Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm đầu mở cửa, nền Kinh Tế Thị Trờng một mặt đã
đem lại những thành tựu kinh tế, xã hội nhất định nhng mặt khác, dới những
tác động tiêu cực của nó cùng với sự mở cửa du nhập một cách ồ ạt của văn
hoá phơng Tây đã làm biến đổi nhiều mặt của xã hội. Hệ thống giá trị, chuẩn
mực đã ít nhiều biến đổi, lối sống đạo đức của giới trẻ đang có xu hớng suy
giảm dần đi những giá trị tốt đẹp.
Con ngời vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Trong
tiến trình đổi mới đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã nhận thức rõ tầm quan
trọng của nhân tố con ngời nên đã đặt con ngời vào trung tâm của chiến lợc
phát triển Kinh tế - Xã hội và đa công tác giáo dục lên mặt trận hàng đầu.
Trong bài Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên,
nhi đồng đăng trên báo Nhân Dân, số 526 ngày 1-6-1969, Bác Hồ có viết:
Thiếu niên, nhi đồng là ngời chủ tơng lai của nớc nhà. Vì vậy, chăm sóc và
giáo dục tốt cho các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân . Công tác đó
phải làm kiên trì, bền bỉ . . .Trớc hết, các gia đình (tức là ông bà, cha mẹ, anh
chị) phải làm tốt công việc ấy. Chính vì vậy, Đảng và Nhà Nớc ta đã xây
dựng một nền giáo dục dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ ba mũi nhọn: Gia
Đình - Nhà Trờng - Xã Hội . Bên cạnh hệ thống giáo dục chính quy - giáo
dục nhà trờng - thì hệ thống giáo dục phi chính quy trong đó có giáo dục gia
đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên những con ngời có
ích cho xã hội. Gia đình đợc coi là trờng học đầu tiên của trẻ, là môi trờng xã
hội hoá đầu tiên của con ngời ngay từ khi con ngời đợc sinh ra cho đến lúc tr-
ởng thành, với những ngời thầy đầu tiên là ngời Cha và ngời Mẹ .
1
Trong xã hội truyền thống, đối với việc giáo dục con cái, giữa ngời
cha và ngời mẹ có sự phân công rất rành rẽ: Cha là ngời dạy con trai Chữ -
Nghĩa ; Mẹ là ngời dạy con gái Công - Dung - Ngôn - Hạnh. Và cha là ngời
có quyền ra các quyết định về mọi công việc gia đình trong đó bao gồm cả
ở Việt Nam, vấn đề Giới cũng đang trở thành một vấn đề rất đợc
các nhà nghiên cứu quan tâm . Các đề tài nghiên cứu về Giới ở Việt Nam
thờng tập trung nghiên cứu ở một số hớng chính nh nghiên cứu về phụ nữ và
gia đình. Những đề tài đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giới trong các lĩnh
vực khác nhau của đời sống gia đình vẫn còn cha đầy đủ cũng nh cha khai
thác hết đợc những khía cạnh đa dạng và phức tạp của mối quan hệ này. Từ
những lý do trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu về mối quan hệ giới trên cơ sở
tiếp cận một lĩnh vực của đời sống gia đình đó là lĩnh vực giáo dục đạo đức.
Hớng đi của đề tài này là nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu
thực trạng của sự phân công vai trò giữa ngời cha và ngời mẹ trong việc
giáo dục đạo đức cho con cái ở độ tuổi vị thành niên trên cơ sở đó rút ra
những kết luận và bớc đầu đa ra những đề xuất, kiến nghị với mong muốn có
thể rút ngắn khoảng cách giới trong gia đình. Với khuôn khổ nhỏ hẹp của
một khoá luận tốt nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu tại Hà Nội với đặc trng
là một đô thị lớn của Việt Nam. Trong quá trình phát triển đi lên của đất nớc,
Hà Nội đợc coi là một trong hai đô thị có tốc độ phát triển và khả năng hội
nhập lớn nhất nhng đồng thời cũng là nơi diễn ra những biến đổi sâu sắc
trong mọi mặt của đời sống xã hội đặc biệt là trong t tởng, lối sống đạo đức
của thanh thiếu niên và hệ thống giá trị chuẩn mực trong gia đình hiện nay.
II. ý nghĩa khoa học -ý nghĩa thực tiễn:
Tuy rằng đề tài này không thuộc nhóm đề tài nghiên cứu lý luận mà
ở đây tôi chủ yếu vận dụng các lý thuyết, phơng pháp, các phạm trù khái
3
niệm của Xã Hội Học và một số nghành khoa học có liên quan vào nghiên
cứu thực tiễn nhng nó cũng có những ý nghĩa nhất định.
Trớc hết, trong quá trình tìm tòi nghiên cứu, tôi đã có thể hiểu sâu
hơn về các lý thuyết Xã Hội Học, những quan điểm tiếp cận Giới và nhất là
vấn đề Bình đẳng Giới - một vấn đề đã đợc rất nhiều ngời quan tâm nghiên
cứu và vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi.
4.2.Khách thể nghiên cứu:
Các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên trong các gia đình đô
thị.
4.3.Phạm vi nghiên cứu:
Phờng Thịnh Quang - Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội.
4.4. Mẫu nghiên cứu :
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 195 mẫu đợc chọn một cách
ngẫu nhiên trong đó nam là 92 ngời chiếm tỷ lệ 51%, nữ là 88 ngời chiếm tỷ
lệ là 49% và 10 mẫu đợc chọn để tiến hành phỏng vấn sâu .
V. Ph ơng pháp luận - ph ơng pháp nghiên cứu :
5.1. Ph ơng pháp luận :
Sự phân công vai trò giới trong giáo dục con cái là một vấn đề xã hội
có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến nhân tố con ngời - nhân tố đợc coi
5
là một động lực của sự phát triển xã hội. Nghiên cứu vấn đề này ta phải đặt
nó trong mối liên hệ tác động qua lại với các vấn đề xã hội khác nh : Sự
chuyển đổi của nền kinh tế, những tác động của các chính sách mới của
Đảng và Nhà Nớc, sự biến đổi của một số yếu tố văn hoá. Những nguyên tắc
của phơng pháp luận của Chủ nghĩa Duy Vật Lịch Sử, Chủ nghĩa Duy Vật
Biện Chứng, phơng pháp nghiên cứu Nữ Quyền và phơng pháp luận của Xã
Hội Học sẽ giúp chúng ta làm rõ điều này, cụ thể là:
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan: nghiên cứu bản thân sự vật,
hiện tợng nh chúng đang tồn tại trong thực tế, không phán đoán một cách chủ
quan. Các kết luận phải đợc phản ánh từ thực tế.
- Nguyên tắc nghiên cứu sự vật trong sự phát triển: Mỗi sự vật hiện t-
ợng trong tự nhiên và xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát
triển. Vì vậy, khi nghiên cứu cần nhìn nhận sự vật nh nó đang tồn tại trong
trong việc giáo dục con cái
Sự phân công vai trò giữa Cha và Mẹ
trong giáo dục con cái
Thời
gian
giáo
dục
Phơng
pháp
giáo
dục
Nội
dung
giáo
dục
Kết quả của việc giáo dục con cái
Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
I.các lý thuyết - quan điểm tiếp cận :
1.1. Lý thuyết vị thế - vai trò:
Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của cá nhân
trong hệ thống những cấp độ cá nhân - nhóm xã hội.
Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền lợi
kèm theo. Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp
nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tơng ứng với các
vị trí đó. Mỗi một cá nhân trong xã hội đều có những vị trí nhất định ngay từ
khi sinh ra và hình thành những chức năng cụ thể với quyền và nghĩa vụ phù
hợp. Chính những quyền và nghĩa vụ cao, thấp khác nhau của các vị trí xã hội
sẽ tạo ra thứ bậc của chúng. Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập với
ứng và mong đợi cá nhân thực hiện mô hình hành vi đó. Nh vậy, vai trò xã
hội của cá nhân là việc thực hiện những hành vi nhằm thoả mãn sự mong đợi
của xã hội để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tơng ứng với các vị thế xã
hội của mình. Những đòi hỏi, mong đợi của xã hội đối với vai trò của cá nhân
thờng dựa trên các chuẩn mực xã hội. Chính vì vậy mà vai trò xã hội của các
cá nhân luôn luôn biến đổi và khác nhau ở các xã hội khác nhau, thậm chí ở
các nhóm xã hội khác nhau và ở từng thời kì khác nhau. Bởi các chuẩn mực
xã hội không phải là một phạm trù bất biến mà nó có thể thay đổi ở từng thời
kỳ khác nhau, có thể khác nhau ở các xã hội khác nhau và thậm chí khác
nhau ngay cả giữa các nhóm xã hội khác nhau đang tồn tại trong cùng một
thời điểm lịch sử.
Nh vậy, ứng với mỗi vị thế xã hội bao gồm những quyền hạn và trách
nhiệm là những vai trò xã hội bao gồm những mô hình hành vi tơng ứng mà
cá nhân phải thực hiện.
