Luận văn: Những vấn đề cơ bản về hợp đồng nhập khẩu và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu trong thời gian tới taị Công ty VITACO – Hà nội - Pdf 15


   Luận văn

Những vấn đề cơ bản về
hợp đồng nhập khẩu và
một số giải pháp hoàn thiện
hoạt động ký kết và thực
hiện hợp đồng nhập khẩu
trong thời gian tới taị Công
ty VITACO – Hà nội Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

kiến thức pháp lý cần thiết trong hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng đã mang lại
hậu quả khôn lường mà nhiều doanh nghiệp đã phải gánh chịu: những thiệt hại về tài
sản, tiền bạc, sự mất uy tín trong quan hệ kinh doanh và nhiều thua thiệt khác của các
doanh nghiệp Việt nam. Nguyên nhân có cả khách quan và chủ quan, nhưng trong đó
vẫn chủ yếu vẫn là thiếu kiến thức, kinh nghiệm và chưa chú trọng đúng mức đến tầm
quan trọng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Bởi vậy, việc nghiên cứu vấn đề ký
kết và thực hiện hợp đồng đã và đang trở thành vấn đề có tính cấp thiết cho bất kỳ
doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt dộng kinh doanh quốc tế đồng thời bảo vệ kịp
thời quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp cũng như quốc gia đó, tránh bị
thua thiệt trong quan hệ với bạn hàng và rút ra được nhiều kinh nghiệm làm tăng hiệu
quả cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Qua thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế ở Công ty vận tải và đại lý vận
tải Hà nội, phân tích rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh,
tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

2
Công ty vận tải và đại lý vận tải Hà nội – VITACO” . Nội dung của báo cáo tốt
nghiệp được chia thành 3 phần như sau:

Phần I: Những vấn đề cơ bản về hợp đồng nhập khẩu trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

Phần II: Thực trạng hoạt động ký kết và thức hiện hợp đồng nhập khẩu
công ty VITACO – Hà nội.

Phần III: Phương hướng hoàn thiện hoạt động ký kết và thực hiện hợp
đồng nhập khẩu trong thời gian tới taị Công ty VITACO – Hà nội.


Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá là loại hợp đồng mua bán đặc biệt hay hợp đồng
mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

3
nước khác nhau, theo đó một bên gọi là một bên xuất khẩu ( bên bán) có nghĩa vụ
chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu ( bên mua) một tài sản
nhất định gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.

1.2. Phân loại hợp đồng nhập khẩu
Từ định nghĩa hợp đồng nhập khẩu ta có thể phân hợp đồng nhập khẩu ra làm 2
loại như sau:

a/.Hợp đồng nhập khẩu trực tiếp: Là một loại hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, trong đó
người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua vượt qua biên
giới quốc gia, còn người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá
trị hàng hoá bằng các phương thức thanh toán quốc tế.

Loại hợp đồngnày thì nhà nhập khẩu những hàng hoá nhằm thoả mãn cho việc
kinh doanh của mình trên thị trường. Nghĩa là họ sẽ nhập khẩu những hàng hoá mà có
thể tiêu thụ được ở thị trường trong nước, có thể đẩy mạnh được hoạt động kinh doanh
của Công ty họ. Hợp đồng này có thể có hai loại: có hạn nghạch và không có hạn
nghạch.

- Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá có hạn nghạch: thì khi muốn nhập khẩu thì phải
xin giấy phép nhập khẩu và hạn nghạch nhập khẩu mới được phép nhập khẩu. Nghĩa là
Công ty chỉ được phép nhập khẩu số lượng hàng hoá theo quy định của Nhà nước cho
phép.

-Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá không có hạn nghạch: Những loại hàng hoá mà

- Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể lập laị ở các nước khác nhau.

 Theo công ước Viên – 1980 thì: Hợp đồng nhập khẩu là các bên ký kết hợp
đồng có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau ( điều 1).

Như vậy, công ước Viên – 1980 đã đơn giản hoá những yếu tố quốc tế của hợp
đồng nhập khẩu, ngoại trừ những quan điểm khác biệt, bất đồng trong luật quốc tế giữa
các nước, làm giảm bớt những khó khăn, trở ngại và trong đàm phán ký kết hợp đồng.
Việc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau dẫn đến việc có thể áp dụng nhiều hệ
thống luật pháp khác nhau, nhưng trong trường hợp căn cứ vào quốc tịch thì nếu hai
chủ thể có quốc tịch khác nhau lại có trụ sở thương mại tại một nước thì việc giải thích
yếu tố quốc tế của hợp đồng nhập khẩu là bế tắc. Do vậy, quan điểm về tính quốc tế của
hợp đồng xuất nhập khẩu trong công ước Viên – 1980 mang tính chất bao quát chung
và phù hợp với thực tế hiện nay.

Theo quan điểm của Việt nam, tại điều 80 Luật Thương mại thì: “Hợp đồng mua
bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán được ký kết giữa một
bên là thương nhân Việt nam với một bên là thương nhân nước ngoài”.

Tại điều 5 khoản 6 cũng quy định: “ Thương nhân được hiểu là các cá nhân, hộ
gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường
xuyên”.

Như vậy, để xác định hợp đồng nhập khẩu thì chỉ có một quy định là hợp đồng
được ký kết với thương nhân nước ngoài. Vấn đề đặt ra là: Phải xác định thương nhân
nước ngoài như thế nào? Theo Điều 81 khoản 1 – Luật Thương mại quy định: “ Chủ thể
liên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác định căn cứ theo
pháp luật mà thương nhân đó mang quốc tịch”

3. Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu.

c. Tên và địa chỉ của các đương sự.
d. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng.
e. Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Đây có thể là hiệp định chính phủ ký kết
ngày tháng , cũng như có thể là Nghị định thư ký kết giữa Bộ
nước với Bộ nước Chí ít người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của hai
bên khi ký kết hợp đồng.

4.2. Phần các điều khoản và điều kiện của hợp đồng.
Trong phần này người ta ghi rõ các điều khoản thương phẩm ( như tên hàng, số
lượng, phẩm chất, bao bì ) các điều khoản tài chính ( như giá cả và cơ sở của giá cả
thanh toán, trả tiền hàng, chứng từ thanh toán ), các điều khoản vận tải ( Như điều
kiện giao hàng, thời gian và địa điểm giao hàng ), các khoản pháp lý ( như: Luật áp
dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất khả kháng, trọng tài ).

a. Điều khoản về tên hàng.
Nhằm giúp các bên xác định được sơ bộ loại hàng cần mua bán trong hợp đồng
bằng một số biện pháp như:

Ghi tên hàng bao gồm tên thông thường, tên thương mại, tên khoa học ( áp dụng
cả cho loại hoá chất, giống cây, vật nuôi )

Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

6
Ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra nó ( nếu nơi đó ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm.).

Ghi tên hàng kèm với quy cách chính. VD: xe tải 25 tấn

Ghi tên hàng kèm với tên nhà sản xuất ra nó.

về đai nẹp của bao bì.

Phương thức xác định giá cả của bao bì: Việc tính giá cả của bao bì có thể có
những trường hợp sau:
- Giá của bao bì được tính vào giá cả của hàng hoá, không tính riêng.
- Giá cả của bao bì do bên mua trả riêng.
Giá cả của bao bì được tính như giá cả của hàng hoá.

Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh

7
e. Điều khoản về giá cả:
Trong hợp đồng nhập khẩu , giá cả cần được căn cứ vào tính chất của hàng hoá
và tập quán buôn bán mặt hàng đó trên thị trường quốc tế để xác định rõ đơn vị giá cả:

Mức giá: Giá cả trong hợp đồng nhập khẩu thường là giá quốc tế.

Phương pháp tính giá: Như giá cố định, giá quy định sau, giá linh hoạt, giá di
động.
Điều kiện giảm giá: Với mục đích là khuyến khích mua hàng thì có các nguyên nhân
giảm giá sau: do trả tiền sớm, giảm giá dịch vụ, giảm giá để đổi hàng cũ để mua hàng
mới, giảm giá đối với thiết bị đã dùng rồi, do mua hàng với số lượng lớn

Điều kiện cơ sở giao hàng tương ứng: Trong hợp đồng NK, mức giá bao giờ
cũng ghi bên cạnh một điều kiện cơ sở giao hàng nhất định, bởi vì giá cả sẽ khác nhau ở
những điều kiện giao hàng khác nhau.

f. Điều khoản giao hàng:
Nội dung của điều khoản này là sự xác định thời hạn và địa điểm giao hàng, sự
xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng.

hoặc trả tiền sau.

+ Phương thức trả tiền: Có nhiều phương thức trả tiền trong buôn bán quốc tế.
Nhưng mấy phương thức sau đây phổ biến nhất thường được áp dụng trong quan hệ
mau bán quốc tế:
- Phương thức trả tiền mặt ( cash payment ).
- Phương thức chuyển tiền ( Transfer )
- Phương thức nhờ thu .
- Phương thức tín dụng chứng từ ( L/C )

Điều kiện đảm bảo hối đoái: Trong giai đoạn hiện nay, các đồng tiền trên thế
giới thường sụt giá hoặc tăng giá. Để tránh những tổn thất có thể xảy ra, các bên giao
dịch có thể thoả thuận những điều kiện đảm bảo hối đoái. Đó có thể là điều kiện đảm
bảo vững vàng hoặc điều kiện đảm bảo ngoại hối.

i. Điều khoản về khiếu nại.
Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt
hại mà bên kia đã gây ra, hoặc về những sự vi phạm đều đã được cam kết giữa hai bên.

Nội dung có bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các vấn đề sau:
- Thể thức khiếu nại: Khiếu nại phải làm bằng văn bản ghi rõ tên hàng, số
lượng, trọng lượng hàng hoá bị khiếu nại, địa điểm mau hàng, lý do khiếu
nại, yêu cầu cụ thể của người mua về việc giải quyết khiếu nại.
- Thời hạn khiếu nại: được quy định phụ thuộc trong hợp đồng.
- Quyền hạn và nghĩa vụ các bên liên quan.

Cách thức giải quyết khiếu nại: Có nhiều cách thức giải quyết như giao tiếp
những hàng háo bị thiếu hụt, sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thay thế những hàng
hoá bị khiếu nại, triết một số khấu trừ một số tiền nhất định về hàng hoá bị khiếu nại.



m. Điều khoản về vận tải.
Trong điều khoản về vận tải của các hợp đồng, người ta thường nêu lên những
vấn đề sau:
Quy địnhvề con tàu chở hàng: Như phải có khả năng đi biển, phải được xếp loại
A theo đăng kiểm của LLoyd’s, hoặc tàu phải dưới 15 sử dụng

Quy định về nước bốc dỡ, thời gian bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ.

Quy định về điều kiện để đạt “ Thông báo sẵn sàng bốc dỡ như: Wibon, wipon,
wifpon, wiccon ”

Ngoài những điều kiện trên đây, trong quá trình giao dịch tuỳ tình hình cụ thể,
các bên có thể đề ra những điều kiện khác như: Điều kiện cấm chuyển bán, điều kiện về
quyền lựa chọn

II.Khía cạnh pháp lý của việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập nhẩu.

1. Ký kết hợp đồng nhập khẩu ( NK)

1.1. Khả năng để phát sinh một hợp đồng nhập khẩu.

Một hợp đồng nhập khẩu trong giao dịch buôn bán ( bỏ qua hàng tặng và các vấn
đề khác) chỉ đơn giản là một bên đưa ra lời chào hàng và bên kia chấp nhận lời chào
hàng ấy. Chào hàng làm phát sinh trách nhiệm ngay khi nó rời tay bên chào hàng đồng
thời nó cũng có thể huỷ ngang bất cứ lúc nào trước khi được chấp nhận.
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh


- Thứ nhất: hợp đồng phải có các điềukhoản chủ yếu. Tại điều 50 – Luật
Thuơng mại Việt nam thì nội dung của hợp đồng bao gồm 6 điều khoản chủ yếu sau:
Tên hàng, số lượng, quy cách, phẩm chất, thời hạn,và địa điểm giao hàng, giá cả, điều
kiện cơ sở giao hàng, phương thức thanh toán và chứng từ giao hàng.
- Thứ hai: Ngoài những điều khoản chủ yếu nêu trên, bất kỳ một đièu khoản
nào đưa vào hợp đồng thì gọi là điều khoản thông thường như bao bì, mẫu
cách, giám định chế tài, tranh chấp, bảo hành

+ Hợp đồng phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện: Nguyên tắc này cho phép các
bên được hoàn toàn tự do thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong khuôn khổ
pháp luật và loại bỏ tất cả các hợp đồng được ký kết trên cơ sở dùng bạo lực, do bị đe
doạ, bị lừa đảo hoặc do sự nhầm lẫn.

