TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG - Pdf 27

Bài tập Nhóm tháng II – Luật Ngân hàng Nhóm 1 HS31B1
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là một trong những nghiệp vụ cấp
tín dụng cổ điển của các ngân hang thương mại trên thế giớ, ra đời từ rất
sớm và phát triển cho đến ngày nay. Nhưng ở nước ta, trong khoảng vài năm
trở lại đây, hoạt động chiết khấu mới được pháp luật quan tâm và được triển
khai trong thực tiễn hoạt động của các ngân hàng. Chiết khấu giấy tờ có giá
là một khái niệm mới mẻ và lần đầu tiên được đề cập trong Luật các tổ chức
tín dụng năm 1997. Việc ghi nhận hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá với tư
cách là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng đã tạo
ra cơ sở pháp lí ban đầu cho việc xác lập và thực hiện giao dịch này trên
thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi tham gia giao dịch. Để điều
chỉnh môt cách chi tiết và hiệu quả hơn hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, các nhà làm luật để cụ thể hóa hoạt
động này trong các văn bản luật và văn bản dưới luật. Đặc biệt với sự ra đời
quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với
khách hang ban hành theo quyết định số 1325/2004-QĐ-NHNN ngày 15
tháng 10 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy chế pháp lí
dành cho nghiệp và chiết khấu rõ rang và cụ thể hơn. Tuy nhiên bên cành
những điểm tích cực vẫn còn những điểm hạn chể nhất định cần khắc phục
và hoàn thiện. Mặt khác, trong thực tiễn có rất nhiều học giả nghiên cứu hoạt
động này dưới góc độ kinh tế học, chỉ đơn thuần tìm hiểu nó với tư cách là
một nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng với những đặc thù mang tính chất kỹ
thuất kinh tế, nhưng lại có rất ít các tài liệu nghiên cứu về bản chất pháp lí
cũng như tính ưu việt của hoạt động này khiến cho các tổ chức tín dụng rất ít
lựa chọn hình thức này để cấp tín dụng cho khách hàng. Do vậy, việc nghiên
cứu để nắm vững và vận dụng một cách có hiệu quả những quy định pháp
luật về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá là rất cần thiết. Đặc biệt là trong
bối cảnh nước ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
1

luật thực định. Trên thực tế, một số ngân hàng ở Việt nam cũng mới chỉ bắt
đầu triển khai khi áp dụng nghiệp vụ này trong vài năm nay và kinh nghiệm
thu được từ hoạt động này còn ở mức độ hạn chế.
2. Đặc trưng của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.
Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng tuy có nhiều
điểm tương đồng với các nghiệp vụ tín dụng khác bản than nó cũng hàm
chứa những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chiết khấu giấy tờ có giá luôn có bản chất là một nghiệp vụ
tín dụng ngắn hạn. Tính chất ngắn hạn của nghiệp vụ tín dụng náy thể hiện ở
2
Bài tập Nhóm tháng II – Luật Ngân hàng Nhóm 1 HS31B1
chỗ, khách hàng chỉ có thể đem chiết khấu ở ngân hàng những giấy tờ có giá
còn thời hạn thanh toán dưới một năm. Quy định này nhằm tránh cho ngân
hàng nhận chiết khấu những rủi ro quá lớn nếu họ chấp nhận chiết khấu
những rủi ro quá lớn nếu họ chấp nhận chiết khấu cho cả nhưng giấy tờ có
giá còn thời hạn thanh toán quá dài (trừ một năm trở lên) và do đó tránh cho
nền kinh tế khỏi những biến cố không đáng có do sự đổ vỡ của các ngân
hàng.
Thứ hai, chiết khấu một loại cho vay trực tiếp đối với người sở hữu
giấy tờ có giá nhưng lại là hình thức cho vay gián tiếp đối với người mắc nợ
theo giấy tờ có giá. Thồng qua việc chiết khấu giấy tờ có giá, ngân hàng
cung cấp một khoản vốn cho người sở hữu giấy tờ có giá, ngan hàng cung
cấp cho một khoản vốn người sở hữu giấy tờ có giá trên cơ sở quan hệ tín
dụng đã tồn tại trước đó giữa người sở hữu giấy tờ có giá với người mắc nợ
theo giấy tờ có giá. Nếu một thương nhân biết rằng khoản nợ mình cho vay
hay khoản bán chịu hàng hóa cho người khác có thể để dùng thu hồi lại sau
đó bằng cách hiện tái-chiết khấu cho một ngân hàng thì chính thương nhân
này cũng có thể dễ dàng chấp nhận cho vay hay người bán chịu hàng hóa
cho người khác.
Thứ ba, như đã nêu tại phần khái niệm, hoạt động chiết khấu giấy tờ

hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, nhưng xuất phát từ bản chất chung của
một hợp đồng và những đặc trưng riêng của hoạt động chiết khấu, ta có thể
định nghĩa chiết khấu giấy tờ có giá như sau: hợp đồng chiết khấu giấy tờ có
giá là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (người nhận chiết
khấu) với tổ chức, cá nhân (người xin chiết khấu – khách hàng) theo đó tổ
chức tín dụng thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước kì hạn
thanh toán, với điều kiện khấu trừ ngay một số tiền nhất định tính theo tỷ lệ
phần trăm (%) trên mệnh giá của giấy tờ có giá được chiết khấu, trong thời
gian chiết khấu.
Từ định nghĩa trên ta thấy hợp đồng chiết khấu thể hiện những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia kí kết hợp đồng: một bên bao giờ cũng
là tổ chức tín dụng – bên nhận chiết khấu và bên kia là tổ chức, cá nhân –
bên đề nghị chiết khấu, thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật
quy định.
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng: đó là các giấy tờ có giá chưa đến
hạn thanh toán được các bên thỏa thuận mua bán và ghi rõ trong hợp đồng.
Hay nói cách khác, cái mà các bên trong hợp đồng muốn hướng tới chính là
trái quyền (quyền đòi nợ) của người sở hữu các giấy tờ có giá đó đối với
người thụ trái ( người phải trả ) khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán.
Thứ ba, về hình thức pháp lý, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá bao
giờ cũng phải dược lập thành văn bản.
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ, trong hợp đồng chiết
khấu, nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu các giấy tờ có giá của khách hàng
cho tổ chức tín dụng bao giờ cũng được thực hiện trước, sau đó, tổ chức tín
dụng trả một số tiền cho khách hàng bằng tiền mặt hoặc chuyển sang tài
khoản tiền gửi của họ. Kể từ thời điểm được chuyển giao quyền sở hữu đối
4
Bài tập Nhóm tháng II – Luật Ngân hàng Nhóm 1 HS31B1
với giấy tờ có giá, tổ chức tín dụng chính thức được thế vào vị trí của người

dụng nhận chiết khấu đến ngày khách hàng có nghĩa vụ thực hiện cam kết
mua lại giấy tờ có giá đó. Như vậy, theo Điểm b, Khoản 2 Điều 8 Quy chế
chiết khấu, tái chiết khấu, tổ chức tín dụng chỉ trở thành chủ sở hữu hợp
pháp đối với các giấy tờ có giá khi hết thời hạn cam kết trong hợp đồng mà
khách hàng không thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá đó. Với điều
khoản cam kết mua lại, có thể hiểu rằng, nếu tổ chức tín dụng muốn chuyển
giao quyền sở hữu các giấy tờ có giá đó trong thời hạn chiết khấu thì quyền
5
Bài tập Nhóm tháng II – Luật Ngân hàng Nhóm 1 HS31B1
ưu tiên mua sẽ thuộc về khách hàng, sau đó mới đến cá tổ chức tín dụng
khác. Điều đó cũng có nghĩa là nếu trong thời hạn cam kết mua lại mà khách
hàng không thực hiện việc mua lại thì họ sẽ mất quyền ưu tiên mua lại và
khi đó, tổ chức tín dụng có quyền chuyển nhượng giáy tờ có giá đó cho bất
kì ai mà mình mong muốn.
Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hoạt động chiết
khấu giấy tờ có giá, theo đó, tổ chức tín dụng sẽ có quyền sở hữu các giấy tờ
có giá ngay sau khi khách hàng hoàn thành thủ tục chuyển nhượng các giấy
tờ có giá đó cho mình và hệ quả là tổ chức tín dụng sẽ có quyền định đoạt
( trong đó có quyền chuyển nhượng ) các giấy tờ có giá đó cho người khác.
3. Chủ thể của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
Chiết khấu giấy tờ có giá ở tổ chức tín dụng thực chất là một quan hệ
mua bán giấy tờ có giá, được thể hiện dười hình thức pháp lý là hợp đồng
mua bán giấy tờ có giá với thành phẩn chủ thể bao gồm bên nhận chiết khấu
và bên được chiết khấu.
+ bên nhận chiết khấu.
Là các tổ chức tín dụng thỏa mãn các diều kiện nhất định do pháp luật quy
định. Để tham gia vào hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, tổ chức tín dụng
phải thỏa mãn những điều kiện pháp lý sau:
Thứ nhất, tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động chiết khấu phải
có giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do Ngân hàng nhà nước cấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status