10
Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép chúng ta nhận định đợc vị thế, vai
trò của ngời phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội. Nó
cho phép ta xác định đợc vị thế nào của ngời phụ nữ là vị thế gán cho và vị
thế nào là vị thế đạt đợc; cho phép chúng ta xác định đợc những mô hình
hành vi mà họ phải thực hiện để thoả mãn những mong đợi của xã hội, của
gia đình sao cho phù hợp với những vị thế đó. Chúng ta cũng có thể so sánh
đợc thứ bậc cao hay thấp trong tơng quan vị thế - vai trò giữa nam giới và nữ
giới trong gia đình cũng nh ngoài xã hội. Từ đó ta có thể nhìn nhận và đánh
giá đợc sự phân công vai trò giữa hai giới trong mọi lĩnh vực của đời sống gia
đình trong đó có lĩnh vực giáo dục con cái.
1.2. Lý thuyết cấu trúc - chức năng :
Cơ cấu xã hội hay cấu trúc xã hội bao gồm nhiều thành phần khác
nhau trong một hệ thống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Xã hội mà
chúng ta đang sống cũng đợc xem nh một hệ thống có cấu trúc nhất định bao
tồn tại một cách ổn định và bền vững hơn chức năng và yếu tố làm cho cấu
trúc bền vững nhất là các giá trị chuẩn mực.
Nếu lý thuyết vị thế vai trò cho phép ta giải thích những biểu hiện và
nguyên nhân của hành vi ở cấp độ vi mô thì lý thuyêt cấu trúc chức năng giúp
ta phân tích các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng ở cấp độ vĩ mô. áp dụng
lý thuyết cấu trúc - chức năng vào nghiên cứu gia đình có thể lý giải đợc mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, lý giải đợc ảnh hởng của sự biến
đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đến cơ cấu gia đình và các thành
phần trong cơ cấu gia đình hay nói cách khác chính là mối liên hệ giữa gia
đình với t cách là một nhóm xã hội với xã hội tổng thể.
1.3.Quan điểm tiếp cận Giới :
12
Quan điểm này yêu cầu nghiên cứu về nam giới và nữ giới đặt trong
mối quan hệ qua lại với nhau. Trớc hết, ta phải làm rõ sự khác biệt và đồng
nhất giữa nam giới và nữ giới ở những đặc điểm tự nhiên bẩm sinh không thể
thay đổi đợc; những đặc điểm xã hội do học hỏi mà có; những đặc điểm do
xã hội quy gán; những đặc điểm có tính lịch sử và có thể thay đổi đợc.
Tiếp cận Giới phải chú ý đến mối quan hệ của hai giới trong mọi
lĩnh vực của đời sống gia đình, trong lao động, trong hởng thụ các giá trị vật
chất - tinh thần, về quyền và nghĩa vụ của mỗi giới trong gia đình và ngoài xã
hội. Nh vậy, bằng cách so sánh những chức năng tự nhiên và xã hội giữa nam
giới và nữ giới, bằng cách so sánh mọi khía cạnh của quá trình thực hiện vai
trò giáo dục đạo đức cho con cái, so sánh những xuất phát điểm đi lên của
từng giới ta có thể đánh giá đợc sự phân công vai trò giữa nam giới và nữ giới
trong giáo dục đạo đức cho con cái ở độ tuổi vị thành niên trong các gia đình
đô thị .
Quan điểm tiếp cận giới đòi hỏi phải nghiên cứu mối quan hệ giới
trong bối cảnh Kinh tế - Xã hội, trong những giai đoạn phát triển của lịch sử
để thấy đợc những nguyên nhân xã hội quy định mối quan hệ giới.
số thế hệ và tính chất của mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Cơ
cấu quyền uy là một trong ba loại cơ cấu gia đình. Cơ cấu quyền uy cho biết
những quyết định căn bản trong đời sống gia đình thuộc về ai. Trong cơ cấu
quyền uy gia trởng, vợ phải phục tùng chồng. Trong cơ cấu quyền uy dân
chủ, sự phân bố vai trò của các thành viên trong gia đình trớc hết dựa vào các
phẩm chất, năng lực cá nhân của vợ hoặc chồng, các thành viên trong gia
đình đều có thể tham dự vào việc quyết định các công việc quan trọng của
gia đình.
2.2.Khái niệm Giới:
14
Khi đề cập đến khái niệm Giới ta phải đi từ khái niệm Giới tính
để thấy sự khác biệt giữa hai khái niệm này từ đó hiểu rõ hơn về khái niệm
Giới.
*Giới tính:
Là một khái niệm sinh học để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ - hai
cá thể ngời. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con
ngời và di truyền nòi giống. Con ngời sinh ra đã đợc xác định những đặc
điểm khác nhau về giới tính.
*Giới:
Là một khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Nói đến Giới là nói đến hành vi xã hội của nam giới và nữ giới, nói đến vai
trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và
nữ.
Giới và Giới tính khác nhau ở các đặc trng của nó. Giới tính có
đặc trng sinh học còn Giới có những đặc trng xã hội. Hai cá thể Nam và
Nữ sinh ra đã đợc quy định về giới tính nhng phải trải qua cả một quá trình
học hỏi những giá trị, chuẩn mực mà xã hội đã quy định mới có thể mang
trong mình những đặc tính giới, mới có thể trở thành nam giới và nữ giới.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về Đạo Đức. Trong các quan
điểm về Đạo Đức thì quan điểm của chủ nghĩa Mác-xit về Đạo đức mới
16
tỏ ra phù hợp nhất với quan điểm về đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Quan niệm Mác-xit cho rằng Đạo Đức mới là mức độ cao của quá trình
phát triển đạo đức. Đạo Đức mới đợc định nghĩa là tổng hợp những nguyên
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó mà con ngời tự giác điều chỉnh hành
vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con ngời trong mối quan hệ giữa
con ngời và con ngời, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội. ( Đạo Đức học
- Trần Hậu Khiêm - NXB Giáo Dục, 1997)
2.4.Khái niệm Giáo dục:
Giáo dục, hiểu theo nghĩa rộng là một quá trình toàn vẹn hình thành
nhân cách con ngời, đợc tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông
qua các hoạt động và quan hệ giữa ngời giáo dục và ngời đợc giáo dục nhằm
truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội và loài ngời.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì giáo dục là quá trình hình thành nhân cách về
mặt Đức (niềm tin, lý tởng, động cơ, tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen).
2.5.Khái niệm Xã hội hoá:
Xã hội hoá là một quá trình trong đó cá nhân học cách trở thành một
thành viên của xã hội thông qua việc học tập, lĩnh hội các giá trị chuẩn mực
của xã hội và đóng các vai trò xã hội.
Quá trình xã hội hoá của cá nhân diễn ra ngay từ khi cá nhân đó sinh
ra cho đến khi mất đi. Nói các khác xã hội hoá là một quá trình diễn ra suốt
đời của một cá nhân.
Quá trình xã hội hóa cá nhân diễn ra trong môi trờng xã hội hóa. Môi
trờng xã hội hoá đợc hiểu là tất cả những nhân tố, điều kiện cơ bản cho quá
17
ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về Giới đi sâu vào
các khía cạch khác nhau của vấn đề này.
Trong cuốn sách Phụ nữ Việt Nam trong gia đình và ngoài xã hội.
NXB Lao Động do Lê Minh chủ biên, các tác giả đã đi sâu phân tích sự bất
bình đẳng giới trong các công việc gia đình khiến cho ngời phụ nữ phải chịu
nhiều thiệt thòi.
Tiến sĩ Vũ Tuấn Huy với đề tài Biến đổi cơ cấu gia đình và vai trò
ngời phụ nữ đã phân tích những chiều cạnh của biến đổi gia đình và những
yếu tố tác động đến phân công vai trò giới và những tác động của nó đến vai
trò của ngời phụ nữ.
Tác giả Lê Ngọc Hùng và Trần Thị Vân Anh với công trình Phụ nữ -
Giới và phát triển - 1997 đã mô tả thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong bối
cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh
tế thị trờng.
Với đề tài Bạo lực trong gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ
giới, Tiến sĩ Lê Thị Quý đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề bạo lực trong gia
đình. Tác giả đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và
khẳng định rằng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình cũng là một biểu hiện
của sự bất bình đẳng giới và là một vấn đề xã hội cần phải quan tâm.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí Xã Hội Học,
tạp chí khoa học và phụ nữ nh: Ngời phụ nữ Việt Nam trong gia đình Nông
Thôn của tác giả Mai Kim Châu, bài Khác biệt nam - nữ nông thôn Đồng
Bằng Bắc Bộ của tác giả Vũ Mạnh Lợi. Với các hớng tiếp cận khác nhau nh-
ng đều hớng đến việc tìm hiểu về mối quan hệ giới trong gia đình.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đã giúp cho những ngời
quan tâm đến vấn đề Giới có đợc cái nhìn đa dạng từ nhiều chiều cạnh, là
cơ sở khoa học, là những t liệu quý giá cho những nghiên cứu Xã Hội Học
sau này.