1.3. Thủ tục ký kết hợp đồng nhập khẩu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
11
 Về hình thức ký kết: Có hai loại hình thức ký kết hợp đồng là:
+ Trực tiếp gặp gỡ đàm phán: Nếu các bên thống nhất hoàn toàn về các vấn đề
đã nêu ra trong quá trình đàm phán trực tiếp và cùng ký vào bản dự thảo hợp đồng thì
hợp đồng được coi như là ký kết từ lúc các bên cùng ký vào hợp đồng.

+Ký kết gián tiếp: Những hợp đồng được ký với những khách hàng mà không có
điều kiện gặp gỡ, trực tiếp đàm phán thì hợp đồng phải được ký bằng cách trao đổi ký
kết hợp đồng thông qua việc gửi chào hàng hoặc đặt hàng. Loại hợp đồng này thường
trải qua hai giai đoạn:
1. Giai đoạn đề nghị ký hợp đồng: trong giai đoạn này, người đề nghị ký kết
hợp đồng chú ý các điều kiện có hiệu lực của đơn đề nghị ký hợp đồng, thời
hạn có hiệu lực và điều kiện huỷ bỏ đơn đề nghị ký hợp đồng.
2. Giai đoạn chấp nhận: Việc chấp thuận cũng phải tuân thủ một số quy định

Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
12
được nhận giấy phép nhập khẩu . Tuy nhiên thời gian gần đây, để tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp tăng cường XNK hàng hoá từng chuyến

2. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu ( NK)
2.2.1. Nguyên tắc chấp hành hợp đồng nhập khẩu.
Nguyên tắc chấp hành hợp đồng: Đó là những tư tưởng chỉ đạo có tính bắt buộc
các bên phải tuân thủ hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luật pháp các
nước đều quy định rằng cũng như với hợp đồng dân sự, hợp đồng ngoại thương nói
chung và nhập khẩu nói riêng phải chấp hành 3 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc chấp hành hiện thực và thực hiện đúng về mặt đối tượng, không
được thay thế việc thực hiện đó bằng việc đưa một khoản tiền nhất định hoặc
dưới một hình khác,
- Nguyên tắc chấp hành đúng: tức là thực hiện tất cả các điều khoản đã cam
kết.Mọi quy định trong hợp đồng đều phải thực hiện đúng và đầy đủ.
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác hai bên cùng có lợi: Các bên có
nghiã vụ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên và theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để thực
hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh cam kết, cùng nhau khắc phục khó khăn trong
quá trình thực hiện hợp đồng ngay cả khi có tranh chấp xảy ra.
Nếu một trong hai bên không tuân thủ 1 trong 3 nguyên tắc nói trên thì sẽ bị coi
là vi phạm hợp đồng và chịu trách nhiệm với bên kia.

2.2 Trình tự thực hiện hợp đồng nhập khẩu ( NK )
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu đơn vị kinh doanh phải tiến hành các
khâu công việc sau:
 Bước 1: Xin giấy phép nhập khẩu:
Giấy phép nhập khẩu là một tiêu đề quan trọng trong mỗi chuyến hàng nhập
khẩu . Thủ tục xin giấy phép nhập khẩu ở mỗi nước là khác nhau. ở Việt nam, hàng
năm hoặc 6 tháng một lần Bộ Thương mại công bố danh mục hàng cấm nhập khẩu ,


Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ sau:
- Điều khoản hợp đồng.
- Tính chất hàng hóa
- Tính chất bao bì và phương pháp xếp hàng
- Loại tàu chuyên chở

 Bước 5: Làm thủ tục hải quan
Theo nghị định 200/ CP ngày 31/12/1973 “ Cơ quan vận tải ( ga, cảng) có trách
nhiệm tiếp nhận hàng hoá NK trên các phương tiện vận tải từ nước ngoài vào, bảo quản
hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho lưu bãi và giao cho các đơn vị đặt hàng
theo lệnh giao hàng của Tổng công ty đã nhập ở đó”. Do đó, đơn vị kinh doanh NK
phải trực tiếp hoặc thông qua một đơn vị nhập uỷ thác giao nhận.

