Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội bộ trong hoạt động ngân hàng thương mại - Pdf 24

Mục lục
Mục lục 1
lời mở đầu 5
Chơng i 6
Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội
bộ tronghoạt động ngân hàng thơng mại. 6
I. Cơ Sậ Lí LUậN CHUNG Về KIểM TOáN 7
1. Sự hình thành và phát triển của toán trên thế giới và ở Việt nam. 7
2. Bản chất của kiểm toán. 9
3. Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trờng. 13
4. Các loại hình kiểm toán và các bớc cơ bản để tiến hành một cuộc
kiểm toán 15
4.1. Các loại hình kiểm toán 15
a. Phân loại kiểm toán theo chức năng: 15
b. Phân loại kiểm toán theo chủ thể tiến hành. 16
4.2. Các bớc tiến hành một cuộc kiểm toán. 19
a. Lập kế hoạch và chơng trình kiểm toán: 19
b. Thực hiện kiểm toán: 20
c. Hoàn tất và lập báo cáo kiểm toán. 21
d. Theo dõi sau kểm toán: 22
4.3. Các phơng pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm toán. 22
a. Phơng pháp kiểm toán cơ bản: 22
b. Phơng pháp kiểm tra, kiểm soát: 23
c. Phơng pháp kiểm toán cân đối: 23
d. Phơng pháp đối chiếu: 23
đ. Phơng pháp kiểm kê: 24
e. Phơng pháp điều tra: 24
f. Phơng pháp thực nghiệm (còn gọi là phơng pháptrắc nghiệm). 24
g. Phơng pháp chọn mẫu kiểm toán : 24
II . KIểM TOáN NGâN H NG THơNG MạI TRONG NềN KINH Tế
THị TRƯấNG: 25

I. ĐặC đIểM KINH Tế X ã HẫI CẹA địA B N QUậN ĐẩNG đA. 45
II. đôI NéT Về HOạT đẫNG NGâN H NG CôNG THơNG ĐẩNG ĐA V
KếT QUả HOạT đẫNG KINH DOANH CẹA NGâN H NG . 47
1. Khái quát về hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Công thơng Đống
Đa: 47
2. Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. 50
III, THC TRạNG CôNG TáC KIểM TOáN NẫI Bẫ đẩI VI HOạT đẫNG
TíN DễNG TạI CHI NHáNH NGâN H NG CôNG THơNG ĐẩNG ĐA. 54
1. Tổ chức và hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Chi
nhánh Ngân hàng công thơng Đống Đa. 54
a. Cơ cấu tổ chức của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại chi
nhánh Ngân hàng công thơng Đống Đa. 54
b. Nhiệm vụ của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Chi nhánh
Ngân hàng công thơng Đống Đa. 55
2. Thực trạng hoạt dộng tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng công thơng
Đống Đa dới góc độ đánh giá của kiểm toán nội bộ. 58
a. Về chỉ tiêu tổng d nợ: 59
b. Cơ cấu d nợ theo thời hạn. 59
c. Cơ cấu d nợ theo thành phần kinh tế: 61
d. Cơ cấu d nợ theo ngành kinh tế. 62
e. Cơ cấu d nợ theo loại tiền: VNĐ và ngoại tệ. 63
- 2 -
3. Tình hình công tác kiểm tra nội bộ đối với hoạt đông tín dụng tại
ngân hàng. 65
3.1. Những đóng góp của công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ đối với
hoạt động tín dụng tại ngân hàng công thơng Đống Đa. 65
a. Việc thực hiện quy chế vế quy trình kiểm tra nghiệp vụ tín dụng
của Ngân hàng Công thơng Việt Nam. 66
b, Những kết quả đạt đợc qua kiểm tra: 79
c. Những dạng sai phạm chủ yếu qua kiểm tra, kiểm toán. 80

