A. MỞ ĐẦU
Trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng, việc phát hành các giấy tờ có
giá ra đời muộn hơn so với hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
(TCTD). Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là
giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói
chung và tổ chức tín dụng nói riêng. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì
hoạt động phát hành giấy tờ có giá của Các TCTD được quy định tại Quyết
định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 ban hành Quy chế phát hành
giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng và Thông tư số 16/ 2009/TT-
NHNN ngày 11 tháng 8 năm 2009 sửa đổi bổ sung một số điều quy chế phát
hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD ban hành kèm theo quyết định số
số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân
hang nhà nước.
Có thể nói, các quy định trong hai văn bản trên đã được kế thừa được
những quy định hợp lí từ các văn bản pháp lí đã ban hành, hơn nữa hai văn
bản này còn có sự thay đổi bổ sung cho phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế
của đất nước nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng trong xu thế hội
nhập và phát triển của thế giới.
Trong bài viết của mình em sẽ cố gắng đi vào tìm hiểu chế độ pháp lí về
hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD theo pháp luật hiện hành ở
Việt Nam. Qua đó có thể đưa ra những đánh giá nhận xét về các quy định
hiện hành của pháp luật về hoạt động phát hành giấy tờ có giá.
Do thời gian tìm hiểu, và vốn kiến thức có hạn, vì thế bài viết này của em
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung và ngôn ngữ chuyên
ngành. Vì vậy, em mong được sự đánh giá của các thầy cô để bài viết của
em thêm phần hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
B/ NỘI DUNG
I/ Khái quát chung về giấy tờ có giá
1/ Một số khái niệm
Vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng chủ yếu là nguồn vốn huy động
mua giấy tờ có giá bao gồm: tổ chức, cá nhân Việt Nam; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư theo
quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm các tổ chức cá nhân hoạt động ở
Việt Nam và không họat động tại Việt Nam. Tuy nhiên đối với người mua
giấy tờ có giá là tổ chức, cá nhân nước ngoài, TCTD chỉ được phép phát
hành giấy tờ có giá ghi danh. Và tỷ lệ sở hữu giấy tờ có giá của tổ chức cá
nhân nước ngoài không hoạt động tại việt Nam trong lần phát hành sơ cấp
tuân theo quy định của NHNN và các văn bản có liên quan trong từng thời
kì.
Bản chất giấy tờ có giá cũng là một loại chứng khoán ghi nợ và việc các
tổ chức tín dụng được phép phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn
một cách công khai trong dân chúng nên khi nó được chào bán ra công
chúng
thì phải tuân theo các quy định hiện hành về chứng khoán và thị trường
chứng khoán cùng các văn bản có liên quan. Việc chào bán này phải được
đăng kí theo hướng dẫn của Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà nước.
Pháp luật ngân hàng còn quy định cụ thể về các yếu tố của giấy tờ có giá,
theo đó bất kì một tổ chức tín dụng nào phát hành giấy tờ có giá đều phải có
các yếu tố sau:
- Tên tổ chức tín dụng phát hành.
- Tên gọi giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn
hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu...).
- Mệnh giá.
- Thời hạn.
- Ngày phát hành.
- Ngày đến hạn thanh toán.
- Lãi suất; Phương thức trả lãi; Thời điểm, địa điểm trả lãi.
- Địa điểm thanh toán tiền gốc giấy tờ có giá
- Ghi rõ là giấy tờ có giá ghi danh hoặc vô danh.
Trường hợp là giấy tờ có giá ghi danh ghi rõ: Tên tổ chức, số giấy
- Về lãi suất của giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành. Theo đó lãi
suất của giấy tờ có giá quy định và phù hợp với lãi suất thị trường, đảm bảo
hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động cho TCTD. Lãi suất của giấy tờ có
giá có thể là lãi suất cố định hoặc lãi suất có điều chỉnh.
+ Lãi suất cố định là lãi suất không thay đổi được áp dụng suốt thời hạn
của giấy tờ có giá.
+ Lãi suất có điều chỉnh định kì là lãi suất tthay đổi định kì theo thị
trường do TCTD thỏa thuận với người mua khi phát hành.
-Việc trả lãi cũng có thể được thực hiện theo nhiều cách, cụ thể như: Trả
lãi trước, trả lãi một lần khi đến hạn thanh toán, trả lãi theo định kì.
+ Trả lãi trước: là việc bán giấy tờ có giá thấp hơn mệnh giá và người
mua được thanh toán số tiền bằng mệnh giá khi đến hạn thanh toán.
+ Trả lãi một lần khi đến hạn thanh toán: là việc thanh toán một lần khi
đến hạn thanh toán cùng với tiền gốc( mệnh giá).
+ Trả lãi theo định kì: là việc trả lãi căn cứ vào phiếu trả lãi theo định kì 6
tháng hoặc 1 năm đối với các giấy tờ có giá dài hạn.
Với quy định trên của pháp luật thì việc lựa chọn mức lãi suất và việc trả
lãi như thế nào là điều rất quan trọng của các TCTD. Nó vừa phải đảm bảo
việc cạnh tranh được với các TCTD khác để huy động vốn vay của quần
chúng, mặt khác lại vừa phải tính toán đến khả năng lợi nhuận và an toàn
trong kinh doanh của mình.
Pháp luật cũng quy định việc thanh toán lãi và gốc của TCTD. Theo đó
TCTD phải thanh toán tiền gốc cho người mua giấy tờ có giá khi giấy tờ có
giá đến hạn thanh toán. Việc thanh toán trước hạn giấy tờ có giá do TCTD tự
quyết định phù hợp với quy định quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn cho hoạt
động của TCTD. Riêng đối với công ty cho thuê tài chính chỉ được thanh
toán tiền gốc trước hạn đối với giấy tờ có giá đã có thời hạn thực tế tối thiểu
bằng thời hạn thấp nhất được phép huy động.
Các loại giấy tờ có giá do TCTD phát hành được chuyển nhượng quyền
sở hữu dưới các hình thức mua, bán, tặng, cho. Trao đổi, thừa kế hoặc người
Về lí thuyết tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư
này được coi là hình thức pháp lí của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng
minh quyền và nghĩa vụ pháp lí của các bên trong quan hệ giao dịch, mặt
khác xét về phương diện kinh tế thì các chứng thư này cũng được coi là một
loại “tiền ngân hàng” nhưng không phải là tiền do ngân hàng trung ương
phát hành mà là tiền được tạo ra bởi TCTD trong quá trình huy động vốn,
thông qua chức năng tạo tiền của TCTD
+ Thứ ba, về tư cách pháp lí:
Khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng, TCTD là
người vay hay người mắc nợ, còn khách hàng mua giấy tờ có giá có tư cách
là người cho vay hay chủ nợ của TCTD. Mặc dù có tư cách của một người
cho vay nhưng do giao dịch này được TCTD và khách hàng xác lập, thực
hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời hạn cho vay xác định nên về
nguyên tắc khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kì hạn như trong
trường hợp họ gửi tiền có kì hạn tại TCTD. Nếu muốn thu hồi vốn về trước
kì hạn, cách duy nhất là người sở hữu chứng từ (bên cho vay) kí hợp đồng
chuyển nhượng chứng từ đó cho người khác (có thể bán cho ngân hàng theo
phương thức chiệt khấu hoặc bán cho tổ chức cá nhân khác theo phương
thức thông thường trên thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán).
Qua những đặc trưng cơ bản trên của phát hành giấy tờ có giá, ta thấy
rằng phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là một loại hình giao dịch
vốn khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này còn được phản ánh cả trong cơ chế
hình thành quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có
giá.
II/ Quy chế pháp lí của hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD
theo pháp luật hiện hành
1/ Đối tượng phát hành giấy tờ có giá
Theo điều 2 của quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 thì
đối tượng được phép phát hành giấy tờ có giá phải là các tổ chức tín dụng
được thành lâp và hoạt động theo luật tổ chức tín dụng bao gồm:
tờ có giá ngắn hạn như trong giấy tờ dài hạn. Về mệnh giá tối thiểu của giấy
tờ dài hạn trong quyết định 07/2008/QĐ-NHNN này có sự thay đổi so với
quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN. Trong quyết định 02/2005 mệnh giá nhỏ
nhất của giấy tờ có giá dài hạn là một triệu đồng còn trong quyết định 07/
2008 chỉ là một trăm ngàn đồng. Hơn nữa, về mệnh giá tối đa của giấy tờ dài
hạn cũng không được quy định, mệnh giá tối đa của giấy tờ dài hạn sẽ do
TCTD tự quy định. Trong khi đó, tại quyết định 02/2005 thì mệnh giá tối đa
của giấy tờ có giá dài hạn là một tỷ đồng.
Việc quy định mệnh giá tối thiểu của giấy tờ có giá dài hạn trong quyết
định 07/2008 chỉ là 100 ngàn đồng, nhưng trong khi đó trong quyết định 02/
2005 mệnh giá nhỏ nhất của giấy tờ có giá dài hạn là một triệu đồng, theo
em
việc quy định mệnh giá tối thiểu như quyết định số 02/2005 là không hợp lí,
nếu quy định mệnh giá tối thiểu như vậy là quá cao, sẽ bỏ mất một lượng
vốn nhàn rỗi lớn trong dân chúng đối với những người có thu nhập trung
bình, khá vẫn có tiền để mua giấy tờ có giá, tuy là không nhiều. Nhưng với
số lượng lớn sẽ là một con số đáng kể.
Bên cạnh đó việc quy định mệnh giá tối đa của quyết định số 02/2005 là
một tỷ đồng cũng là không phù hợp với thực tế, và việc quyết định số 07/
2008 không có quy định cụ thể về giá trị tối đa của giấy tờ có giá nên việc
quy định mệnh giá tối đa của giấy tờ có giá dài hạn có thể do các TCTD tự
quy định phù hợp với từng điều kiện của các TCTD.
3/ Về trình tự, thủ tục phát hành giấy tờ có giá của TCTD
3.1/ Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn
- Về điều kiện phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn của TCTD
Tổ chức tín dụng được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn khi tuân thủ
đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động theo quy định của
Luật Các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các
tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
-Việc tổ chức phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn
đốc chấp thuận.
- Trường hợp tổ chức tín dụng đã được chấp thuận kế hoạch phát
hành giấy tờ có giá dài hạn của năm tài chính nhưng không tổ chức phát
hành phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Trước thời điểm phát hành ít nhất 03 ngày làm việc, tổ chức tín
dụng gửi thông báo phát hành giấy tờ có giá dài hạn của đợt phát hành dự
kiến về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm: tên tổ chức tín dụng phát
hành, tên gọi giấy tờ có giá (trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn...), tổng
mệnh giá của đợt phát hành, phương thức phát hành, hình thức phát hành,
địa điểm phát hành, thời hạn giấy tờ có giá, thời hạn phát hành, lãi suất,
phương thức trả lãi, thời điểm, địa điểm trả lãi, địa điểm thanh toán tiền
gốc giấy tờ có giá, các nội dung thông báo khác của tổ chức tín dụng phát
hành.
Thành phần hồ sơ gồm có: