MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày
càng đa dạng, phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng
tranh chấp. Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1995 quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhưng việc hiểu và áp
dụng những quy định đó trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di
chúc trên thực tế còn nhiều bất cập. Những khó khăn thường được thể hiện
trong việc xác định phải có những điều kiện gì thì di chúc mới được coi là
hợp pháp, điều kiện của người lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội
dung của di chúc và hình thức của di chúc. Trong thực tiễn thì các quy định
của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc còn có những cách hiểu
khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số
bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của
di chúc. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm làm rõ những quy định của pháp luật
về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm
1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 là đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của lý
luận và thực tiễn. Qua nghiên cứu đề tài, tác giả cũng muốn xác định ý nghĩa
của chế định về quyền thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng.
Với việc nghiên cứu đề tài, tác giả muốn hoàn thiện hơn nữa những quy định
pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhằm mục đích nâng cao
hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy định này trong Bộ luật dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cũng như thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói chung và
các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã được hầu hết các luật gia,
1
các nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu. Có thể dễ dàng nhận
thấy rằng, Bộ luật dân sự của các nước đều quy định về quyền định đoạt bằng
di chúc của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người
khác. Quyền định đoạt bằng di chúc là quyền dân sự được Nhà nước bảo hộ,
sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005. Với kết quả nghiên cứu của đề tài:
"Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự"
sẽ giúp các cơ quan lập pháp ban hành các văn bản dưới luật để hoàn thiện
những quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc, đồng thời giúp các cơ
quan áp dụng pháp luật trong việc nhận thức đúng đắn và toàn diện khi giải
quyết những tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nội dung của luận văn không nghiên cứu toàn diện những quy định
của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ
tập trung nghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc được quy định
trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và
có sự đối chiếu với những quy định tương ứng trong Bộ luật dân sự của Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2006).
Qua đó, tác giả so sánh, đối chiếu với những quy định pháp luật trước khi Bộ
luật dân sự được ban hành để làm nổi bật tính hiện đại của những quy định về
các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ
luật dân sự năm 2005. Mặt khác, đề tài cũng có sự so sánh (ở diện hẹp) về các
điều kiện có hiệu lực của di chúc ở các nước như Nhật Bản, Cộng hòa Pháp
với Việt Nam để làm nổi bật những nét đặc thù và tính hiện đại của pháp luật
Việt Nam quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Trong quá trình nghiên cứu, một số các quy định của pháp luật có liên
quan đến nội dung của đề tài cũng được tìm hiểu như: Năng lực pháp luật dân
3
sự, năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự theo pháp luật dân sự Việt
Nam để có sự so sánh, đối chiếu, với mục đích làm nổi bật những quy định
của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các điều kiện có hiệu
lực của di chúc theo quy định của pháp luật ở Việt Nam.
- Luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện từng điều
+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về điều kiện
có hiệu lực của di chúc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, làm cơ sở để
nghiên cứu toàn diện và hệ thống những quy định của pháp luật về các điều
kiện có hiệu lực của di chúc được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 và
Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn thiếu của những
quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự
năm 1995, phân tích những quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, qua đó có những kiến nghị khoa
học nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực
của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúng các
quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong việc áp
dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 10 mục.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC
1.1. VÀI NÉT VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ
Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ thừa kế đã
tồn tại như một yếu tố khách quan. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh
tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài
người. Thừa kế và để lại thừa kế mặc dù chưa được điều chỉnh bằng các quy
phạm pháp luật, nhưng nó vẫn tồn tại một cách khách quan trong xã hội. Ở
thời kỳ này, quan hệ thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong
tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật xuất hiện đồng thời với
tự nguyện của họ, phù hợp với những quy định của pháp luật nhưng không
phải tất cả các di chúc trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp
luật là di chúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập di chúc.
Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định.
Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 649 Bộ luật dân
sự năm 2005), di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: Di chúc bằng văn bản
và di chúc miệng. Pháp luật chỉ cho phép người lập di chúc miệng trong
những trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm
1995 (Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005). Về chữ viết trong di chúc cũng
được pháp luật quy định: Đối với người dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc
bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.
Với những quy định trên, pháp luật dân sự nước ta đã có những quy
định cụ thể về di chúc. Cùng chung sống trên đất nước ta gồm có nhiều dân
tộc, nên pháp luật dân sự cũng đã tính đến yếu tố lịch sử, nhận thức… tạo
7
điều kiện cho mọi cá nhân thực hiện quyền lập di chúc, nếu cá nhân đó có
năng lực lập di chúc theo luật định.
Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định có 4 loại di chúc
bằng văn bản: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng
văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực của công
chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và
di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực.
Quyền của người lập di chúc được pháp luật quy định tại Điều 651 Bộ
luật dân sự năm 1995, bao gồm những quyền sau:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trong thực tế thì không phải bất cứ người lập di chúc nào cũng thực hiện
Trước hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người
lập di chúc. Ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc
toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau
khi chết. Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định
đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ
chồng thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định
đoạt). Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người
thừa kế về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe
dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di
9
chúc, không bị sự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc, người
để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.
Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc người
lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai
và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có
quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc. Người
lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người
nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Như vậy, nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thể
hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa
thuận, bàn bạc, trao đổi , thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc.
Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống
nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùng nhau ký kết
hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lập di
chúc và người được thừa kế theo di chúc. Thực tế đã có nhiều trường hợp
người được hưởng thừa kế theo di chúc không thể biết mình có quyền được
hưởng di sản theo di chúc vì di chúc chưa được công bố và được cất giữ bí
mật.
Đối với những di chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện
nhận một phần.
Đặc điểm thứ ba: Di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt, chỉ có
hiệu lực khi người lập di chúc chết.
11
Khoản 1 Điều 670 Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 667 Bộ
luật dân sự năm 2005) quy định: "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm
mở thừa kế" [6], [7].
Về thời điểm mở thừa kế, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự
năm 2005 quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết.
Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở
thừa kế là ngày được xác định theo quy định của pháp luật.
Đây là một đặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với các
loại giao dịch dân sự khác, ví dụ như hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời
điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định khác, còn thời điểm có hiệu lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm
mà người lập di chúc chết hoặc thời điểm mà quyết định của Tòa án tuyên bố
người lập di chúc chết có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, việc xác định đúng thời
điểm mở thừa kế (thời điểm người lập di chúc chết) có ý nghĩa trong việc xác
định thời điểm có hiệu lực của di chúc. Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở
thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu
lực trong trường hợp một người có nhiều di chúc. Di chúc thể hiện ý chí đơn
phương của người lập di chúc và người lập di chúc có quyền thay đổi một phần
hoặc toàn bộ nội dung di chúc hay hủy bỏ di chúc. Sự thay đổi hay hủy bỏ di
chúc có thể được thể hiện dưới hình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về
việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc, nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù
không nói rằng thay đổi hay hủy bỏ di chúc) người lập di chúc định đoạt tài
sản mà nội dung định đoạt khác với di chúc đã viết trước đó. Việc đánh giá
hiệu lực của di chúc như vậy dựa theo quy định tại khoản 5 Điều 670 Bộ luật
dân sự năm 1995: "Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài
sản, thì chỉ có bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật" [6].
Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà
anh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làm
hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau.
Phần con của vợ lẽ, nàng hầu, thì phải kém. Nếu đã có lệnh của cha
mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình.
Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Người làm cha mẹ phải liệu
tuổi già mà lập sẵn chúc thư…" [11].
Như vậy, Bộ luật Hồng Đức đã quy định quyền lập chúc thư để lại di
sản, đặc biệt là những người tuổi cao.
Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư. Bộ luật Hồng
Đức cũng quy định về hình thức lập di chúc tại Điều 366: "Những người làm
chúc thư, văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng
kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế
ấy không có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được" [11].
Như vậy, người có tài sản có thể tự mình viết chúc thư. Nếu người để
lại di sản không biết chữ thì chỉ được phép nhờ quan trưởng viết thay, không
được nhờ người khác. Nếu nhờ người khác viết hộ di chúc mà không nhờ
quan trưởng thì ngoài việc bị phạt, di chúc không có giá trị, di sản được chia
theo pháp luật. Vấn đề hình thức lập di chúc trong thời kỳ này đã được coi
trọng.
Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) là phiên bản của
Bộ luật Mãn Thanh (Trung Quốc). Bộ luật không thừa nhận quyền thừa kế
của con gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai, thể hiện rõ việc trọng
nam khinh nữ. Bộ luật cũng công nhận vai trò của việc thừa kế theo di chúc,
thể hiện tại Điều 388 Bộ luật này quy định: "Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ,
phải theo đúng. Vi phạm điều này sẽ mất phần" [9].
14
Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành bằng một Nghị định của Thống sứ
Bắc kỳ ngày 30-3-1931. Bộ luật bao gồm 1.464 điều, được chia làm 4 quyển.
Quyển thứ nhất bao gồm 12 thiên quy định về gia đình, chế độ hôn sản và
cùng ký tên vào văn bản. Có bao nhiêu người được thừa kế thì chúc thư được
làm thành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người thừa kế một bản.
Khi người lập chúc thư muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúc thư,
thì bản chúc thư sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phải nêu rõ
việc người lập chúc thư thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc thư, nếu
không nói rõ thì chỉ những điều khoản nào không hợp hoặc có trái với bản
chúc thư sau mới bị bỏ mà thôi.
Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: Khi người vợ chết trước,
người chồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung trong đó có cả
phần của vợ (tức là tài sản riêng của vợ). Còn nếu chồng chết thì người vợ chỉ
có quyền hưởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế
nào bên nội, bên ngoại của chồng (Điều 346). Nếu người vợ góa tái giá thì tài
sản riêng của chồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ được mang
theo đi, còn tài sản của vợ chồng thì để lại cho con (Điều 360) [14].
Bộ luật Trung kỳ hay còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật gồm
1709 điều, được chia làm 5 quyển. Có thể nói, Bộ luật này hầu như sao chép
lại nhiều điều khoản trong Bộ luật Bắc kỳ, ví dụ: Điều 341 Bộ luật Trung kỳ
giống Điều 346 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 359 Bộ Dân luật Trung kỳ giống
Điều 360 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 111 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều
113 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 313 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều 321 Bộ
Dân luật Bắc kỳ [15].
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990
16
Với thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu một trang sử mới của cách mạng nước ta.
Ngay sau khi thành lập, nhà nước non trẻ đã phải đối phó với rất nhiều những
khó khăn cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội… Để giữ vững
thành quả cách mạng, Nhà nước ta đã có những chính sách vừa mềm dẻo, vừa
cương quyết để tập trung quyền lực về tay Nhà nước. Trong thời kỳ này,
những vấn đề lớn đều được điều chỉnh bằng các Sắc lệnh, còn những vấn đề
đó có quyền thừa kế tài sản của nhau; con cái trong và ngoài giá thú cũng
được đối xử bình đẳng [31].
Để thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Tòa án nhân dân
tối cao đã thường xuyên tổng kết công tác xét xử, ban hành nhiều thông tư,
hướng dẫn cho Tòa án các địa phương trong việc áp dụng thống nhất pháp luật.
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1964 của ngành Tòa án, Tòa án
nhân dân tối cao đã hướng dẫn việc xét xử của Tòa án cấp dưới trong việc xét
xử các vụ án tranh chấp di sản thừa kế. Theo tổng kết này thì có ba hàng thừa
kế sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa hay chồng góa; các con đẻ và con nuôi
của người chết; bố mẹ mất sức lao động được người để lại di sản nuôi dưỡng.
- Hàng thừa kế thứ hai: Bố mẹ còn sức lao động.
- Hàng thừa kế thứ ba: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi.
Ngày 27-8-1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số
594/NCPL hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp thừa kế. Thông tư
đã nêu rõ các đặc điểm cơ bản (thực chất là các nguyên tắc) của chế độ thừa
kế của nhà nước ta: Nam nữ bình đẳng về quyền thừa kế, người thừa kế được
hưởng các quyền tài sản của người chết để lại và phải chịu trách nhiệm thi
hành các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản
18
nhận được, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản, đồng
thời bảo vệ thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật. Thông tư
nói rõ: Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những
tài sản mà người chết để lại mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ
tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người
chết để lại. Về thừa kế theo pháp luật, Thông tư đưa ra khái niệm diện thừa kế
và hàng thừa kế theo pháp luật, thứ tự hưởng di sản căn cứ vào hàng thừa kế.
Diện những người thừa kế theo pháp luật gồm: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ
góa) hoặc chồng góa, con đẻ và con nuôi, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi, ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột. Như vậy, trong diện những
đã hoàn toàn thống nhất năm 1975. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử tự do
trong cả nước tháng 7-1976, Nhà nước ta lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Ngày 25-3-1977 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 76/CP quy định về việc thực hiện thống nhất pháp luật trên cả nước.
Kể từ
thời điểm này, pháp luật đã được áp dụng thống nhất trong toàn quốc. Tuy
nhiên, ở giai đoạn này vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định riêng
về thừa kế.
Trước sự thay đổi lớn của đất nước, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI
đã thông qua bản Hiến pháp (gọi là Hiến pháp 1980) - Hiến pháp đầu tiên
trong thời kỳ thống nhất đất nước - là cơ sở nền tảng cho việc phát triển của
pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế theo di chúc nói riêng.
Hiến pháp năm 1980 là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản của Nhà nước. Hiến
pháp đã quy định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân… tạo tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc ban hành
các văn bản pháp luật về thừa kế sau này.
20
Điều 27 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,
những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng
lẻ. Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân". Hiến pháp năm 1980
cũng quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, sự bình đẳng giữa
nam và nữ, Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt, đối xử giữa các
con
Hiến pháp năm 1980 đã quy định đất đai thuộc sở hữu nhà nước. Nhà
nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai
được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất
đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định
của pháp luật [25].
Để đảm bảo thống nhất đường lối xét xử, trên cơ sở tổng kết công tác
di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc [32].
Thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã tạo
bước ngoặt mới trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Cơ chế kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp đã bị xóa bỏ, nền kinh tế nhiều thành phần (trong đó
có kinh tế tư nhân) đã được pháp luật thừa nhận và khuyến khích phát triển.
Ngày 29-12-1987 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã thông qua Luật Đất đai (gọi là Luật Đất đai năm 1987). Luật Đất đai
đã quy định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và đất đai do Nhà nước
thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất để sử dụng ổn
định, lâu dài hoặc tạm thời, có thời hạn. Điều 5 của Luật Đất đai năm 1987
quy định: "Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô
dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất
không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục
đích khác, làm hủy hoại đất đai". Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất
22
được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền
chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao
khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [28].
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1990 đến 1 tháng 7 năm 1996
Để đáp ứng với sự biến động, phát triển không ngừng của xã hội,
ngày 30-8-1990 Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã thông qua Pháp lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10-9-1990. Đây là
văn bản pháp luật có hệ thống và ở tầm văn bản pháp lý cao nhất về thừa kế
nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng kể từ ngày thành lập nước. Pháp
lệnh Thừa kế gồm 38 điều, được chia làm 6 chương, trong đó đã xác định
được những nguyên tắc cơ bản về thừa kế, về quyền bình đẳng về thừa kế của
công dân. Pháp lệnh Thừa kế đưa ra những khái niệm về: Thời điểm mở thừa
kế, địa điểm mở thừa kế, di sản, người thừa kế… Thừa kế theo di chúc được
Pháp lệnh quy định tại chương II từ Điều 10 đến Điều 23. Pháp lệnh đã quy
thì trong trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ
cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo
pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì con chưa thành niên,
cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khả năng lao động và túng
thiếu của người lập di chúc vẫn được hưởng phần di sản bằng ít nhất là hai
phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không có quyền hưởng di sản
theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh. Đây là sự kế thừa và pháp
điển hóa so với quy định về người thừa kế bắt buộc tại Thông tư số 81-
TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao.
Pháp lệnh cũng quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc,
hiệu lực của di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng [35].
24
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự đổi mới toàn
diện của đất nước kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, Quốc hội nước ta đã sửa
đổi Hiến pháp năm 1980. Hồi 11 giờ 45 phút ngày 15-4-1992 Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11 đã nhất trí
thông qua Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định về việc
tiếp tục đưa đất nước ta đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tư tưởng chủ đạo này, trong
chương II về chế độ kinh tế, Hiến pháp đã quy định việc đảm bảo tính thống
nhất của sự phát triển kinh tế sao cho nền kinh tế được phát triển theo cơ chế
thị trường với nhiều thành phần kinh tế khác nhau theo định hướng xã hội chủ
nghĩa
Hiến pháp năm 1992 đã quy định về quyền bình đẳng của công dân
trước pháp luật, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, Nhà nước và xã hội không
thừa nhận việc phân biệt, đối xử giữa các con. Điều 58 Hiến pháp năm 1992
quy định: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành,
nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu