Đó là những văn bản
“còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” (Từ điển Tiếng Việt, Nxb văn hóa
1
• Đối tượng áp dụng: Đây là biện pháp xử lí được áp dụng đối
với VBPL bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng
pháp luật và văn bản hành chính có dấu hiệu vi phạm pháp luật
nghiêm trọng.
• Trường hợp áp dụng: Theo Điều 29 Nghị định 40/2010/ NĐ-
CP về kiểm tra và xử lí văn bản quy phạm pháp luật thì: “hình thức
hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong
trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái
thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù
hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành”.
Như vậy, việc hủy bỏ VBPL thường áp dụng trong trường hợp
văn bản đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: nội dung của VBPL
bất hợp pháp; ban hành văn bản trái thẩm quyền nội dung; sai phạm
về thủ tục ban hành dẫn đến làm mất cơ sở pháp lí của việc giải
quyết công việc phát sinh...
Ví dụ: Ngày 31/12/2007, Bộ Nội vụ đã ra quyết định số1460/QĐ-
BNV hủy bỏ quyết định số 09/2007/QĐ-BNV về việc ban hành tiêu
chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức ngành thể dục thể thao do có
những quy định không phù hợp với pháp luật hiện hành.
• Hậu quả pháp lý: văn bản pháp luật bị hủy bỏ sẽ bị hết hiệu
lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản đó được quy định là có hiệu
lực pháp lí. Như vậy, biện pháp này phủ nhận hoàn toàn giá trị pháp
lí của văn bản bị hủy bỏ ở mọi thời điểm mặc dù trên thực tế, trước
khi bị hủy nó đã từng có hiệu lực và đã được thi hành. Đối với cơ
quan, cá nhân, đối tuợng liên quan đến việc ban hành và thực hiện
văn bản pháp luật bị hủy bỏ đó thì phải khôi phục lại tình trạng ban
đầu như trước khi ban hành văn bỏ đó.
Ngoài ra, đối với văn bản bị hủy bỏ là văn bản áp dụng pháp luật
thì phát sinh một hậu quả pháp lí quan trọng đó là trách nhiệm bồi
3
cần thiết tồn tại trong thực tiễn nữa...
• Chủ thể có thẩm quyền bãi bỏ VBPL khiếm khuyết: Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan nhà
nước đối với VBPL khiếm khuyết do chính mình ban hành. Các loại
văn bản của các cơ quan nhà nước cụ thể là đối tượng bị bãi bỏ của
các chủ thể nêu trên được trình bày cụ thể trong các văn bản pháp
luật đã kể ở mục trên.
• Hậu quả pháp lý: VBPL bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật kể
từ thời điểm văn bản xử lí nó có hiệu lực pháp luật. Tức là, pháp luật
vẫn công nhận giá trị pháp lí của văn bản bị bãi bỏ từ thời điểm ban
hành cho đến thời điểm bị tuyên bố bãi bỏ. Vậy nên, những chủ thể,
đối tượng liên quan đến việc ban hành và triển khai thực hiện văn
bản đó đều được coi là hợp pháp. Do đó, biện pháp bãi bỏ không
phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành
văn bản pháp luật khiếm khuyết đó.
>>> Tóm lại: Biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ VBPL được coi là những
biện pháp nghiêm khắc nhất để xử lí VBPL khiếm khuyết. Chúng là 2
khái niệm pháp lí hoàn tòan khác nhau và việc áp dụng chúng mang
lại những hậu quả pháp lí khác nhau nhưng do thiếu việc quy định
một cách rõ ràng, cụ thể của pháp luật về vấn đề này nên trong thực
tế áp dụng, ranh giới giữa hủy bỏ và bãi bỏ VBPL rất mong manh,
không rạch ròi. Do vậy, việc cần thiết phải phân biệt 2 biện pháp xử lí
này vô cùng cần thiết trong cả lý luận và thực tiễn.
3. Phân biệt biện pháp hủy bỏ và biện pháp bãi bỏ văn bản pháp
luật khiếm khuyết:
Hủy bỏ và bãi bỏ VBPL khiếm khuyết nhìn chung đều hướng đến
mục đích chấm dứt hiệu lực của VBPL áp dụng các biện pháp đó.
Thêm nữa công việc đó đều do cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
5