b. Tăng cờng công tác kiểm soát từ xa và áp dụng cộng nghệ tin học
vào kiểm tra kiểm toán 91
c. Đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của tổ KTKTNB tín dụng tại
Ngân hàng công thơng Đống Đa. 92
- 3 -
d. Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong kiểm tra kiểm toán, thực
hiện tốt giữa tự kiểm tra nghiệp vụ và kiểm toán nội bộ. 92
e. Thực hiện đầy đủ chức năng của kiểm toán nội bộ. 93
f. Giải pháp cho các vấn đề khác. 93
III. NHữNG KIếN NGHị Cễ THể . 94
1. Đối với các cơ quan Nhà nớc và Ngân hàng cấp trên. 95
a. Kiến nghị với NHNN và các cấp có thẩm quyền về hoàn thiện cơ
cấu tổ chức của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ 95
b. Kiến nghị với các cấp lãnh đạo Ngân hàng cấp trên về việc trang bị
thêm máy vi tính cho bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ
NHCTĐĐ: 96
c. Kiến nghị với NHNN và các cấp về giải quyết TSTC thu hồi nợ tồn
đọng. 96
d. Kiến nghị với Ngân hàng cấp trên (NHCTVN) về tăng cờng kiến
thức thực tế trong công tác của cán bộ kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
97
2. Kiến nghị đối với lãnh đạo Ngân hàng công thơng Đống Đa. 97
3. Kiến nghị đối với các cán bộ kiểm tra tín dụng Ngân hàng công thơng
Đống Đa. 98
Kết luận 100
- 4 -
lời mở đầu
ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, nhu cầu về kiểm toán đã trở nên tất yếu, một điều không

Kiểm toán nội bộ trong NHTM là một bộ phận hoạt động độc lập,
nhằm kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và các
mục tiêuquan trọng khác. Nhận xét, đánh giá tính trung thực, chính xác của
các thông tin kinh tế, các báo cáo tài chính, giúp ban quản lý Ngân hàng có
quyết định kinh doanh đúng đắn .
- 5 -
Kiểm toán nội bộ là cần thiết và vô cùng quan trọng, trong đó kiểm
toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng là bộ phận kiểm toán chủ yếu của
NHTM, vì hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanhn chủ yếu có ảnh hởng
quyết định đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
Mục đích của kiểm toán tín dụng là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất
các rủi ro có thể xảy ra, góp phần nâng cao chất lợng nghiệp vụ tài sản có
của ngân hàng, bảo vệ an toàn tài sản và ổn định hoạt động các ngân hàng th-
ơng mại.
Nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán, kiểm toán nội bộ nói
chung và kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại các NHTM nói
riêng, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Chi nhánh ngân hàng công th-
ơng Đống Đa, em đã chọn đề tài:
"Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm
toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng công th-
ơng Đống Đa -Hà Nội.
Nội dung khoá luận gồm 3 chơng: (ngoài lời nói đầu và kết luận)
Chơng 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội
bộ trong hoạt động ngân hàng thơng mại.
Chơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt
động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng công thơng Đống
Đa.
Chơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín
dụng tại Chi nhánh ngân hàng công thơng Đống Đa.

đi thuê các nhà quản lý cho các chi nhánh, cơ sở của mình.
Với sự tách biệt về chủ sở hữu và việc quản lý nên phải tăng cờng
kiểm tra để bảo vệ tài sản của họ, nhằm chống lại nguy cơ sai phạm không
chủ đích hoặc những gian lận do ngời quản lý và nhân viên làm công gây ra.
Các chủ nhà băng với t cách là ngời bên ngoài, sử dụng các báo cáo tài chính,
khi cho vay tiền cũng chú ý đến việc xem xét các báo cáo tài chính có bị
lệch lạc do sai phạm và gian lận không?
Từ những năm 1930, sự phá sản của các tổ chức tài chính, các doanh
nghiệp trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính, là dấu hiệu
chứng minh điểm yếu của kế toán và kểm tra trớc tình hình mới. Kiểm toán
viên trở nên có trách nhiệm hơn với các cơ quan chức năng của Chính phủ, Sở
giao dịch chứng khoán, các nhà đầu t cũng nh các bên khác sử dụng thông tin
tài chính. Sự trung thực của báo cáo tài chính trở thành vấn đề tiên quyết có tầm
quan trọng to lớn trong qúa trình lựa chọn các quyết định đầu t tài chính.
Khi các doanh nghiệp ngày càng có quy mô lớn, ở Ca-na-da, Anh,
Mỹ... kiểm toán viên bắt đầu thực hiện lựa chọn mẫu các nghiệp vụ hơn là
kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Kiểm toán viên và các nhà quản lý
dần dần đi đến một chấp nhận chung mà một cuộc kiểm tra kỹ lỡng các
nghiệp vụ theo chọn mẫu sẽ đa ra các chỉ số tin cậy, có hiệu quả về sự chính
xác của các nghiệp vụ tơng tự đã đợc phản ánh trong các báo cáo tài chính.
ở Mỹ, sau cuộc khủng hoảng nặng nề về tài chính vào 1929, bắt đầu
từ năm1934, Uỷ ban bảo vệ và trao đổi tền tệ (SEC) đã đợc thành lập và quy
chế về kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực. Đồng thời, trờng đào tạo
- 7 -
kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về
baó cáo kiểm toán tài khoản của công ty .
Từ những năm 1950, xuất hiện nhiều tổ chức kiểm toán của Chính phủ
trong các lĩnh vực quân đội, hành chính và các xí nghiệp công cộng. Một tổ
chức quan trọng là văn phòng kế toán trởng (GAO: GERNERAL
ACCOUNTING OFFICE) đã có vai trò quyết định trong việc mở rộng phạm vi

