NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ THỰC
TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
I.SUY THOÁI KINH TẾ
1. Khái niệm và nguyên nhân suy thoái
Chúng ta có thể đến với một cách hiểu khá đơn giản về Suy thoái
kinh tế: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài.”
Suy thoái kinh tế bao gồm những xu hướng:
* Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận. Tích tụ tư bản gắn liền xu
hướng chung của mức độ tập trung tư bản. Điều này tự nó làm giảm tỷ
suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng
hoảng.
* Tiêu thụ dưới mức. Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu
tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao
động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối
mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng
với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung.
* Sức ép lợi nhuận từ lao động. Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu
thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ
ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định
sẽ gây ra suy thoái kinh tế.
Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần
này là sự suy sụp của thị trường bất động sản. Ở Mỹ, gần như hầu hết người
dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời
gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và
tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì
người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị
trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp.
Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động
sản:
Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục
Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân

2. Diễn biến của suy thoái
Trước tiên, chúng ta sẽ bắt đầu từ tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ
(hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá
chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi
đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất
động sản dưới chuẩn ở Mỹ.
* Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng
đầu tiên tại châu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị
trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ. Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB của
Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ.
* Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo
đến bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay
thế chấp Northern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh.
* Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ -
công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập
dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ
chức vào ngày 4/11.
* Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với
nạn nhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn
bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm. Cổ
phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney
* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền
gửi và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial
sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các
khoản cho vay khó đòi quá lớn.
* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng
4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất
thoát quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các

USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và
ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm
gần một nửa. Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80%
cổ phần. Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của
Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD.
* 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh;
Tập đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ
kiềm chế tình trạng bán khống.
* 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ
công bố kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó
khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính.
* 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập
đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại
Phố Wall.
* 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để
thâu tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại
Lehman tại châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20%
cổ phần Morgan Stanley.
* 23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman
Sachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và
Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
* 25/9/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng
lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay
thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm
soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho
JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu
đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội
đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.

hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh
hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại
suy thoái năm 1930.
* Ngày 10/10/2008: Tập đoàn bảo hiểm có lịch sử hoạt động 98 năm tại
Nhật là Yamato Life Insurance Co. chính thức đệ đơn xin được bảo hộ phá sản
do các khoản nợ đã vượt tài sàn 11,5 tỷ yen (tương đương 116 triệu USD).
Đây được coi là mốc đánh dấu cuộc khủng hoảng đã lan sang châu Á.
* Ngày 13/10/2008: Giải Nobel Kinh tế 2008 được công bố thuộc về Giáo
sư Paul Krugman. Ngoài thành tích xây dựng mô hình ứng dụng thương mại
toàn cầu, ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống Bush,
và là người vạch ra những hiểm họa của tự do thị trường thiếu sự giám sát của
Chính phủ.
* Ngày 14/10/1008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải
cứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu
ưu đãi của các ngân hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải
cứu, vì trong kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại
nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần .
Chúng ta biết rằng, ở Mỹ "gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải
vay tiền ngân hàng và trả cả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó,
có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị
trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi
mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân,
người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp. Bắt đầu từ năm
2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ - nền kinh tế lúc này quả thật đang trì
trệ, mục đích giảm lãi suất một phần cũng để khôi phục nền kinh tế, tuy nhiên
đằng sau vẫn còn một nguyên nhân khác nữa, cục dự trữ liên bang Mỹ ( FED)
đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho
vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do
các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất
cơ bản của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ

trường bên ngoài.
Trong khi đó, rất nhiều nước trên thế giới coi Mỹ là thị trường xuất khẩu
chính, như Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc, các nước Đông
Nam Á, và coi đây là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế. Do đó, nhu
cầu sụt giảm ở Mỹ đồng nghĩa với sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của
những nước này. Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại vì Mỹ là nước tiêu dùng lớn
nhất thế giới còn Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Nếu người
Mỹ không mua, hàng “Made in China” sẽ đi về đâu?
Trung Quốc cũng là một ví dụ rõ ràng về việc những mắt xích trong chuỗi
thương mại quốc tế sẽ chịu tác động ra sao từ sự suy thoái của Mỹ. Trước đây,
các trung tâm chế tạo của châu Á như Hàn Quốc và Đài Loan trực tiếp sản
xuất hàng thành phẩm như hàng điện tử để xuất khẩu trực tiếp sang Mỹ.
Nhưng với sự nổi lên của Trung Quốc trong lĩnh vực này, các nước châu Á đã
chuyển sang sản xuất linh kiện để xuất sang Trung Quốc.
Sau đó, Trung Quốc tiến hành lắp ráp rồi xuất sang Mỹ. Do đó, nhập khẩu
của Mỹ đi xuống làm xuất khẩu của Trung Quốc giảm, dẫn tới nhu cầu của
Trung Quốc đối với linh kiện do các nước châu Á khác sản xuất cũng “lao”
theo.
b. Đồng USD yếu khiến mọi chuyện thêm tồi tệ
Sự suy yếu của kinh tế Mỹ và việc FED liên tiếp cắt giảm lãi suất USD đã
khiến giá trị đồng tiền này giảm mạnh so với nhiều đồng tiền khác như Euro,
Yên và Won. Đồng USD yếu sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ, nhưng lại là cơn
ác mộng đối với các nhà xuất khẩu Đức, Nhật và Hàn Quốc - những nước vốn
phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ.
c.“Bong bóng” bất động sản sẽ nổ tung toàn cầu
Mỹ không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới có tình trạng bong bóng
xảy ra trên thị trường bất động sản trong những năm gần đây. Hoạt động tín
dụng lỏng lẻo, mức lãi suất thấp và dài hạn cũng diễn ra ở nhiều quốc gia
khác, nhất là ở châu Âu. Mỹ không phải là nước duy nhất mà “bong bóng” bất
động sản đã vỡ.

kinh tế Mỹ. Những khoản thua lỗ trong hoạt động tại Mỹ cũng sẽ khiến các tập
đoàn đa quốc gia đi đến chỗ cắt giảm đầu tư vào các nhà máy không chỉ ở Mỹ
mà còn nhiều nơi khác trên thế giới. Các tập đoàn tại châu Âu sẽ chịu tác động
đặc biệt lớn do họ phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng nhiều hơn các
doanh nghiệp Mỹ. Sự thắt chặt tín dụng toàn cầu sẽ hạn chế khả năng của họ
trong việc sản xuất, thuê nhân công và đầu tư.
Cách tốt nhất để xem cơn bão tài chính này lan rộng ra sao là theo dõi thị
trường chứng khoán toàn cầu. Các nhà đầu tư e dè hơn trước những rủi ro khi
nền kinh tế của họ có vẻ như tăng chậm lại. Do đó, bất kỳ khi nào những thông
tin xấu về kinh tế Mỹ xuất hiện, các nền kinh tế khác cũng ngay lập tức lo theo.
Một kịch bản thường gặp là các nhà đầu tư Wall Street bán tháo cổ phiếu,
khiến chỉ số Dow Jones sụt giảm và một vài giờ sau, các chỉ số chính của thị
trường chứng khoán châu Á cũng mở cửa với đường đi dốc xuống. Rồi sau
đó, tình hình các thị trường chứng khoán châu Âu cũng diẽn biến tương tự.
Điều này có thể nhận thấy rõ trong đợt suy giảm mạnh toàn cầu của thị trường
chứng khoán tháng 1 vừa qua.
f. Các ngân hàng trung ương “bó tay”
Những người lạc quan tin tưởng rằng các ngân hàng trung ương có thể
cứu thế giới khỏi những tác động tiêu cực của tình trạng suy thoái kinh tế ở
Mỹ. Như ở kỳ suy thoái năm 2001, FED đã cắt giảm lãi suất từ 6,5% xuống còn
1%, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giảm lãi suất từ 4% xuống 2%, còn
Ngân hàng Trung ương Nhật (BOJ) giảm lãi suất xuống 0.
Nhưng ngày nay, khả năng của các ngân hàng trung ương trong việc sử
dụng các công cụ tiền tệ để kích thích tăng trưởng và hạn chế tác động của
tình trạng kinh tế tăng chậm lại toàn cầu đã bị hạn chế hơn trước rất nhiều.
Lạm phát tăng cao tại nhiều nước đang “bó tay” các ngân hàng trung ương.
FED sẽ còn cắt giảm lãi suất, nhưng chắc chắn sẽ lo ngại về tình trạng
mất giá liên tiếp của USD sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại không
muốn bỏ tiền mua các loại trái phiếu của Mỹ. Và trong nền kinh tế toàn cầu nói
chung, đồng USD yếu cũng là một trò chơi có tổng bằng 0, đồng USD yếu sẽ

3,2% GDP vào năm 2004. Nhưng lần này, thâm hụt ngân sách của Mỹ đã ở
mức cao và Chính phủ Mỹ chỉ có thể thực hiện kích thích tài chính bằng 1%
GDP theo như đã nêu trong kế hoạch kích thích kinh tế trọn gói mới đây của
ông Bush. Tình hình ở Mỹ và châu Âu cũng tương tự.
Vào thời điểm hiện nay, kế hoạch kích thích kinh tế này của ông Bush quá
nhỏ để có thể tạo ra một sự khác biệt lớn, và những gì mà FED đang làm là
quá ít ỏi và muộn màng. Nước Mỹ sẽ phải mất nhiều năm để giải quyết những
vấn đề đã dẫn tới cuộc khủng hoảng này. Quản lý yếu kém đối với hoạt động
cho vay cầm cố, sự thiếu minh bạch đối với những sản phẩm tài chính phức
tạp, chính sách khuyến khích thiếu hợp lý trong gói lương thưởng cho lãnh đạo
các ngân hàng, quản lý rủi ro kém, đánh giá tín dụng sai lầm… và còn rất nhiều
vấn đề khác nữa.
Cuối cùng, trong thế giới phẳng ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia vào những thời điểm tốt đẹp. Nhưng không
may, chính những ràng buộc thương mại và tài chính này cũng đồng nghĩa với
việc tăng trưởng yếu đi ở nơi này sẽ kéo theo tăng trưởng ở những nơi khác.
Không phải nước nào cũng sẽ suy thoái cùng với Mỹ, nhưng chắc chắn không
nước nào có thể “miễn nhiễm”.
4. Tác động của suy thoái đến VIỆTNAM
Nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng tới xuất khẩu và đầu tư
nước ngoài như bất cứ một quốc gia đang phát triển nào khác, nhưng hệ thống
tài chính ngân hàng Việt Nam hiện có thể đứng vững trước cơn sóng gió này.

Trích đoạn Chỉ số giá tiêu dùng giá vàng giá USD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status