MỤC LỤC
A. PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HĐLĐ
I. Lời mở đầu:
Trong hệ thống pháp luật lao động, HĐLĐ là một chế định chiếm vị trí rất quan
trọng do đó đây là nội dung sớm được quy định và giữ vai trò trung tâm trong quá trình
xây dựng, ban hành pháp luật lao động nhằm điều chỉnh quan hệ lao động trong nền
kinh tế thị trường. Điều 26 BLLĐ đã quy định: “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao
động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” Một vấn đề khá quan
trọng trong chế định HĐLĐ được tìm hiểu trong bài tập này là các điều kiện có hiệu
lực của HĐLĐ.
II. Nội dung:
Điều kiện thứ 1 là HĐLĐ phải đảm bảo các nguyên tắc giao kết HĐLĐ:
Để hình thành 1 HĐLĐ có hiệu lực và để đảm bảo sự thỏa thuận trong HĐLĐ
thực sự là ý chí của các bên, pháp luật lao động quy định những nguyên tắc bắt buộc
các bên phải tuân thủ. Điều 9 BLLĐ quy định: “ Quan hệ lao động giữa người lao động
và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận
theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết”. Vì vậy những cam kết trong HĐLĐ là
sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên khi đảm bảo các nguyên tắc giao kết
HĐLĐ.
Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc tự do tự nguyện khi giao kết hợp đồng. Dưới
góc độ pháp luật lao động, đây là nguyên tắc thể hiện một cách sinh động và là sự cụ
thể hóa một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật lao động: Nguyên tắc đảm bảo
quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc cho công dân. Thể hiện nguyên tắc này,
BLLĐ quy định “ Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề
nghiệp”( Điều 5 ) và “ Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí,
điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất , kinh doanh” (khoản 1 Điều 8). Để đảm bảo
sự tự do, tự nguyện khi giao kết HĐLĐ, các bên không được dùng các thủ đoạn lừa
dối, ép buộc hay đe dọa nhằm buộc người kia vì lo sợ mà phải giao kết hợp đồng mặc
dù họ không mong muốn. NLĐ có quyền giao kết HĐLĐ với bất kì NSDLĐ nào và
(nếu có) Các bên trong quan hệ lao động phải tuân thủ theo pháp luật. Pháp luật tạo ra
hành lang pháp lý giúp các chủ thể có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách
thuận lợi, đặc biệt khi có tranh chấp xảy ra. Theo nguyên tắc này, các bên phải tuân thủ
các quy định pháp luật về điều kiện chủ thể, nguyên tắc kí kết, hình thức hợp đồng, loại
hợp đồng, các nội dung cam kết không trái pháp luật. Ngoài ra, khi kí kết HĐLĐ các
bên không được trái thỏa ước lao động tập thể. Thỏa ước lao động tập thể trong doanh
nghiệp nếu được đăng kí tại cơ quan lao động có ý nghĩa quan trọng và được coi như
3
nguồn bổ sung của luật lao động. Pháp luật quy định nguyên tắc này mục đích chủ yếu
là để tăng cường lợi ích cho NLĐ. Theo quy định BLLĐ, nội dung thỏa ước không
được trái với các quy định của pháp luật lao động. Nhà nước khuyến khích việc kí kết
thỏa ước với những quy định có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao
động. Vì vậy nếu nguyên tắc không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể được
thực hiện thì tất cả các HĐLĐ được kí kết sẽ mang lại lợi ích lớn hơn cho NLĐ. Và khi
thỏa thuận kí kết HĐLĐ, Nhà nước cũng khuyến khích những thỏa thuận có lợi hơn
cho NLĐ.
Điều kiện thứ hai là các bên tham gia HĐLĐ phải có năng lực kí kết, thực hiện và
tham gia HĐLĐ (điều kiện về chủ thể).
+ Về năng lực chủ thể: Các bên trong quan hệ HĐLĐ chính là NLĐ và NSDLĐ.
Điều kiện năng lực chủ thể áp dụng cho bản thân NLĐ và bản thân NSDLĐ. Điều 6
BLLĐ quy định: “ NLĐ là người ít nhất đủ15 tuổi, có khả năng lao động và giao kết
HĐLĐ”. Như vậy năng lực chủ thể về phía NLĐ gồm ba yếu tố:
Độ tuổi: NLĐ phải ít nhất đủ 15 tuổi. Pháp luật lao động Việt Nam cũng như hầu
hết các nước trên thế giới đều lấy mức độ 15 tuổi làm mốc phát sinh năng lực pháp luật
lao động và năng lực hành vi lao động, phù hợp với quy định của ILO. Quy định này là
dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học thế giới về sự phát triển của con người trên các
mặt sinh học, kinh tế, xã hội. Thứ nhất, về mặt sinh học, ở lứa tuổi 15 các em đã có một
quá trình phát triển tương đối về thể lực và trí lực, có khả năng thực hiện các hoạt động
lao động một cách bình thường không quá sức. Tuy nhiên, pháp luật các nước cũng quy
định những lĩnh vực có khả năng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhân cách của các em
định cụ thể như sau:
5