của kế toán Việt Nam trong cơ chế thị trờng. Năm 1989, trớc nhu cầu biến
đổi có tính chất cách mạng trong cơ chế quản lý, cơ chế kinh tế của đất nớc,
sự thừa nhận một cách tất yếu của nền sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trờng và
một cách quản lý tơng đối phù hợp với nó, trong đó có việc sử dụng ngày
- 8 -
càng hiệu quả các công cụ hạch toán và kiểm tra, kiểm soát, chế độ kế toán
mới đã đợc ban hành thay thế cho chế độ kế toán cũ đã lạc hậu. Thực tế, từ
năm 1989 đến năm 1990, Bộ tài chính kết hợp với một số ngành hữu quan
lần lợt cải tiến và ban hành một hệ thống các chế độ và văn bản pháp quy về
kế toán mới theo tinh thần kế thừa thành tựu của các chế độ kế toán trớc đây.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số nhợc điểm của chế độ ban hành năm 1989,
cha bắt kịp với tình hình phát triển của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam. Do
vậy, sau một thời gian soạn thảo, nghiên cứu và thử nghiệm, tháng 12-1995,
Thủ tớng Chính phủ cho phép Bộ tài chính ban hành hệ thống kế toán tài
chính doanh nghiệp, hệ thống kế toán tài chính này bớc đầu đã đáp ứng đợc
yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nớc. Đồng thời hoà nhập đợc thông lệ phổ
biến của kế toán quốc tế, có tính đến điều kiện của Việt Nam. Trong thời
gian này, hệ thống kế toán ngân hàng, mà trớc hết là kế toán của ngân hàng
Nhà nớc cũng đợc đổi mới căn bản phù hợp với yêu cầu của Ngân hàng thế
giới (WORLD BANK-WB) và quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF). Trong điều kiện
đó, kiểm toán cũng có điều kiện xuất hiện nh một tất yếu khách quan, công
tác nội kiểm và kiểm toán đã thể hiện những hạn chế lịch sử của nó, một chủ
thể kiểm tra tách ra, đứng độc lập với hệ thống tài chính, kế toán để giám
định trở lại, qúa trình kiểm toán phải đợc hình thành và phát triển theo đúng
ý nghĩa, bản chất của nó, và cần có một hệ thống tổ chức thích đáng.
Cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã dần đi đúng quỹ đạo của nó và
phát triển rất mạnh ở hầu khắp các nớc trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới
có những hãng kiểm toán, liên đoàn, Hội kiểm toán xuyên Quốc gia nh: cơ
quan kiểm toán tối cao Châu á ( ASOSAI), cơ quan kiểm toán tối cao Quốc
tế (INTOSAI), và INCOSAI, hoạt động nổi tiếng vì đạt đến chuẩn mực

định lợng, thông tin về báo cáo tài chính của một công ty, lợng thời gian mà
một công nhân cần để hoàn thành nhiệm vụ đợc giao, tổng chi phí theo một
hợp đồng xây dựng của Nhà nớc và bản khai thuế cá nhân có thể tiến hành
kiểm toán đợc.
Chuẩn mực để đánh giá thông tin số lợng cũng là những nguyên tắc,
thể lệ, quy định pháp luật, chuẩn mực kế toán, các chuẩn mực đợc chọn sẽ sử
dụng phụ thuộc vào các mục tiêu của cuộc kiểm toán.
+ Tổ chức kinh tế: đối tợng kiểm toán của các kiểm toán viên bao giờ
cũng đợc xác định, đó là phải kiểm toán tổ chức kinh tế nào, trong hầu hết
các trờng hợp tổ chức kinh tế cũng là những pháp nhân nh: một Công ty cổ
phần, một Ngân hàng thơng mại, tuy nhiên cũng có trờng hợp là cá nhân, các
phân xởng...Vì vậy kiểm toán viên cần phải xác định đơn vị, tổ chức kinh tế
đợc kiểm toán là ai để có phơng pháp và cách thức kiểm toán phù hợp.
- Thu thập và đánh giá bằng chứng:
Bằng chứng đợc định nghĩa là mọi tài liệu thông tin mà kiểm toán viên
đã sử dụng làm cơ sở để xác định xem thông tin số lợng đang đợc kiểm toán
có đợc trình bày phù hợp với các chuẩn mực đã xây dựng hay không. Bằng
chứng đợc tồn tại dới nhiều hình thức, có thể là những thông tin, lời khai của
chính đối tợng đợc kiểm toán, cũng có khi là của bên ngoài, và có thể là nhận
xét của kiểm toán viên.
Việc thu thập đủ số lợng, chất lợng bằng chứng là rất quan trọng để
thoả mãn các mục đích kiểm toán. Quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng
- 10 -
phù hợp với các chuẩn mực đã xây dựng rất cần thiết của mọi cuộc kiểm toán
.
- Cá nhân độc lập có đủ khả năng chuyên môn và thẩm quyền:
Tính độc lập là tiên quyết phải đợc đảm bảo khi kiểm toán. Mặc dù tính
độc lập chỉ là tơng đối song nó phải là mục tiêu hớng tới của kiểm toán viên.
Kết quả kiểm toán thực sự không có ý nghĩa nếu một cá nhân có đủ thẩm
quyền mà không vô t thu thập chứng cứ. Ngợc lại, một kiểm toán viên phải có

khác những thông tin mà kế toán đã đa ra thông qua quá trình hạch toán các
- 11 -
nghiệp vụ kinh tế phát sinh không đợc kiểm toán viên kiểm tra, xác nhận tính
trung thực, đúng đắn thì những thông tin ấy cha hẳn đã đảm bảo tính pháp lý,
hợp thức cao của nó.
Hiện nay, hoạt động kiểm toán còn rất mới mẻ cho nên việc lầm lẫn
giữa hai khái niệm này là không thể tránh khỏi. Vì vậy thông qua quá trình
nghiên cứu và phân tích có hệ thống, có khoa học thì sẽ đảm bảo đợc sự hiểu
biết chính xác về hai loại công cụ quản lý kinh tế này.
* Sự khác biệt giữa kiểm toán với thanh tra:
Mặc dù hai hoạt động: thanh tra, kiểm toán đều là một trong những
yếu tố cấu thành sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nớc, có chức năng kiểm tra,
kiểm soát, xác nhận sự đúng đắn trong hoạt của đối tợng kiểm tra, tuy nhiên
về cách thức tổ chức hoạt động và về bản chất cơ bản là khác nhau, cụ thể:
- Về cách thức tổ chức:
+ Thanh tra: hệ thống thanh tra kế toán tài chính đợc tổ chức theo ngành
dọc từ Trung ơng đến địa phơng và gắn liền với các tổ chức tài chính, gồm:
./ Thanh tra Nhà nớc: là cơ quan của Chính phủ.
./ Thanh tra tài chính: là một ban từ Trung ơng xuống địa phơng và
nằm trong ngành tài chính.
./ Trong tổ chức của Đảng và công đoàn cũng có hệ thống kiểm tra từ
Trung ơng đến địa phơng nằm trong các tổ chức đó.
./ Thanh tra của các ngành quản lý.
+ Kiểm toán: hệ thống kiểm toán đợc tổ chức theo hớng tập trung
thống nhất, bao gồm:
./ Hệ thống kiểm toán Nhà nớc với mục đích là kiểm tra tài chính
công, trong đó chủ yếu kiểm tra tính đúng đắn, hợp pháp của các hoạt động
thu, chi ngân sách và chi tiêu tài chính do ngân sách cấp, qua đó xác nhận số
liệu báo cáo làm cơ sở cho các cấp thanh quyết toán, thu chi ngân sách.
./ Hệ thống kiểm toán độc lập: cung cấp các dịch vụ kiểm toán theo

hành theo vụ việc, theo yêu cầu thì kiểm toán là hoạt động có tính chất thờng
xuyên hơn, mọi công việc kiểm toán đều đợc tổ chức theo một trình tự khái
quát từ việc chuẩn bị, đến lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán, và đợc thực
hiện bởi những kiểm toán viên trong hệ thống bộ máy kiểm toán.
Mặc dù việc thực hiện các biện pháp quản lý sai phạm không thuộc
chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán, nhng chức năng kiểm tra, xác nhận,
đánh giá và kết luận về đối tợng kiểm toán lại xác lập cho hoạt động kiểm
toán tính độc lập, chủ động và khách quan rất cao. Từ đó có những kiến nghị
thoả đáng với cấp có thẩm quyền để có quyết định đúng đắn trong quản lý,
điều hành sản xuất kinh doanh.
3. Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trờng.
Hoạt động của bất kỳ một Quốc gia, một tổ chức kinh tế nào đều nhằm
tiến tới sự hoàn thiện và sự phát triển cao , tuy nhiên đây là một lý tởng, bởi lẽ
sự biến động của môi trờng kinh tế - xã hội là tất yếu xảy ra và có tác động tích
cực hay tiêu cực tới kết quả hoạt động của quốc gia, của tổ chức kinh tế đó.
Nói nh vậy để khẳng định rằng, những kết quả và những hậu quả của
một quá trình hoạt động và phát triển của một pháp nhân, một chủ thể kinh tế
là tất yếu. Sự thất thoát tài sản, sự xụp đổ một chế độ, đổ vỡ chiến lợc kinh
- 13 -
doanh và những thành tựu kinh tế đạt đợc là hai mặt đối lập luôn tồn tại trong
một thể thống nhất. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để hạn chế tới mức thấp
nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với các chủ thể kinh tế trong hoạt động và
phấn đấu trên con đờng tiến tới mục đích của mình.
Câu hỏi này đợc đặt ra không chỉ đối với các cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền mà là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội. Nhận thức đợc
điều này, các nhà quản lý và hoạch định chính sách kinh tế ở tầm Quốc gia
và xuyên Quốc gia đã xây dựng và áp dụng các công cụ quản lý kinh tế - xã
hội. Trong đó, kiểm toán là một công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ
thống các công cụ quản lý nền tài chính, tiền tệ, ổn định chính trị xã hội
Quốc gia, Quốc tế.

- 14 -
1747 tỷ đ. Qua đó đã giúp các cơ quan địa phơng, đơn vị chấn chỉnh các
thiếu sót, sai phạm, ngăn ngừa lãng phí, chống tham ô, giữ gìn kỷ cơng, quản
lý tài sản công quĩ. Đồng thời, kiểm toán Nhà nớc đã cung cấp cho Quốc hội
và Chính phủ những báo cáo, thông tin trung thực, khách quan về tình hình
quản lý kinh tế, tài chính, giúp cho việc chỉ đạo và có những quyết sách kịp
thời. Những kết quả đạt đợc đã giúp cho kiểm toán Nhà nớc từng bớc khẳng
định đợc vai trò, vị trí của mình, đó là những thành tích rất đáng khích lệ cần
khẳng định và tiếp tục phát huy".
Nh vậy, kiểm toán là hoạt động tất yếu phải tồn tại, là công cụ quản lý
hữu hiệu của Nhà nớc, là một trong các công cụ quản lý quan trọng trong các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, là phơng tiện không thể thiếu của bên thứ
ba khi sử dụng để đa ra quyết định kinh doanh đúng đắn cho mình. Hoạt
động kiểm toán là cần thiết, đảm bảo hiệu quả trong mọi công tác kinh tế
cũng nh phi kinh tế trong xã hội.
4. Các loại hình kiểm toán và các bớc cơ bản để tiến hành một cuộc
kiểm toán
4.1. Các loại hình kiểm toán
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại kiểm toán, phổ biến là hai tiêu thức:
phân loại kiểm toán theo chức năng và phân loại kiểm toán theo chủ thể tiến hành.
a. Phân loại kiểm toán theo chức năng:
Toàn bộ các công việc kiểm toán hiện nay thực hiện theo ba chức
năng: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chinh.
a1, Kiểm toán hoạt động:
- Khái niệm: kiểm toán hoạt động là việc đánh giá mức độ hiệu lực và
tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận trực thuộc hay toàn bộ đơn
vị. Mức độ hiệu lực nói lên khả năng hoàn thành nhiệm vụ đợc giao và mục
tiêu của đơn vị. Tính hiệu quả là đạt đợc kết quả cao nhất với chi phí là thấp
nhất.
- Mục tiêu của kiểm toán hoạt động: nh định nghĩa đã nêu rõ, kiểm

đối của bảng báo cáo tài chính.
- ý nghĩa: Kiểm toán báo cáo tài chính: có ý nghĩa vô cùng quan trọng
bởi chính tầm quan trọng của báo cáo tài chính, bảng báo cáo tài chính là cơ
sở cho việc tính thuế nộp ngân sách Nhà nớc, là căn cứ cho các quyết định
đầu t, nó ảnh hởng đến giá cả chứng khoán của doanh nghiệp, của đơn vị đó
trên thị trờng. Do đó kiểm toán báo cáo tài chính thuộc về chức năng cơ bản
và quan trọng của hệ thống kiểm toán độc lập.
b. Phân loại kiểm toán theo chủ thể tiến hành.
Theo tiêu thức này kiểm toán đợc phân ra làm 3 loại: kiểm toán Nhà nớc,
kiểm toán độc lập, và kiểm toán nội bộ.
b1, Kiểm toán Nhà nớc.
- Khái niệm: kiểm toán Nhà nớc là việc kiểm toán do cơ quan kiểm
toán Nhà nớc tiến hành.
- Phạm vi: tiến hành các cuộc kiểm tra tuân thủ, xem xét việc chấp
hành các chính sách, luật lệ, chế độ của Nhà nớc và đánh giá sự hữu hiệu,
hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nớc.
- 16 -
-Vị trí: cơ quan kiểm toán Nhà nớc là một tổ chức trong bộ máy quản
lý của nhà nớc, kiểm toán viên Nhà nớc là các viên chức Nhà nớc.
- Mục tiêu, nhiệm vụ: kiểm toán Nhà nớc hoạt động với nhiệm vụ kiểm
tra xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo
quyết toán của các cơ quan Nhà nớc, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà n-
ớc và các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách
Nhà nớc cấp.
Kiểm toán Nhà nớc còn phải kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng trớckhi trình Quốc hội. Kiểm toán Nhà
nớc cũng phải kiểmtoán báo cáo của các bộ, cơ quan thuộc Quốc hội, toà án
nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã
hội có sử dụng kinh phí của Nhà nớc, báo cáo quyết toán của các doanh
nghiệp Nhà nớc...

doanh đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, các chính sách, chế độ kế toán, các nghị
quyết, quyết định của hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của tổ chức kinh tế đó.
+ Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý và trong bảo
vệ tài sản, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý
điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
Phụ lục các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam và bảng kê phận
loại kiểm toán.
Các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
Công ty 100% vốn
nớc ngoài.
Công ty liên doanh
Công ty của Việt Nam
Nhà nớc
Trách nhiệm hữu
hạn
-ERNZT and
YOUNG (E&Y-
1991).
-KPMG(1993)
-PRICE
WATERHOUSE
(1993)
-ARTHUR
ANDESEN(1995)
-VACO-DTTI
(1995-1997)
-C&L&AISC (1995)
VACO (1991)
-AASE (1991).
-AFSC (1994).

thủ,kiểm toán hoạt
động.
Kiểm toán báo
cáo tài chính.
Kiểm toán hoạt động.
Phơng thức tiến
hành kiểm toán
Bắt buộc. Thoảthuận(Hợp
đồng) hoặc theo
yêu cầu
Theo yêu cầu của GĐ
- 18 -
Kinh phí kiểm
toán
Không có. Có kinh phí. không có.
Trách nhiệm Với Nhà nớc. Với bên thứ ba. với GĐ
Báo cáo (trình
cho)
Nhà nớc. Công khai cho
các đơn vị liên
quan đến doanh
nghiệp
Dành cho GĐ.
4.2. Các bớc tiến hành một cuộc kiểm toán.
Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, dù cuộc kiểm toán đợc tiến hành
bởi chủ thể nào thì cũng phải tuân theo một trình tự nhất định của cuộc kiểm
oán, phải đảm bảo tính khoa học và logic kể từ khi xuất hiện yêu cầu kiểm
toán đến khi kết thúc cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực về trình tự một cuộc kiểm toán chung áp dụng ở Việt Nam
cha đợc thông qua mặc dù trình tự kiểm toán Nhà nớc và kiểm toán nội bộ đã

+ Xác định nội dung và phạm vi của cuộc kiểm toán.
+ Xác định phơng pháp, kỹ thuật kiểm toán, xác định thời gian kiểm
toán từ khi bắt đầu đến khi lập báo cáo kiểm toán.
+ Chuẩn bị nhân sự cho kiểm toán.
- Các bớc lập kế hoạch và chơng trình kiểm toán.
+ Kế hoạch sơ bộ.
+ Kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết.
+ Chơng trình kiểm toán.
Chơng trình kiểm toán là một bớc rất quan trọng của quá trình lập kế
hoạch kiểm toán vì chơng trình kiểm toán chính là việc rà soát lại những nội
dung, những vấn đề của một cuộc kiểm toán, sắp xếp các nội dung đó theo
một trình tự nhất định đảm bảo tính đầy đủ và khoa học của kế hoạch kiểm
toán, tạo những tiền đề cơ bản cho bớc thực hiện kiểm toán để cuộc kiểm
toán đạt chất lợng cao.
Nội dung của chơng trình kiểm toán với những vấn đề theo trình tự sau:
- Thu thập thông tin về các bộ phận và phác thảo chơng trình kiểm toán.
- Đối chiếu lại với kế hoạch kiểm toán xem có thích hợp không.
- Lựa chọn trình tự kiểm toán.
- Đánh giá xem lựa chọn trình tự kiểm toán có đúng đắn không.
- Lập chơng trình kiểm toán cụ thể.
b. Thực hiện kiểm toán:
- Sau các công việc chuẩn bị cho cuộc kiểm toán, kiểm toán viên dựa
vào kế hoạch chơng trình kiểm toán đã hoạch định, vận dụng các phơng
pháp, kỹ thuật để tiến hành kiểm toán.
Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên vận dụng
thực hiện các nội dung của phơng pháp và kỹ thuật kiểm toán nhằm thu thập
- 20 -
đầy đủ các bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao và có giá trị để làm cơ sở
cho việc lập báo cáo kiểm toán.
Mặt khác, việc kết hợp với các nhận thức cơ bản trong kiểm toán cũng

toán.
- 21 -
+ Soạn thảo báo cáo kiểm toán thông qua dự thảo báo cáo.
+ Xét duyệt và công bố kết quả kiểm toán.
+ Phát hành BCKT.
+ Lu trữ hồ sơ BCKT .
* Các loại báo cáo kiểm toán:
Báo cáo chấp nhận toàn bộ.
- Báo cáo chấp nhận từng phần.
- Báo cáo ý kiến đối ngợc.
- Báo cáo ý kiến từ bỏ.
d. Theo dõi sau kểm toán:
Theo dõi sau kiểm toán là quá trình kiểm tra đơn vị đợc kiểm toán
thực hiện kiến nghị của đoàn kiểm toán hoặc bộ phận kiểm toán nội bộ nh
thế nào? Có coi trọng các kiến nghị này hay không và đã làm đến đâu? Bằng
các phơng pháp điều tra trực tiếp hay điều tra gián tiếp để kiểm toán viên có
kết luận về tính chủ động, trách nhiệm trong công việc, tính quy củ trong
hoạt động sau kiểm toán của đơn vị.
- Bớc này là bớc rất quan trọng vì nó quyết định đến tính hiệu lực, hiệu
quả hay không của cuộc kiểm toán.
Trên đây là các bớc, các nội dung của quy trình một cuộc kiểm toán.
Tuân thủ theo quy trình, các nguyên tắc áp dụng trong quy trình kiểm toán sẽ
tránh đợc các rủi ro kiểm toán, loại bỏ những nhân tố ảnh hởng xấu đến chất
lợng một cuộc kiểm toán, nâng cao hiệu quả cuộc kiểm toán, tiết giảm các
chi phí không cần thiết.
4.3. Các phơng pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm toán.
Khi tiến hành cuộc kiểm toán, các kiểm toán viên và các đoàn kiểm
toán có thể sử dụng nhiều phơng pháp khác nhau để thu thập bằng chứng
kiểm toán, xác minh và đánh giá các thông tin kinh tế, sau đây là một số ph-
ơng pháp kiểm toán chủ yếu có thể lựa chọn trong quá trình kiểm toán để đạt

toán viên dựa vào để kiểm ttoán là một hệ thống có hiệu quả.
Phơng pháp này đợc sử dụng dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ là chủ
yếu, để kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống này, tồn tại có phải chỉ
là hình thức hay không để từ đó những ý kiến, những kiến nghị phù hợp.
c. Phơng pháp kiểm toán cân đối:
- Khái niệm: là phơng pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân
đối khác để kiểm toán các mối quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành các
quan hệ cân đối đó.
d. Phơng pháp đối chiếu:
Bao gồm phơng pháp đối chiếu trực tiếp và phơng pháp đối chiếu logic.
- Phơng pháp đối chiếu trực tiếp: là phơng pháp kiểm toán mà kiểm toán viên
tiến hành so sánh đối chiếu về mặt lợng của cùng một chỉ tiểu trên các tài liệu khác
nhau (các chứng từ kiểm toán ) để tìm ra các sai sót, gian lận về chỉ tiêu đó.
- 23 -
- Phơng pháp đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ bản
chất giữa các chỉ tiêu có quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến
động tơng ứng về trị số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, song có
thể có mức biến động khác nhau theo các hớng khác nhau.
đ. Phơng pháp kiểm kê:
Phơng pháp kiểm kê là phơng pháp kiểm tra hiện vật các loại tài sản
nhằm thu thập các thông tin về số lợng, giá trị của tài sản đó. Để đảm bảo
hiệu quả của công tác kiểm kê, kiểm toán viên cần vào tính chất của các loại
vật t, tài sản: số lợng, giá trị, đặc tính kinh tế.
- Kỹ thuật sử dụng phơng pháp này: kiểm kê toàn diện hoặc kiểm kê
điển hình, kểm kê chọn mẫu.
e. Phơng pháp điều tra:
Là phơng pháp kiểm toán mà theo đó bằng các cách khác nhau, kiểm
toán viên tiếp cận đối tợng kiểm toán nhằm tìm hiểu, thu thập các thông tin
cần thiết về tình huống, thực chất, thực trạng của một số sự vụ, bổ sung căn
cứ cho viẹc đa ra những đánh giá, nhận xét hay kết luận kiểm toán.

xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán.
Ngân hàng thơng mại và những trung gian tài chính nói chung cũng
nh các doanh nghiệp khác tổ chức mọi hoạt động để kinh doanh kiếm lợi
nhằm tồn tại, phát triển và thịnh vợng.
Tuy nhiên, ngân hàng thơng mại khác các tổ chức kinh tế khác ở chỗ
nó kinh doanh một mặt hàng đặc biệt là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Hoạt
động của ngân hàng chứa rất nhiều rủi ro, không những là rủi ro mất vốn tự
có của ngân hàng mà còn có rủi ro do mất vốn của khách hàng. Vì vậy, khi
có rủi ro xảy ra đối với ngành ngân hàng cũng có nghĩa là rủi ro đối với cả
kinh tế, bởi lẽ hoạt động của ngân hàng liên quan đến mọi đối tợng trong nền
kinh tế, kết quả hoạt động của ngành ngân hàng chi phối đến kết quả, triển
vọng của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân liên đới với ngân hàng .
Trong hoạt động ngân hàng, tổn thất trong kinh doanh là điều khó
tránh khỏi. Việc bảo vệ an toàn vốn tiền gửi của khách hàng và đảm bảo an
toàn vốn đầu t không những đựơc các nhà kinh doanh tiền tệ quan tâm mà
còn là mối quan tâm của toàn xã hội. Đứng trên tầm vĩ mô thì trách nhiệm
của cơ quan quản lí Nhà nớc là vô cùng lớn đối với sự an toàn và phát triền
của hệ thống Ngân hàng và phát triển thơng mại. Vì lẽ đó, Nhà nớc đã tăng c-
ờng càc công cụ quản lý của mình đối với các Ngân hàng thơng mại bằng
việc xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ hoạt động Ngân hàng, tổ chức các
hoạt động kiểm tra kiểm soát các Ngân hàng thơng mại nhằm hạn chế đến
mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.
Mặt khác NHTM là các đơn vị đợc hoạt động đợc cấp vốn bởi ngân
sách Nhà nớc cho nên cũng là đối tợng thờng xuyên phải kiểm toán của kiểm
toán Nhà nớc, kiểm toán Nhà nớc thờng kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn
Nhà nớc cấp cho các ngân hàng thơng mại, tình hình chấp hành cơ chế quản
lý tổ chức của Nhà nớc, của pháp luật.
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status