NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN
MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. SỰ CẦN THIẾT VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN
MẶT:
1.1.1. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt:
Cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, Ngân hàng ra đời
với nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ
thanh toán. Ngày nay khi nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn phát triển
mạnh mẽ thì tiền mặt không thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán của toàn
bộ nền kinh tế, do đó đòi hỏi phải có hình thức thanh toán phù hợp đáp ứng
nhu cầu lưu thông hàng hoá nền kinh tế. Hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt ra đời một mặt khắc phục được những hạn chế của thanh toán bằng
tiền mặt như chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển và không an toàn, đồng thời
có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá
của nền kinh tế. Thanh toán bằng tiền mặt là việc thanh toán trực tiếp bằng
tiền mặt trong quan hệ chi trả lẫn nhau về hàng hoá, lao vụ, được thực hiện
trực tiếp giữa người mua và người bán không thông qua trung gian nào khác.
Người mua phải có trong tay một lượng tiền mặt tương đương với giá trị
hàng hoá, lao vụ thì mới phát sinh quan hệ mua bán trao đổi giữa người mua
và người bán. Thanh toán bằng tiền mặt tuy có một số ưu điểm như tiện lợi thì
bên cạnh đó còn gặp một số hạn chế như : độ an toàn trong thanh toán bằng
tiền mặt không cao vì thanh toán bằng tiền mặt luôn có sự xuất hiện của tiền
mặt nên trong quá trình thanh toán giữa bên mua và bên bán phải có sự vận
chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt…do đó dễ dẫn đến mất mát và nhầm lẫn.
Hơn nữa thanh toán bằng tiền mặt làm cho vốn bị ứ đọng và chi phí lưu thông
tiền tăng.
Do tính chất của công việc trao đổi, thanh toán bằng tiền mặt có những
nhược điểm trên nên thanh toán không dùng tền mặt ra đời một mặt khắc
phục được những nhược điểm trên, mặt khác thúc đẩy lưu thông trao đổi hàng
hoá phát triển hơn không chỉ thanh toán trong cùng một quốc gia mà còn
thanh toán ra các quốc gia khác trên thế giới.

lưu thông, làm giảm chi phí trong việc in ấn, bảo quản, vân chuyển tiền mặt.
Lưu thông tiền tệ bao gồm hai bộ phận là thanh toán bằng tiền mặt và
thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt tạo khả năng tập chung nguồn vốn tín
dụng cho Ngân hàng để đầu tư sản xuất cho kinh doanh, tạo điều kiện phát
triển nền kinh tế. Để thực hiện việc thanh toán không dùng tiền mặt quy định
các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cá nhân phải mở tài khoản tiền gửi thanh
toán tại Ngân hàng, trên tài khoản luôn có một số tiền nhất định để tiến hành
chi trả trong trường hợp khách hàng có nhu cầu. Trong một số trường hợp khi
khách hàng này có nhu cầu thanh toán thì khách hàng khác lại gửi tiền vào tài
khoản, do đó trên tài khoản tiền gửi của khách hàng luôn tồn tại số dư nhất
định. Đây là nguồn vốn lớn nếu Ngân hàng có kế hoạch sử dụng hợp lý sẽ đem
lại hiệu quả lớn không chỉ cho Ngân hàng mà còn cho cả khách hàng. Vì khách
hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán Ngân hàng sẽ trả cho khách hàng số lãi
nhất định.
Thanh toán không dùng tiền mặt là công cụ thanh toán có hiệu quả
nhằm thu hút khách hàng đến với Ngân hàng của mình. Nếu Ngân hàng làm
tốt công tác thanh toán, thì chính nó là nguồn vốn tiềm tàng chảy vào Ngân
hàng. Nguồn vốn này Ngân hàng huy động được với chi phí thấp hơn nhiều vì
lãi suất tiền gửi thanh toán thấp hơn nhiều so với các hình thức huy động
khác như tiền gửi tiết kiệm..
Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt đối với quản lý vĩ mô của
Ngân hàng Nhà nước nói riêng và của Nhà nước nói chung: Ngân hàng là tổ
chức kinh tế của Nhà nước, thực hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng, thanh
toán. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nướcqua ngân hàng chỉ thực sự phát huy
có hiệu quả khi phần lớn khối lượng thanh toán tập chung qua Ngân hàng. Mở
rộng thanh toán không dùng tiền mặt do điều kiện của Ngân hàng nhà nước
quản lý một cách tổng thể quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, mặt khác
kiểm soát được mức tạo tiền và tăng tín dụng, thực hiện tốt chính sách tiền tệ.
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp hệ thông Ngân hàng thương mại

toán không dùng tiền mặt vào tháng 7 năm 1991, thanh toán không dùng tiền
mặt ở nước ta đã có sự thay đổi đáng kể để phù hợp với cơ chế thị trường.
- Hình thành các hệ thống thanh toán của Ngân hàng thương mại quốc
doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Nhà nước, thủ tục thanh
toán đơn giản hơn, đảm bảo an toàn…
- Phát triển nhiều công cụ thanh toán phù hợp với điều kiện Việt Nam
hiện nay và giảm bớt thanh toán bằng tiền mặt.
- Bên cạnh đó từng bước nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên Ngân
hàng, đáp ứng được với yêu cầu tiếp cận các phương tiện thanh toán hiện đại
trong khu vực cũng như trên thế giới.
- Từng bước xoá bỏ tập quán thích tiêu tiền mặt trong đại bộ phận dân
chúng, đồng thời tạo thói quen sử dụng các công cụ thanh toán không dùng
tiền mặt.
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam đòi hỏi nghành Ngân hàng phải có
những nỗ lực vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán để dần hoà chung
vào mạng lưới thanh toán quốc tế, rút ngắn được khoảng cách về trình độ
nghiệp vụ thanh toán so với Ngân hàng nước ngoài. Do vậy việc đầu tư trang
thiết bị hiện đại, đào tạo các chuyên gia kỹ sư giỏi về thanh toán và tin học là
điều tất yếu phải làm song song với việc khai thác các ưu thế về hình thức
thanh toán đang được áp dụng và đưa ra các hình thức thanh toán mới nhằm
mở rộng phạm vi và khối lượng thanh thanh toán qua Ngân hàng.
1.3. CÁC QUY ĐỊNH TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT:
- Để thống nhất các tổ chức thanh toán, đảm bảo quyền lợi cho các bên
cũng như thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã có những quy định về thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là những
quy định chung giúp cho quá trình thanh toán diễn ra thông suốt đồng thời
thực hiện tốt chức năng kiểm soát bằng đồng tiền của hệ thống Ngân hàng đối
với các hoạt động của các tổ chức kinh doanh và các cơ quan có hiệu quả.
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số nghị định, quyết định
của thanh toán không dùng tiền mặt. Ngày 25/11/1993 Chính phủ ra nghị

mua sau khi đã nhận hàng hoá, dịch vụ phải có trách nhiệm thanh toán tiền
hàng hoá dịch vụ cho bên bán, nếu thanh toán qua Ngân hàng thì phải đảm
bảo cho bên bán chứng từ hợp lệ tới Ngân hàng sẽ được thanh toán ngay,
tránh tình trạng chờ đợi lâu ngày ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
1.3.3. Quy định đối với bên thụ hưởng:
Người thụ hưởng sau khi nhận được các chứng từ thanh toán tiền hàng
hoá dịch vụ thì phải kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ đó (Giấy tờ
phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định, không sửa chữa, tẩy xoá…) đồng thời giao
hàng hoá dịch vụ cho bên mua theo giá trị chứng từ thanh toán. Nếu thiếu một
trong các yếu tố đó thì sẽ không được thanh toán.
Mục đích của quy định này nhằm tránh hiện tượng séc giả, ghi man…
giúp bên thụ hưởng tránh được thiệt hại.
1.3.4. Các quy định đối với Ngân hàng:
Ngân hàng và kho bạc Nhà nước phải chịu trách nhiệm:
- Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản đảm bảo chính
xác, an toàn, thuận tiện. Các Ngân hàng và kho bạc có trách nhiệm chi trả bằng
tiền mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi theo
yêu cầu của chủ tài khoản.
- Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện
thanh toán, Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu chủ tài khoản
không đủ tiền thanh toán đồng thời không chịu trách nhiệm liên đới của hai
bên khách hàng.
- Nếu do thiếu sót trong quá trình thanh toán thì Ngân hàng và kho bạc
Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng và tuỳ theo mức độ vi
phạm có thể bị xử lý theo pháp luật.
- Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách
hàng và đảm bảo lập đúng thủ tục quy định.
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán
không đủ các yêu cầu trên, cũng như các chứng từ không hợp lệ.
1.4.CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT:

1.4.3. Tâm lý:
Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đến thanh toán không dùng tiền mặt.
Nếu trình độ dân trí thấp, lạc hậu người dân không nắm được những tiện ích
của thanh toán không dùng tiền mặt, họ chỉ có thói quen thanh toán bằng tiền
mặt. Để các hình thức thanh toán được phổ biến trong dân cư thì Ngân hàng
phải chú ý đến yếu tố con người như nâng cao chất lượng cán bộ công nhân
viên, quảng cáo tuyên truyền cho người dân biết về tiện ích của thanh toán
này, có như vậy mới dần dần xoá bỏ được tâm lý chuộng tiện mặt và thúc đẩy
thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển.
1.5. NỘI DUNG CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT:
Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu và đưa áp dụng nhiều hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt đa dạng và phong phú. Nhưng tuỳ theo mô
hình kinh tế, trình độ quản lý, mức độ hoàn thiện hệ thống Ngân hàng của mỗi
nước để lựa chọn một số hình thức cụ thể vào áp dụng cho phù hợp với điều
kiện của mỗi nước sao cho có hiệu quả nhất. Hiện nay ở Việt Nam các đơn vị và
cá nhân thanh toán qua Ngân hàng áp dụng năm hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt sau:
* Uỷ nhiệm chi chuyển tiền.
* Uỷ nhiệm thu.
* Séc các loại.
* Thư tín dụng.
* Thẻ thanh toán.
1.5.1.Uỷ nhiệm chi – chuyển tiền:
Uỷ nhiệm chi: Là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in
sẵn của Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình trả cho bên thụ
hưởng.
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc
chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán trong cùng một tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán.

Người chi trả
(người phát
lệnh hay người
mua)
Tổ chức cung
ứng dịch vụ
thanh toán
(1)- Người bán giao hàng cho người mua.
(2)- Người mua gửi lệnh chi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
(3)- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gửi báo cáo Nợ cho người
mua ( trích TK của người mua )
(4)- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gửi báo Có cho người bán.
+ Thanh toán khác tổ chức cung ứng dịch vụ:

(1)

(3) (2) (5)
(4)
(1)- Người thụ hưởng giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua.
(2)- Người chi trả gửi lệnh chi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
(3)- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gửi báo Nợ cho người chi trả.
(4)- Chuyển tiền sang tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ
người thụ hưởng.
(5)- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gửi báo Có cho người thụ
hưởng.
* Quy trình hạch toán:
Người thụ
hưởng
Người chi trả
(người phát

Nợ: TK thanh toán vốn giữa các Ngân hàng thích hợp
Có: TK thanh toán người thụ hưởng
+ Hoặc TK chuyển tiền phải trả ( chuyển tiền cá nhân )
Việc thu phí chuyển tiền và thuế GTGT do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán phục vụ người chi trả thực hiện.
- Trường hợp thanh toán uỷ nhiệm chi khác Ngân hàng, khác địa bàn
nhưng cùng hệ thống:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status