 Bước 7: Kiểm tra hàng hoá NK
Công ty sau khi nhận hàng hoá phải kiểm tra hàng hoá: Kiểm tra chất lượng, số
lượng, khối lượng Nếu không thấy hợp lý như trong hợp đồng NK có quyền yêu cầu
bên nhập khẩu đền bù thiệt hại hoặc giao lại lô hàng khác

 Bước 8: thanh toán tiền hàng
Sau khi nhận hàng hóa nhập khẩu , kiểm tra không sai sót gì, thì bên nhập khẩu
sẽ phải thanh toán tiền hàng nhập khẩu như đã thoả thuận trong hợp đồng.

Có nhiều phương thức thanh toán tiền hàng, tuùy thuộc vào từng hợp đồng nhập
khẩu quy định mà thanh toán cho hợp lý. Thực tế thì có các loại thanh toán chủ yếu sau:
Thanh toán bằng thư tín dụng, thanh toán bằng phương thức nhờ thu, điện chuyển tiền

 Bước 9: Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng XNK phát hiện thấy rằng nhập
khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, bị thiếu hụt, mất mát thì lập hồ sơ khiếu nại để khỏi lỡ thời gian

minh họ gặp được một trong các căn cứ miễn trách sau:
- Lỗi của trái chủ
- Lỗi của bên thứ ba
- Gặp trường hợp bất ngờ
- Gặp trường hợp bất khả kháng
Trong bốn căn cứ trên, bất khả kháng là trường hợp hay gặp nhất trong buôn bán
quốc tế như thiệt hại do không lường trước được, do không vượt qua được, do xảy ra
bên ngoài và độc lập với các bên. Vì luật pháp các nước quy định về bất khả kháng là
khác nhau nên khi ký hợp đồng người ta phải liệt kê một cách cụ thể các trường hợp coi
là bất khả kháng, đồng thời người thụ trái phải trực tiếp báo cho bên kia toàn bộ sự việc
từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc bằng một văn bản.

3.3. Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhập khẩu
Khi vi phạm hợp đồng nhập khẩu, thụ trái phải chịu trách nhiệm dân sự này được
thể hiện thông qua 4 loại chế tài sau:

 Chế tài phạt:
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
15
Phạt là một hình thức trách nhiệm, một loại chế tài được áp dụng phổ biến đối
với vi phạm hợp đồng ngoại thương. Luật pháp các nước đều cho phép trái chủ có
quyền yêu cầu thụ trái trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng nếu như
trong hợp đồng hoặc các văn bản có liên quan, có mức quy định mức phạt và sau khi đã
nộp tiền phạt rồi thì không phải bồi thường thiệt hại nữa, trừ nhứng trường hợp cá biệt
đã quy định cụ thể. Có hai loại phạt là phạt bội ước và phạt vạ:

Phạt bội ước: Là bên thụ trái phải nộp số tiền nhất định và sau khi nộp phạt thì
không phải thực hiện hợp đồng nữa.

Phạt vạ ( phạt chậm thực hiện hợp đồng) là phải nộp một số tiền nhất định, trong

giao thiếu hàng, hàng có phẩm chất xấu, khi người mua không trả tiền hàng Khi có
những vi phạm này, bên vi phạm vẫn phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ quy
định trong hợp đồng. Điều này có nghĩa là nếu người bán không giao hàng, người mua
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
16
có quyền buộc người bán thực hiện thực sự giao hàng bằng chính số hàng dự kiến. Nếu
không có hàng thì người bán phải mua hàng khác với cùng phẩm chất để giao và tự trả
chi phí.

Khi bên bị vi phạm đòi bên vi phạm thực hiện thực sự mà không được thoả mãn,
thì họ có quyền kiện ra toà án để buộc bên vi phạm phải thực hiện. Chế tài này có thể
áp dụng đồng thời với chế tài phạt.

 Chế tài huỷ hợp đồng.
Chế tài này được coi là nặng nhất đối với người bị vi phạm hợp đồng. Điều kiện
để áp dụng chế tài này không giống nhau ở các nước khác. Theo công ước Viên - 1980
thì việc huỷ hợp đồng chỉ được áp dụng khi không giao hàng hoặc không trả tiền trong
thời gian đã gia hạn thêm hoặc khi vi phạm một cách cơ bản hợp đồng đã được ký kết.

Để cho việc hủy hợp đồng có hiệu lực thì bên vi phạm hợp đồng phải sẵn sàng
làm mọi nghĩa vụ cuả mình và thông báo cho phía bên kia biết quyết định huỷ hợp đồng
của mình. Trường hợp đã nhận hàng thì các bên tự phải thương lượng giải quyết với
nhau hoặc nhờ trọng tài giải quyết.

Việc huỷ hợp đồng sẽ mang lại hậu quả pháp lý như: hai bên được giải phóng
khỏi các nghĩa vụ hợp đồng, nếu phần nào của hợp đồng đã được thực hiện thì có quyền
yêu cầu phía bên kia hoàn chi phí lại. Nếu hai bên có cùng nghĩa vụ bồi hoàn thì nghĩa
vụ đó phải được thực hiện song song.

Bên có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng sẽ phải bồi thường nếu gây thiệt hại cho

quán thương mại quốc tế, đảm bảo bí mật tài liệu, chứng cứ của các bên trong hoà giải.
+ Thủ tục hoà giải.
Đây là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn. Trọng
tài sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ sẽ đưa ra quyết định có tính bắt buộc đối với các bên
tham gia tranh chấp. Phán quyết này được luật pháp quốc gia cũng như quốc tế công
nhận, cho dù nó kết quả của sự thoả thuận có tính chất riêng tư hay do một hội đồng
trọng tài ban hành ( kể cả hội đồng đó không còn tồn tại sau phán quyết). Nếu bên nào
không thực hiện phán quyết này thì sẽ bị cưỡng chế thi hành đúng theo trình tự tư pháp.
Do được lập cùng với các điều khoản khác nên ngay cả khi hợp đồng chính đã kết thúc
hoặc vộ hiệu, thì cũng không làm điều khoản trọng tài vô hiệu một cách tương ứng.
+ Thủ tục tư pháp toà án.
Việc giải quyết tranh chấp theo phương thức này được thực hiện tại chính toà án
của một nước nào đó. Do tố tụng tư pháp ở từng nước là khác nhau nhưng lại mang một
số nét chung đã tạo nên ưu thế và nhược điểm của từng phương thức này. Tuy nhiên,
vấn đề phức là cần xác định được toà án được chọn, hiệu lực thi hành án ở các nước
liên quan, tính khách quan của Toà án đối với nước ngoài tham gia tố tụng, thời gian và
chi phí tố tụng. Nếu các bên không thoả thuận về luật nước nào để giải quyết tranh chấp
thì thẩm phán sẽ áp dụng nguyên tắc xung đột pháp luật áp dụng cho hợp đồng.
Việc giải quyết theo thủ tục theo Toà án là mang tính quyền lực Nhà nước; Bản
án được cưỡng chế thi hành và có tính dứt điểm trên quốc gia đó.

5. Luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu.
Do có yếu tố nước ngoài, hợp đồng NK có nguồn luật điều chỉnh phức tạp hơn
nhiều so với hợp đồng mua bán trong nước. Tính phức tạp này có thể mô tả bằng sơ đồ
giản lược sau: Tuy nhiên, để hợp đồng NK có hiệu lực thì trước hết nó phải tuân thủ pháp luật
quốc gia mà các chủ thể mang quốc tịch. Theo điều 3 – Luật thương mại Việt nam “
Các hoạt động thương mại và các quy định pháp luật khác có liên quan” Cũng theo luật
Thương mại, các bên trong hợp đồng có thể áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước
ngoài và tập quán quốc tế trong hoạt động Thương mại và các trường hợp:

Điều ước quốc tế nà Nhà nước Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
với quy định của luật Thương mại Việt nam thì các bên trong hợp đồng áp dụng quy
định của điều ước quốc tế.

Các bên có thoả thuận áp dụng luật nước ngoài nếu không trái với pháp luật Việt
nam, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định
áp dụng luật nước ngoài.

Các bên có thể thoả thuận áp dụng tập quán Thương mại quốc tế nếu nó không
trái với pháp luật Việt nam.

Như vậy, trong mua bán quốc tế các bên hoàn toàn có quyền tự do thoả thuận
nguồn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là
các bên nên chọn nguồn luật nào sao cho phù hợp mà vẫn đảm bảo được quyền lợi của
mình. Tổ chức quốc tế

Thương nhân Việt
nam


thể dựa vào các điều quy ước quốc tế và ngoại thương.

Đối với những điều ước quốc tế mà Việt nam không ký, chưa ký hoặc không
thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với chủ thể Việt nam trong hợp đồng nhập
khẩu chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu , nếu các bên thoả
thuận dẫn tới trong hợp đồng.

Nếu trong điều ước quốc tế về ngoại thương có những quy định khác với pháp
luật Việt Nam ( mà Việt Nam chưa tham gia ký kết hoặc công nhận) thì có quyền bảo
lưu, tức là chỉ áp dụng từng chương, mục của công ước nếu không trái với pháp luật
Việt nam.

5.3. Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen phổ biến được nhiều nước áp
dụng và công nhận rộng rãi. Thông thường, các tập quán thương mại quốc tế
được chia làm 3 nhóm:

- Tập quán có tính chất nguyên tắc: Là những tập quán cơ bản bao trùm được
hình thành trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và bình đẳng giữa các quốc
gia.
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
20
- Tập quán thương mại quốc tế chung: Là các tập quán thương mại được nhiều
nước công nhận và áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực. VD: Các điều kiện
thương mại quốc tế do phòng thương mại quốc tế tập hợp và soạn thảo ( gọi
tắt là incoterm). Trong đó quy định các điều kiện thương mại khác nhau như
FOB, CIP, CIF được rất nhiều nước trên thế giới thừa nhận và áp dụng.
- Tập quán thương mại khu vực: Là các tập quán thươngmại quốc tế chỉ được
áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng. Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
21
Phần II:
Thực trạng hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu ở Công ty vận tải
và Đại ly vận tải - Hà nội ( VITACO).

I. Khái quát chung về Công ty vận tải và đại lý vận tải - hà nội.

1. Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty vận tải và đại lý vận tải - Hà nội, tên giao dịch quốc tế là VITACO, trụ
sở tại số 4 Ngô Quyền- Hà nội. Công ty là một thành viên của Tổng công ty xuất nhập
khẩu nông sản và thực phẩm chế biến Hà Nội, được thành lập năm 1970. Tiền thân của
Công ty là Xí nghiệp vận tải của Tổng cục trang bị kỹ thuật, Bộ nông nghiệp.

Trải qua 30 năm phát triển, Công ty Vận tải và Đại lý vận tải thăng trầm với sự
biến động cuả nền kinh tế. Trước kia trong nền kinh tế tập trung với quy mô chỉ là một
xí nghiệp vận tải. Ngày nay Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, nhưng từng bước tổ chức của Công ty có nhiều sự thay
đổi, sát nhập dần và hiện nay trở thành một thành viên của Tổng công ty Xuất nhập
khẩu Nông sản và thực phẩm chế biến. Cụ thể có những thay đổi sau:

- Năm 1986 sát nhập với Ban Đaị lý vận tải của Bộ Nông nghiệp thành Công
ty Vận tải và Đại lý Vận tải.
- Năm 1991 Công ty được thành lập lại theo nghị quyết 338 có tên là Công ty
vận tải và Đại lý vận tải thuộc Bộ Nông nghiệp Công nghiệp thực phẩm.
- Năm 1998: Công ty là thành viên của Tổng công ty Xuất nhập khẩu Nông
sản và thực phẩm chế biến thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn


Chủ động điều phối các hoạt động kinh doanh và quản lý các đơn vị trực thuộc
theo phương án tối ưu, thực hiện các mục tiêu đề ra.

Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên Công ty theo chế độ, chính sách của
Nhà nước và phân cấp của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật về mọi mặt.
Hoàn thành kế hoạch các chỉ tiêu Nhà nước đặt ra, kinh doanh đúng pháp luật,
đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra.

Phát huy ưu thế uy tín hàng nội địa trên thương trường Quốc tế, mở rộng củng
cố và phát triển mối quan hệ làm ăn với bạn bè quốc tế.

Với chức năng nhiệm vụ trên, trải qua 30 năm hoạt động, Công ty đã không
ngừng phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch của Nhà nước và Tổng công ty giao
cho, mục tiêu chiến lược kinh doanh luôn đảm bảo đúng pháp luật, quán triệt phương
châm, đường lối chính của Đảng và Nhà nước, đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ, thống
nhất, hỗ trợ nhau trong Công ty.

Trong cơ chế cũ, Công ty ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp quá sâu của Nhà
nước, tạo ra cơ cấu quản lý cồng kềng, bộ máy kinh doanh thụ động. Mặc dù vậy, nhìn
chung cho đến năm 1989 – 1990, hoạt động kinh doanh của Công ty vẫn ổn định và tiến
tới cùng với đội ngũ cán bộ, công nhân viên có kinh nghiệm, tạo tiền đề to lớn cho sự
nghiệp của Công ty trong cơ chế mới.

Những năm hoạt động chuyển sang cơ chế thị trường, mặc dù Công ty gặp nhiều
khó khăn, hoạt động Công ty chưa thực sự có hiệu quả cao về nhiều mặt, hiệu quả kinh
doanh chưa thực sự cao, chưa sử dụng triệt để nguồn lực của Công ty. Nhưng với sự
đoàn kết, nhất trí trong tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty, cùng với kinh

 Phòng Tổ chức nhân sự: Trong quá trình hoạt động phòng có nhiệm vụ chính
là tuyển lựa các lao động có đầy đủ năng lực và trình độ vào những nơi còn
thiếu tổ chức sắp xếp và thực hiện chế độ đối với cán bộ công nhân viên
trong Công ty và giúp Giám đốc nghiên cứu và xây dựng bộ máy phù hợp,
xây dựng quy chế nội quy, quy định của sản xuất.

 Phòng Kế hoạch sản xuất: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất, phương
hướng sản xuất kinh doanh, tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh Vận tải và
Đại lý vận tải xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, tổng hợp kết
quả, báo cáo lãnh đạo.

 Phòng kinh doanh tổng hợp: Phòng có chức năng chủ yếu nhưu xây dựng kế
hoạch phương hướng kinh doanh tổng hợp, khai thác các nguồn hàng xây
dựng phương án tổ chức điều hành kinh doanh tổng hợp, tổng hợp đánh giá
kết quả kinh doanh tổng hợp.

 Phòng Tài chính kế toán: Giúp Giám đốc tổ chức hạch toán kinh doanh, cụ
thể như nắm giữ sổ sách, ghi lại các nghiệp vụ chi tiêu của Công ty và lập
bảng tổng kết, nắm giữ và quản lý vốn, có trách nhiệm giao vốn và hạch toán
các hoạt động xuất nhập khẩu. Một điều cần lưư ý là phòng Tài chính kế toán
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn Lªn Vinh
24
có nhiệm vụ hạch toán đúng giá thành sản phẩm, thực hiện đúng chế độ mở
sổ ghi chép ban đầu.

 Phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu: Tham mưu cho Giám đốc và Phó giám
đốc về việc lập kế hoạch và chiến lược kinh doanh xuất nhập khẩu. Dưới sự
điều hành của Giám đốc, các nhân viên phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu
thực hiện các khâu như chào hàng, xin giấy phép xuất nhập khẩu, mở L/C
làm thủ tục hải quan Ngoài ra phòng còn có nhiệm vụ khai thác triệt để

- Các loại đồ dùng trong nhà ăn, gia đình, khách sạn.
- Hàng nông lâm, thổ sản.
- Quạt điện các loại.

Công ty vận tải và đại lý vận 0tải kinh doanh XNK chịu sự ảnh hưởng cuả nhiều
yếu tố. Chẳng hạn như chịu sự ảnh hưởng hết sức phức tạp của môi trường bên ngoài và

Trích đoạn Hoàn thiện nội dung và phương phỏp xõy dựng hợp đồng nhập khẩ u. Quản lý hợp đồng nhập khẩu và quan hệ đối tỏc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status