ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC TÚ LOAN ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC
CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2009
Hµ néi - 2009
1
Mục lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt mở Đầu
1.2.2.
Vn lý lun v iu kin cú hiu lc ca hp ng
dõn s
21
1.3.
Hu quả pháp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
36
Ch-ơng 2
:
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
theo quy định của pháp luật dân sự việt
nam và thực tiễn áp dụng
43
2.1.
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo pháp luật
43
2
Việt Nam hiện hành
2.1.1.
Ng-ời tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi
dân sự
43
2.1.2.
Mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự không trái
pháp luật, đạo đức xã hội
54
2.1.3.
2.3.2.4.
V quy nh thi hiu yờu cu Tũa ỏn tuyờn b hp ng,
giao dch vụ hiu (iu 136, B lut dõn s)
74
Ch-ơng 3
: thực trạng áp dụng các quy định của pháp
luật để giảI quyết các tranh chấp về hợp
đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng và ph-ơng h-ớng hoàn
thiện
78
3
3.1.
Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh
chấp về hợp đồng vi phạm các điều kiện có hiệu lực
78
3.2.
Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định
của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo
Bộ luật dân sự
80
3.3.
Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
82
3.3.1.
Hoàn thiện lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
dân sự và hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân
5
MỞ ĐẦU
bán nhà được giao kết bằng văn bản viết tay không có chứng nhận, chứng
thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bất động sản đó chưa được
Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng Như vậy, phải chăng
giữa cuộc sống và các quy định của pháp luật vẫn còn một khoảng cách
không phải là nhỏ. Với tư cách là một người nghiên cứu pháp luật chúng tôi
thấy rằng cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm rút ngắn khoảng
cách thực tế và quy định pháp luật, nhằm làm giảm việc giao kết hợp đồng vi
phạm quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, dẫn đến vô hiệu
hợp đồng trong thực tế; đảm bảo quyền lợi cho người dân khi tham gia giao
dịch dân sự.
Vấn đề mà tác giả đề cập trong luận văn này cũng đã được nghiên cứu
trong một số công trình khoa học trước đây. Tuy nhiên, tác giả cũng mong
đưa đến được một cách tiếp cận mới đối với vấn đề "Điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự" (theo nghĩa hẹp) theo quy định của pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giao dịch và
việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu đã
được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ dưới những góc
độ khác nhau. Nhìn chung, vấn đề về hiệu lực hợp đồng và việc giải quyết
hậu quả pháp lý của hợp đồng giao dịch dân sự vô hiệu được đề cập trong các
bài giảng trong giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội, Trường Cao đẳng Kiểm sát.
Các vấn đề liên quan đến hiệu lực của hợp đồng còn được đề cập
trong một số ấn phẩm như: sách Bình luận Bộ luật dân sự của Bộ Tư pháp;
7
trong một số bài viết của một số tác giả như: TS. Bùi Đăng Hiếu: Giao dịch
dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối; Vũ Mạnh
chất cũng như thấy được sự phát triển của chế định này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm pháp lý
về giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, thực tế áp
dụng quy định pháp luật về điều kiện có hiệu của hợp đồng dân sự. Trên cơ sở
đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, đảm bảo tính
khả thi khi áp dụng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp, giảm "độ chênh"
giữa pháp luật và đời sống thực tiễn, làm cho pháp luật dân sự không chỉ đảm
bảo quyền lợi của các bên đương sự tham gia giao dịch dân sự mà còn thực sự
là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của kinh tế xã hội.
Với mục đích nêu trên, việc nghiên cứu, hoàn thiện luận văn này
nhằm hoàn thành các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam quy định riêng về hợp
đồng dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật.
- Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở pháp luật và thực tiễn của hợp
đồng cũng như các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
- Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam quy định về hợp đồng dân
sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật dân sự, tác
giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp)
về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, (không nghiên cứu tổng thể
9
chung về giao dịch dân sự) và thực tiễn áp dụng các quy định đó; phân tích
thực trạng áp dụng tại ngành Tòa án nhân dân thông qua các bản án dân sự
của Tòa án giải quyết các việc liên quan đến hợp đồng, từ đó làm sáng tỏ
hợp đồng. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện đại thừa nhận quyền bình
đẳng của con người trước pháp luật và quyền tự do cá nhân. Vai trò và vị trí
của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp
luật. "Kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng
càng được coi trọng, càng được hoàn thiện" [24, tr. 34].
Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng
trong Bộ luật dân sự, Luật Thương mại giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Vai
trò của chế định hợp đồng là quy định làm căn cứ để giải thích rõ nội dung
của các phần mà các bên thể hiện chưa rõ, hay bổ sung những phần mà các
bên chưa xác định trong hợp đồng được các bên giao kết. Đồng thời các quy
định về hợp đồng còn có chức năng hướng dẫn cho các thủ thể tham gia quan
hệ hợp đồng biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó và
những nội dung cơ bản mà các bên cần thỏa thuận trong các hình thức hợp
11
đồng cụ thể. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống pháp luật không
phải ngẫu nhiên, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi dịch vụ,
hàng hóa phải được tự do chuyển dịch thì vai trò của chế định hợp đồng
được thể hiện lớn hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên
mang tính quyết định. Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và
chỉ can thiệp trong các trường hợp mà ở đó cần có sự giới hạn của pháp luật.
Ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về
mặt pháp lý khi đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên
tham gia ký kết.
Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xã hội. Trong đời
sống xã hội để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt tiêu dùng hoặc trong sản
xuất, kinh doanh thì dường như mọi hoạt động của con người đều hướng tới
việc ký kết hợp đồng. Nói cách khác hợp đồng là công cụ pháp lý để các chủ
thể có thể thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của mình trong sản xuất cũng như
bên nữa mà trở thành hình thức biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa các bên
với nhau. Chính vì lẽ đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước đến các
quan hệ này. Công cụ can thiệp của Nhà nước sử dụng là pháp luật và chế
định hợp đồng vì thế giữ một vị trí rất quan trọng trong việc điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng. Ở Việt Nam, sự can thiệp của pháp luật để bảo vệ quyền
lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng đã được thể hiện ngay ở Sắc lệnh
97/SL ngày 22/5/1950: "Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một
bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể coi là vô
hiệu" (Điều 13 Sắc lệnh 97/SL). Ngày nay để bảo vệ quyền lợi cho "bên yếu
thế" khoản 8, Điều 409, Bộ luật dân sự quy định về giải thích hợp đồng dân
sự như sau: "Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng những nội
dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có
lợi cho bên yếu thế".
13
Để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng, lý
thuyết về hợp đồng của một số nước đã đưa ra khái niệm lạm dụng, ngay tình
và công bằng. Điển hình là pháp luật của các nước Pháp, Đức, Nhật, Việt
Nam đã ghi nhận nguyên tắc này trong Bộ luật dân sự của mình.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi về quan điểm đề cao lợi ích cá nhân
sang lợi ích xã hội đã làm cho quan điểm về các nguyên tắc này thay đổi.
Nguyên tắc ngay tình được áp dụng nhằm làm giảm nhẹ hiệu lực bắt
buộc của hợp đồng. Thực ra rất khó để định nghĩa thế nào là ngay tình. Đầu tiên,
người ta nhìn nhận ngay tình như nghĩa vụ trung thực, nghĩa là người có nghĩa
vụ bắt buộc phải thực hiện hợp đồng một cách trung thực, còn đối với người có
quyền thì không được cản trở người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Dần dần,
qua thực tiễn người ta cho rằng nếu chỉ hiểu ngay tình là trung thực thì chưa đủ
và khái niệm ngay tình còn được hiểu là nghĩa vụ hợp tác giữa các bên. Nghĩa vụ
hợp tác giữa các bên thể hiện ở việc các bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin
cho nhau để thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc ngay tình không chỉ được áp dụng
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh
hoạt, uyển chuyển. Điều này không dễ dàng đạt được nếu như các quy định
pháp luật không được xây dựng theo dạng "mềm", tức là xác định các nguyên
tắc cơ bản và coi các cam kết trong hợp đồng không đơn thuần là các chứng
cứ. Vấn đề này, hiện đang có hai xu hướng luật trái ngược nhau. Một là, xu
hướng đơn giản hóa các quy tắc, giảm bớt số lượng và sự phức tạp của những
điều luật mang tính chung và có kết cấu mạch lạc hơn, hợp lý hơn, dễ hiểu
hơn. Hai là, xu hướng làm cho luật phong phú hơn bằng nhiều chi tiết rõ ràng.
Pháp luật về hợp đồng của các nước theo hệ thống luật án lệ được xây dựng
theo hướng hai. Do sử dụng án lệ nên luật pháp của các nước này dễ dàng
thay đổi để phù hợp với thực tiễn. Nói cách khác, nó mang tính linh hoạt và
cập nhật. Pháp luật về hợp đồng của các nước theo hệ thống pháp luật văn bản
tương đối ổn định và mang tính ràng buộc cao. Tuy nhiên, do thủ tục ban
15
hành luật rất phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian nên sự thay đổi chúng là rất
khó khăn. Theo hệ thống pháp luật này có một số quốc gia vẫn đồng thời áp
dụng án lệ, các học thuyết pháp lý, mà tiêu biểu là luật dân sự của nước Cộng
hòa Pháp. Luật được coi là "phần cứng" tương đối ổn định, còn án lệ là "phần
mềm" làm nhiệm vụ bổ sung, cập nhật pháp luật. Vì lẽ đó luật về hợp đồng ở
các nước này vừa mang tính ràng buộc và vừa linh hoạt, uyển chuyển.
Pháp luật nước ta chưa thừa nhận án lệ như một nguồn luật của hợp
đồng. Chính vì vậy việc giải quyết các bất cập của pháp luật là rất khó thực
hiện và cũng vì thế mà việc sửa đổi và bổ sung luật là công việc thường xuyên
được đặt ra đối với nhà làm luật. Hiện nay để giải quyết vấn đề này thông
thường Tòa án tối cao có các báo cáo chuyên đề, công văn hướng dẫn hoặc
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành các nghị quyết riêng
về một vấn đề cụ thể nào đó. Song các hướng dẫn này nhiều khi vẫn thiếu cụ
thể và vì vậy việc đưa ra các phán quyết khác nhau cho các vụ án có nội dung
tương tự nhau là việc không thể tránh khỏi trong quá trình giải quyết các tranh
và cần phải dẫn đến việc thừa nhận giá trị pháp lý và hiệu lực của hợp đồng.
Nguyên tắc này tồn tại trong pháp luật về hợp đồng của các nước. Ở Việt
Nam, nguyên tắc này được quy định rõ trong Bộ luật dân sự.
Nguyên tắc tôn trọng ý chí của các bên và xem đó là yếu tố quyết định
để hình thành hợp đồng. Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực hoạt động, nhất là
dịch vụ, ở đó các giao dịch được thực hiện lặp đi lặp lại giữa một chủ thể (bên
cung cấp dịch vụ) với nhiều chủ thể khác nhau (bên nhận dịch vụ) với đối
tượng phục vụ như nhau. Trong những trường hợp này, hợp đồng thường
được bên cung cấp dịch vụ thảo sẵn (thường gọi là hợp đồng mẫu), bên nhận
dịch vụ chỉ có quyền tự do trong việc quyết định có tham gia vào quan hệ hợp
đồng hay không mà không có quyền cùng thảo luận để đưa ra các điều khoản
của hợp đồng. Nếu bên được đề nghị giao kết chấp nhận toàn bộ các điều
khoản của hợp đồng theo mẫu và ký thì hợp đồng được coi là hình thành và
17
ngược lại. Khi tham gia vào quan hệ trên họ buộc phải tuân theo các điều
khoản của hợp đồng đã được bên dịch vụ đưa ra. Những hợp đồng này được
gọi là "hợp đồng gia nhập" hay "hợp đồng theo mẫu".
Ví dụ, hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa doanh nghiệp vận tải
đường sắt với khách hàng, hợp đồng cung cấp điện của các doanh nghiệp điện
lực, hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng trong việc cho vay tín dụng, mở
tài khoản… Trong những trường hợp này, chủ thể cung cấp dịch vụ soạn thảo
sẵn hợp đồng gồm những điều khoản về loại dịch vụ, giá cả, chất lượng, thời
gian, địa điểm cung cấp dịch vụ… còn bên nhận dịch vụ xem xét nếu chấp
nhận những nội dung đó thì ký kết hợp đồng. Như vậy, hợp đồng được ký kết
mà không cần hai bên bàn bạc, thỏa thuận. Một bên (thường là khách hàng)
đã mất sự tự do thương thuyết, thỏa thuận là đặc trưng cơ bản của hợp đồng
và phải chấp nhận các điều khoản của đối phương đưa ra, không có sự lựa
chọn nào khác. Tuy nhiên, xét về mặt biểu hiện khách quan thì ý chí chung
được thể hiện thông qua việc cả hai bên mong muốn tham gia vào quan hệ
của thế giới mà chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh. Sự tự do thỏa
thuận giữa các chủ thể hợp đồng thường là sự bàn bạc đi đến thống nhất ý chí
của các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
dân sự nhất định. Việc thỏa thuận này không bị cản trở bởi bất cứ yếu tố chủ
quan và khách quan nào trừ trường hợp trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
Như vậy, thông qua hợp đồng quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên
chủ thể phát sinh. Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày. Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong
đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua
bán, cho thuê…) nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp
đồng hợp tác - Điều 111 Bộ luật dân sự). Mỗi bên trong hợp đồng (hai hay
nhiều bên) có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Trong hợp đồng ý chí
của một bên đòi hỏi có sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí
của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng.
19
Do vậy, khác với hành vi pháp lý đơn phương là sự biểu lộ ý chí "đơn
phương" của một bên, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí của hai hay
nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
"Thỏa thuận" vừa là nguyên tắc tối cao, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự
và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng: từ giao kết
đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự. Cao hơn nữa là sự
thỏa thuận của các bên còn là một ngoại lệ của nguyên tắc xác định thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng: "Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác" (Điều 405,
Bộ luật dân sự). Theo quy định của điều luật này thì nếu hợp đồng được giao
kết trong đó có các bên thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp
đồng hoặc pháp luật có quy định về điều kiện phát sinh hiệu lực hợp đồng thì
hợp đồng đó chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia khi sự kiện
pháp lý do các bên dự liệu hoặc do quy định của pháp luật phát sinh.
Chủ thể của hợp đồng dân sự là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia
đình. Có thể nói chủ thể của hợp đồng dân sự nói riêng của pháp luật dân sự
nói chung là đa dạng. Không như các ngành luật khác chủ thể phải có điều
kiện nhất định, chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là bất kỳ "người" nào. Nếu
như chủ thể của hợp đồng kinh doanh - thương mại một bên bắt buộc phải là
cá nhân, tham gia giao dịch vì mục đích kinh doanh kiếm lời hay chủ thể của
hợp đồng lao động là một bên chủ thể là người sử dụng lao động còn một bên
chủ thể là người lao động, thì chủ thể của hợp đồng dân sự là bất kỳ ai (cá
nhân, tổ chức, một nhóm người - tổ hợp tác, hộ gia đình), chỉ cần họ tham gia
hợp đồng nhằm thỏa mãn bất kỳ lợi ích hợp pháp nào mà họ mong muốn đạt
được hoặc hướng tới. Thậm chí, chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là những
người bị mất năng lực (người tâm thần hoặc mắc những bệnh không nhận
thức, làm chủ được hành vi). Những chủ thể này không thể tham gia vào hợp
các hợp đồng lao động hay hợp đồng kinh tế, nhưng có thể tham gia vào hợp
21
đồng dân sự. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của những người này, pháp
luật dân sự đã quy định một chế định đặc biệt là chế định người giám hộ (là
người đại diện cho những chủ thể này khi tham gia hợp đồng dân sự).
Hợp đồng dân sự được hình thành khi có sự thỏa thuận của các bên.
Tuy nhiên, trong các trường hợp các bên giao kết hợp đồng gián tiếp thì việc
xác định thời điểm hợp đồng được hình thành là rất khó khăn. Cách tiếp cận
các vấn đề này khác nhau ở các nước khác nhau. Một số nước theo thuyết "ý
chí thực sự" trong đó Pháp là một ví dụ. Tuy nhiên, việc xác định ý chí thực
sự chỉ để áp dụng giải thích các điều khoản không rõ ràng. Còn đối với các
hợp đồng đã rõ ràng thì các Thẩm phán phải áp dụng các điều khoản của hợp
đồng mà không được giải thích gì thêm. Còn một số nước theo thuyết "tuyên
bố" ví dụ như Đức, theo đó thì bất luận ý chí thực sự của chủ thể tham gia hợp
đồng là gì người ta chỉ chú trọng đến ý chí đã tuyên bố trong hợp đồng được
coi là căn cứ pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy vậy, Bộ
hiệu… để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên và ổn định trật tự
lưu thông, ổn định các quan hệ xã hội. Khi xuất hiện khái niệm hợp đồng thì
cũng là lúc xuất hiện khái niệm hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu.
Pháp luật các nước nói chung đều công nhận: "Các thỏa thuận được hình
thành một cách hợp pháp là bắt buộc đối với người làm nên nó" [31, tr. 5].
Chỉ những hợp đồng dân sự nói riêng, giao dịch dân sự nói chung mà hợp
pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch. Mọi
cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên và được pháp
luật bảo hộ. Hợp đồng hợp pháp phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng dân sự nói riêng và của giao dịch dân sự nói chung. Hợp đồng dân
sự không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của
pháp luật thì vô hiệu.
Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên
giao kết mong muốn. Đây là nguyên lý chung mà pháp luật các nước đều ghi
23
nhận. Trên thế giới hiện nay, phần lớn các nhà lập pháp không đưa ra các khái
niệm chung về hợp đồng, giao dịch vô hiệu mà chủ yếu đi sâu quy định các
tiêu chí để xác định một giao dịch vô hiệu.
Ví dụ, tại Điều 113, Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan quy định:
"Một hành vi pháp lý bị coi vô hiệu nếu mục tiêu của nó rõ ràng bị pháp luật
ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được hoặc trái với trật tự công cộng hoặc
trái với đạo đức". Ở Việt Nam, để xác định hợp đồng vô hiệu thì căn cứ vào
Điều 122 và Điều 127, Bộ luật dân sự (giao dịch không có một trong các điều
kiện theo quy định Điều 122 thì vô hiệu). Vô hiệu theo nghĩa thông thường là
"không có hiệu lực, không có hiệu quả" [40, tr. 1083]. Như vậy, có thể suy ra
là hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tồn tại theo quy định của pháp luật,
không có hiệu lực pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng
không được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ.
Một hợp đồng không đảm bảo các điều kiện quy định của pháp luật sẽ