19
Ngày 18/12/1979, Đại Hội Đồng LHQ đã thông qua công ớc về việc
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ( Convention on the
Elimination of All Form of Discrimination Against Women - CEDAW).
Công ớc này có hiệu lực thi hành từ tháng 9 năm 1981 và là văn kiện có tính
chất pháp lý bắt buộc thực hiện nam - nữ bình đẳng đầu tiên trong lịch sử.
Công ớc đã đề cập đến vấn đề hôn nhân và gia đình, đề ra các tiêu chuẩn
quốc tế về bình đẳng nam - nữ, quy trách nhiệm của chính phủ trong việc đề
ra các biện pháp hiệu quả nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ
trong mọi vấn đề liên quan đến hôn nhân và quan hệ gia đình . Đồng thời
công ớc cũng đa ra những quy định về quyền quyết định nh nhau của phụ nữ
và nam giới: Các quốc gia tham gia công ớc phải đảm bảo trên cơ sở bình
21
đẳng giữa nam giới và phụ nữ . Các quyền và trách nhiệm nh nhau giữa vợ và
chồng trong thời gian hôn nhân cũng nh khi ly hôn. (điều 16)
Đến nay, công ớc về phụ nữ đã đợc phê chuẩn và cam kết thực hiện
trên 119 quốc gia . Điều này càng chứng tỏ rằng địa vị của ngời phụ nữ ngày
càng đợc khẳng định và sự bất bình đẳng giới đang dần đợc khắc phục.
Chơng II. Kết quả nghiên cứu
I. Đặc điểm địa lý - kinh tế - xã hội của địa bàn
nghiên cứu :
Phờng Thịnh Quang - một phờng ven đô nửa làng, nửa phố nằm ở
phía Bắc quận Đống Đa giáp với 4 phờng: Láng Hạ , Nhân Chính, Ngã T Sở.
Phờng nằm sát 3 trục đờng lớn là: đờng số 6, đuờng Láng và đờng Thái
Thịnh . Diện tích toàn phờng là: 0.545 km
2
. Phờng có dân số đông gồm
16.569 ngời trong đó nam có 8.192 ngời và nữ có 8377 ngời chia làm 67 tổ
dân phố và 11 cụm dân c . Dân c trong địa bàn phờng chủ yếu là cán bộ công
cha mẹ cha cao, một số trẻ em đang có nguy cơ mất môi trờng gia đình . . .
UBBVCS & GD TE của phờng đã xây dựng những chơng trình mục tiêu cụ
23
thể cho mình trong những năm tới đây nhằm mục đích nâng cao chất lợng
của việc chăm sóc và giáo dục trẻ em ở các gia đình trên địa bàn phờng.
Với những đặc điểm địa lý - kinh tế - dân c nh trên, ta có thể thấy
rằng Thịnh Quang là một phờng mang những nét đặc trng của một đô thị
đang có nhiều biến đổi trong quá trình biến đổi chung của đất nớc.
II. Nhận thức của cha mẹ về sự quan trọng của
việc giáo dục Đạo Đức cho con cái ở độ tuổi vị
thành niên.
Lúc sinh thời, Bác Hồ đã từng nói: Ngời có tài mà không có Đức là
ngời vô dụng, ngời có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó. Cha
ông ta xa cũng có câu: Dạy con từ thở còn thơ . . .
Ngay từ khi sinh ra, con ngời đã tham gia vào quá trình xã hội hóa -
quá trình mà ở đó mỗi cá nhân phải học hỏi, lĩnh hội các giá trị chuẩn mực
trong xã hội và học cách đóng các vai trò xã hội của mình. Môi trờng Xã Hội
Hoá đầu tiên của mỗi cá nhân là gia đình mà trong đó ngời cha, ngời mẹ là
những ngời thầy đầu tiên sẽ truyền đạt cho các con của mình những tri thức
cơ bản nhất về các mối quan hệ xã hội của con ngời. Giáo dục đạo đức trong
gia đình đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi những gì mà cá nhân lĩnh hội đ-
ợc từ nền giáo dục của gia đình sẽ là nền tảng đầu tiên trong suốt cả quá trình
học hỏi sau này của mỗi cá nhân để trở thành một con ngời có nhân cách
trong xã hội. Có thể nói, trong bất kì thời đại nào thì Đạo Đức là một yếu
24
tố luôn đợc đề cao, coi trọng, là cái chuẩn để đánh giá, nhìn nhận một con
ngời. Tiên học Lễ, hậu học Văn - trong những giá trị truyền thống của dân
tộc Việt nam, thì Đạo làm Ngời là một giá trị mà bất cứ ngời nào cũng