Tài liệu Luận văn - Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu ở Công ty XNK và kỹ thuật b - Pdf 90

LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc độ ngày càng
nhanh và sâu sắc. Đó là xu thế tất yếu khách quan và là một quy luật mà mọi
quốc gia trong khu vực và trên thế giới đều phải tuân theo. Biểu hiện rõ nét nhất
của xu thế này là quá trình tự do hoá buôn bán trong khu vực và phạm vi toàn
cầu.
Thực hiện đường lối chuyển đổi nền kinh tế của đất nước hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương không ngừng mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế. Trong
đó,Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng để Việt Nam dần có chỗ đứng
trong khu vực và trên phạm vi thế giới, thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng VIII
đề ra: “Mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế
đối ngoại...xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực và thế giới...”*
Hoạt động Thương mại quốc tế bao gồm nội dung chủ yếu và quan trọng là các
hoạt động xuất nhập khâủ. Nếu xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ tích luỹ cho đất
nước thì hoạt động nhập khẩu tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai
thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, tài
nguyên và khoa học kỹ thuật. Xuất khẩu nhằm bảo đảm nguồn vốn cho nhập
khẩu và nhập khẩu phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng cơ cấu kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu...
Định hướng cho mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ rõ sự cần thiết: “...Đẩy mạnh xuất khẩu, huy
động các nguồn ngoại tệ để nhập khẩu các vật tư hàng hoá thiết yếu cho sản xuất
và đời sống, tích cực cân đối cán cân thanh toán quốc tế góp phần duy trì các cân
đối lớn của nền kinh tế.”**
Trang 1
* Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB sự thật.
** Nghị quyết đại hội đại Toàn quốc lần thứ VII. NXB sự thật
Thực hiện tốt công tác xuất nhập khẩu sẽ góp phần tích cực đáp ứng yêu cầu
cấp bách hiện nay của nền kinh tế.
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng hoạt động Xuất - Nhập khẩu của các doanh

cách hiệu quả những nhu cầu của con người ta về một loaị hàng hoá nào đó mà
nội địa chưa hoặc không có khả năng đáp ứng được.
Với ý nghĩa ấy, Nhập khẩu được hiểu là hoạt động mua hàng hoá của các
doanh nghiệp trong nước từ nước ngoài nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng cũng như sản xuất trong nước và là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng giữa
các quốc gia. Nhập khẩu là một trong những hoạt động cốt lõi của thương mại
quốc tế
2. Vai trò nhập khẩu đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Ngày nay, dưới tác động của xu thế tự do hoá thương mại, hầu hết các quốc
gia đều nỗ lực tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, đều hướng các chính
sách kinh tế, thương mại của quốc gia mình theo khuôn khổ các khối mậu dịch
mà họ sẽ tham gia ở tầm khu vực như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
( AFTA), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ( NAFTA), ... ở cấp độ liên lúc địa
Trang 3
như ASEM, và cao hơn nữa là cấp độ toàn cầu như tổ chức thương mại thế giới
WTO. Trong bối cảnh ấy hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập
khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế. Không phải là những
hành vi buôn bán lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền
thương mại có tổ chức cả bên trong nước và bên ngoài nước nhằm mục đích đẩy
mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định
và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Như vậy, hoạt động nhập khẩu tác
động trực tiếp lẫn gián tiếp tới sản xuất và đời sống trong nước, nó có thể đem lại
hiệu quả kinh tế cao cũng như gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nước do tính
chất phức tạp của nó khi có yếu tố quốc tế tham gia vào. Nhập khẩu với tư cách
là một trong hai hoạt động chủ yếu của thương mại quốc tế ngày càng đóng vai
trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như sự phát
triển của thương mại quốc tế.
Trước hết, nhập khẩu có vai trò to lớn trong việc bù đắp những thiếu hụt về
cầu do sản xuất trong nước chưa đáp ứng được. Không những thế, nhập khẩu còn
tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội, tạo nên sự phong phú về chủng loại, mẫu

toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam từng bước được
điều chỉnh cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, hội nhập mạnh mẽ vào nền
kinh tế thế giới. Vai trò của nhập khẩu ngày trở nên rõ rệt: Không chỉ là nhân tố
giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà còn là
nhân tố làm thay đổi diện mạo của các doanh nghiệp Việt Nam. Để tiếp tục phát
huy vai trò của hoạt động nhập khẩu, Nhà nước ta xác định: Trong hoạt động
kinh doanh, đặc biệt là hoạt động kinh doanh nhập khẩu, các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế cần chú ý tạo uy tín và quan hệ lâu dài với bạn hàng, coi
Trang 5
trọng tính hiệu quả kinh tế trong nhập khẩu, biết kết hợp hài hoà giữa các mặt lợi
ích.
3. Các hình thức nhập khẩu.
Không phải ngẫu nhiên ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào các
hoạt động thương maị quốc tế mà là do kinh doanh quốc tế có sự phong phú đa
dạng về các phương thức hoạt động. Chính sự đa dạng này cho phép các doanh
nghiệp tìm thấy được lợi ích thông qua việc lựa chọn phương thức phù hợp với
khả năng của mình nhất. Trước sự thay đổi của môi trường kinh doanh, đến nay
có một số phương thức nhập khẩu chủ yếu sau mà các doanh nghiệp thường lựa
chọn:
a/ Nhập khẩu uỷ thác.
Trong giao dịch quốc tế, không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể
tham gia một cách trực tiếp do các yếu tố về nguồn nhân lực, trong khi đó họ lại
muốn được giao dịch. Từ nhu cầu ấy làm hình thành nên phương thức nhập khẩu
uỷ thác. Đó là phương thức mà doanh nghiệp này uỷ thác cho doanh nghiệp có
chức năng giao dịch trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên
nhận uỷ thác sẽ tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để làm thủ tục nhập
khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một khoản thù lao gọi là phí
uỷ thác.
Đặc điểm:
- Theo phương thức này, doanh nghiệp nhập khẩu (doanh nghiệp nhận uỷ

Đặc điểm:
Trang 7
- Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và tỷ lệ phân chia
lãi lỗ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên.
- Theo phương thức này, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được kim
ngạch nhập khẩu, nhưng khi đưa hàng về tiêu thụ chỉ được tính doanh số bán
hàng trên số hàng theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế trên doanh số đó. Doanh nghiệp
đứng ra nhập khẩu phải lập hai hợp đồng:
1. Một hợp đồng với đối tác nước ngoài.
2. Một hợp đồng với đối tác liên doanh.
Cách phân chia các hình thức nhập khẩu trên dựa vào chủ thể của hoạt động
nhập khẩu. Nếu quan tâm đến hình thức thanh toán bằng tiền và mua thanh toán
bằng hàng (còn gọi là mua bán đối lưu) là một hình thức còn khá mới mẻ đối với
các doanh nghiêp Việt Nam, tìm hiểu kỹ phương thức này có thể cho phép các
doanh nghiệp có được một phương thức nhập khẩu có hiệu quả.
d/ Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán đối lưu, là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, phương tiện
thanh toán trong hợp đồng này không phải là tiền mà bằng hàng hoá. Mục đích
nhập khẩu ở đây không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà còn nhằm để
xuất khẩu được hàng và thu lợi từ hoạt động xuất khẩu nữa.
Đặc điểm:
- Phương thức này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên tham gia hợp đồng,
mặt khác có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động xuất và nhập khẩu.
- Hàng hoá xuất và nhập cũng là bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim nghạch nhập
khẩu trực tiếp và kim nghạch xuất khẩu, doanh số tiêu thụ trên cả hai loại mặt
hàng.
- Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, các bên thường sử dụng biện pháp sau:
Trang 8

Với nhiều phương thức nhập khẩu như vậy, các doanh nghiệp cần thiết phải
tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh doanh để từ đó ứng dụng các
phương thức này một cách linh hoạt với thị trường này, với bạn hàng này, ta có
thể dùng phương thức này là có lợi hơn, song với thị trường, với bạn hàng khác
và vào một thời điểm khác thì phương thức ấy chưa chắc đã có lợi bằng các
phương thức khác. Không nên chỉ áp dụng một hay một vài phương pháp cho
mọi thị trường, mọi đối tác.
II. Nội dung của hoạt động nhập khẩu.
1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu.
Thị trường có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của một doanh
nghiệp, bởi thị trường là tổng thể các mối quan hệ về lưu thông hàng hoá và tiền
tệ. Qua thị trường, doanh nghiệp sẽ biết được lượng cung, lượng cầu từ đó có kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho thích hợp. Có nhiều doanh nghiệp nhờ năng động,
nắm bắt phản ứng nhanh nhạy với thị trường mà việc kinh doanh thành đạt, song
không ít doanh nghiệp vì khả năng hiểu biết về thị trường hạn chế mà dẫn đến
phá sản. Chính vì vậy, để hoạt động kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng phải nắm vững các yếu tố của thị
trường, hiểu biết quy luật vận động của thị trường, từ đó phản ứng kịp thời trước
những thay đổi của của thị trường. Công việc nghiên cứu thị trường của một
doanh nghiệp nhập khẩu gồm có:
+ Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
+ Nghiên cứu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng tới dung lượng thị trường.
+ Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hoá và sự biến động của chúng.
Trang 10
+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu.
+ Xác định mức giá thấp nhập khẩu đối với thị ttrường có quan hệ giao dịch.
Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của nhân tố tới giá cả, ta sẽ nắm
được xu hướng biến động của chúng, từ đó xác định mức giá cho mặt hàng mà ta
có kế hoạch nhập khẩu đối với thị trường mà ta sẽ giao dịch.
Nếu mặt hàng này thuộc về đối tượng giao dịch phổ biến hoặc có những trung

người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán các loại hàng hoá có
khối lượng lớn, có tính chất đồng loạt, có phẩm chất có thể thay thế được nhau.
Giá công bố ở sở giao dịch có thể là giá tham khảo trong việc xác định giá quốc
tế.
d/ Giao dịch tại hội trợ triển lãm.
Hội trợ là thị trường hoạt động định kỳ tổ chức vào một thời hạn nhất định,
tại đó người bán trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký
kết hợp đồng.
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu thành tựu của một nền kinh tế hoặc tổ
chức một nghành nào đó. Ngày nay, triển lãm không phải là nơi trưng bày mà
còn là nơi thương nhân hoặc tổ chức kinh doanh tiếp xúc giao dịch ký kết hợp
đồng mua bán cụ thể.
3. Ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu sau khi chọn các bên tiến hành giao dịch
đàm phán có kết quả phải đi đến ký kết hợp đồng kinh tế ngoại thương.
a/ Khái niệm về hợp đồng kinh tế ngoại thương.
Hợp đồng nói chung là sự thoả thuận giữa hai bên hay nhiều bên nhằm mục
đích tạo lập, chuyển dịch, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ.
Trang 12
Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của những đương sự có quốc
tịch khác nhau trong đó một bên là bên bán (xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển
vào quyền sở hữu của bên mua (nhập khẩu) một khối lượng hàng hoá nhất định,
bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng.
Hợp đồng kinh tế ngoại thương có những điểm khác so với hợp đồng kinh tế
trong nước, đó là:
- Chủ thể của hợp đồng kinh tế ngoại thương là các pháp nhân có quốc tịch
khác nhau.
- Hàng hoá được di chuyển từ nước này sang nước khác.
- Đồng tiền dùng trong thanh toán ngoại thương là ngoại tệ hay có nguồn
gốc ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết hợp đồng.

bản, điều kiện giá cả bao gồm: Đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy
định và giảm giá.
+ Đồng tiền tính giá: Có thể dùng đồng tiền của nước xuất khẩu hoặc nhập
khẩu hoặc của nước thứ ba, nhưng phải là đồng tiền ổn định và tự do chuyển đổi
được.
+ Mức giá: Thường là mức giá quốc tế.
+ Phương pháp quy định giá: Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng, giá có thể
được quy định theo các loại sau:
* Giá cố định: Là loại giá được quy định lúc ký kết hợp đồng và không thay
đổi trong cả quá trình hiệu lực. Giá cố định dùng trong các hợp đồng giao hàng
ngay hay giao trong thời hạn ngắn, có khi giao hàng trong thời gian dài cũng
dùng giá cố định và thường có quy ước trong hợp đồng giá cố định, không thay
đổi.
Trang 14
* Giá quy định sau: Là giá được quy định trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Trong hợp đồng xác định thời điểm định giá và nguyên tắc xác định mức giá để
hai bên tính toán. Ví dụ: một tháng trước khi giao hàng, người mua có thể được
quyền lựa chọn thời điểm định giá trong quá trình thực hiện hợp đồng, có cam
kết về nguồn tài liệu thông tin giá cả.
* Giá có thể điều chỉnh lại: Giá được xác định trong hợp đồng lúc ký kết,
nhưng trong hợp đồng có quy ước: Nếu lúc thực hiện hợp đồng giá thị trường
tăng hay giảm thì giá đã ghi trong hợp đồng sẽ thay đôỉ theo quy ước tăng hay
giảm. Thường mức chênh lệch thấp nhất giữa giá hợp đồng so với giá thị trường
là 2- 5% thì không được tính lại.
* Giá di động: Giá chỉ tính dứt khoát lúc thực hiện hợp đồng bằng điều chỉnh
giá cả cơ sở đã ghi trong hợp đồng tính đến thay đổi về chi phí sản xuất trong
quá trình chuẩn bị hàng. Giá sản xuất bao gồm giá nguyên vật liệu, tiền lương.
Thường áp dụng cho hàng phải sản xuất dài hạn.
+ Giảm giá: Giá công bố và giá thật chênh lệch nhau vì người mua được giảm
giá khi ký kết hợp đồng. Giảm giá có thể vì tiền được trả ngay, mua khối lượng

nước thứ ba.
Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với đồng tiền tính
giá. Trong trường hợp không trùng hợp thì trong hợp đồng quy định rõ tỷ giá
chuyển đổi từ đơn vị tiền tính giá sang đơn vị tiền thanh toán được thực hiện theo
tỷ giá hiện hành ở nước tiến hành thanh toán. Khi chọn tỷ giá ngoại tệ, người ta
không chỉ quan tâm đến lợi thế của tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ mà còn tính đến cả
khả năng chuyển đổi của ngoại tệ.
Trang 16
+ Thời hạn thanh toán: Có thể trả ngay, trả trước hay trả sau hoặc có thể kết
hợp các loại hình đó với nhau trong một hợp đồng.
+ Phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức trả tiền nhưng chủ yếu trong
thanh toán quốc tế dùng hai phương thức sau:
* Phương thức nhờ thu: Là phương thức thanh toán trong đó người bán hàng
sau khi giao hàng hoá - dịch vụ uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người mua
hàng hoá - dịch vụ.
* Phương thức tín dụng chứng từ: Là sự thoả thuận mà một ngân hàng theo
yêu cầu của bên mua sẽ trả tiền cho bên bán hoặc cho bất cứ người mua này theo
lệnh của bên bán, khi bên bán xuất trình đầy đủ các loại chứng từ và thực hiện
đầy đủ các yêu cầu được quy định trong một văn bản gọi là thư tín dụng ( letter
of credit).Có cá loại thư tín dụng sau đây:
# Thư tín dụng huỷ ngang (revocable L/C): Là loại thư tín dụng mà ngân
hàng mở (tức ngân hàng phát hành thư tín dụng) có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ vào
bất cứ lúc nào mà không phải báo trước cho người hưởng (bên bán).
# Thư tín dụng không huỷ ngang: Là loại thư tín dụng mà trong một thời hạn
hiệu lực của nó, ngân hàng mở không có quyền huỷ bỏ hay sửa đổi nội dung thư
tín dụng nếu không có sự đồng ý của người hưởng, ngay cả khi người yêu cầu
mở thư tín dụng (bên mua) ra lệnh huỷ bỏ hay sửa đổi thư tín dụng đó. Như vậy,
thư tín dụng không huỷ ngang là cam kết chắc chắn đối với người bán trong việc
thanh toán tiền hàng.
# Thư tín dụng huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrvocable L/C): Là thư tín

*/ Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số đặc điểm sau:
Trang 18
- Cần có sự thoả thuận thống nhất với tất cả mọi điều khoản cần thiết trước khi
ký kết. Một khi đã ký kết rồi thì việc thay đổi một số điều khoản nào đó rất khó
khăn và bất lợi.
- Văn bản hợp đồng thường do một bên dự thảo. Trước khi ký kết bên kia xem
xét lại kĩ lưỡng, cẩn thận, đối chiếu với những thoả thuận đã đạt được trong đàm
phán, tránh việc đối phương có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo những
điểm chưa thoả thuận và bỏ qua không ghi vào những điều đã thống nhất.
- Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng, sáng sủa, cách trình bày phải phản ánh
nội dung đã thoả thuận, không để tình trạng mập mờ có thể suy luận ra nhiều
cách.
- Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh việc phải áp dụng tập quán để
giải quyết những điểm hai bên không đề cập đến.
- Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ những đặc tính của hàng
hoá định mua bán, từ những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội của nước
người bán, người mua, từ đặc điểm và quan hệ giữa hai bên.
- Trong hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành ở
nước người bán hoặc nước người mua.
- Người đứng ra ký kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền ký kết.
- Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên
cùng thông thạo.
*/ Có nhiều cách ký kết hợp đồng đó là:
- Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản).
- Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đồng ý với các điều khoản
của thư chào hàng tự do. Nếu người mua viết đúng thủ tục cần thiết và gửi trong
thời hạn quy định cho người bán.
Trang 19
- Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người mua. Trường
hợp này hợp đồng thể hiện bằng hai văn bản: đơn đặt hàng của người mua và văn

pháp hiện hành.
- Doanh nghiệp có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng đồng Việt Nam tương
đương với 200.000 USD tới thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Hoạt động theo đúng ngành nghề đã đăng ký kinh doanh khi thành lập doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập khẩu phải có nghĩa vụ nộp lệ phí
(một lần) bằng tiền Việt Nam. Mức lệ phí cũng như việc nộp và sử dụng lệ phí do
Bộ Tài chính và Bộ Thương mại quy định.
b/ Mở thư tín dụng L/C.
Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng phương thức thư tín dụng chứng từ
thì bên mua phải mở L/C ở ngân hàng khi có thông báo từ bên bán.
Thời gian mở L/C phụ thuộc vào thời hạn giao hàng. Để cho chặt chẽ, hợp
đồng thường quy định cụ thể ngày giao hàng, ngày mở L/C. Nếu như hợp đồng
không quy định cụ thể thì thông thường thời gian này là khoảng 15 - 20 ngày
trước khi đến thời hạn giao hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản của hợp đồng.
Đơn vị hợp đồng dựa vào cơ sở đó, làm đơn xin mở L/C theo mẫu của ngân hàng.
c/ Thuê tàu chở hàng.
Trang 21
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê tàu theo hình thức
nào được tiến hành dựa vào ba căn cứ: điều khoản của hợp đồng, đặc điểm của
hàng hoá, điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập
khẩu phải thuê tàu để chở hàng, nếu điều kiện cơ sở giao hàng là CIF thì bên
nhập khẩu không phải thuê tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về người mua.
Tuỳ theo đặc điểm hàng hoá kinh doanh, doanh nghiệp lựa chọn phương thức
thuê tàu cho phù hợp: thuê tàu chợ, tàu chuyến hay tàu bao. Nếu nhập khẩu
thường xuyên với khối lượng lớn thì nên thuê bao. Nếu nhập khẩu không thường
xuyên, nhưng khối lượng lớn thì nên thuê tàu chuyến. Nếu nhập khẩu với khối
lượng nhỏ thì thuê tàu chợ.
d/ Mua bảo hiểm hàng hoá.
Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo

- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc giao hàng.
- Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu từng
quý, từng năm, cơ cấu hàng hoá, lịch tàu, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận
chuyển, giao nhận.
- Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng (vận đơn, lệnh giao hàng,...)
nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản (nếu cần) về
hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong việc
giao nhận.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp, bảo
quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu.
- Thông báo cho đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng hoá.
Trang 23
- Chuyển hàng hoá về kho của doanh nghiệp hoặc giao trực tiếp cho các đơn vị
đặt hàng.
- Kiểm tra hàng hoá: Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu phải được kiểm tra.
Mỗi cơ quan tiến hành kiểm tra theo chức năng, quyền hạn của mình. Nếu phát
hiện dấu hiệu không bình thường thì mời bên giám định đến lập biên bản giám
định. Cơ quan giao thông kiểm tra niêm phong, kẹp chì trước khi dỡ hàng ra
phương tiện vận tải. Đơn vị nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên trong vận
đơn cũng phải kiểm tra hàng hoá và lập thư dự kháng nếu thấy nghi ngờ hoặc thật
sự hàng hoá có tổn thất, thiếu hụt hoặc không đúng như hợp đồng.
g/ Làm thủ tục thanh toán.
Thanh toán là khâu quan trọng trong thương mại quốc tế. Do đặc điểm buôn
bán với nước ngoài rất phức tạp nên thanh toán trong thương mại quốc tế phải
thận trọng, tránh để xảy ra tổn thất. Có nhiều phương thức thanh toán như: Thư
tín dụng (L/C), phương thức nhờ thu, chuyển tiền,...Việc thực hiện theo phương
thức nào phải quy định cụ thể trong hợp đồng. Doanh nghiệp phải tiến hành
thanh toán theo đúng điều kiện quy định của hợp đồng.
h/ Khiếu nại và xử lý khiếu nại (nếu có).

ra một cách suôn sẻ, các doanh nghiệp buộc phải nghiên cứu các yếu tố thuộc về
môi trường kinh doanh.
1. Hệ thống luật pháp trong nước và quốc tế.
Kinh doanh quốc tế nói chung và kinh doanh trong lĩnh vực nhập khẩu nói
riêng là một hoạt động đa dạng và phức tạp, nó chịu sự chi phối của nhiều nguồn
Trang 25

Trích đoạn Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với Công ty PACKEXPORT. Quá trình hình thành và phát triển. Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty XNKvà kỹ thuật Bao bì. Đặc điểm hoạt động nhập khẩu của Công ty. Những mặt đã đạt được.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status