1. Phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lao động.
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung là tổng hợp những yêu cầu pháp
lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó. Đây là những
điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được xác lập hợp
pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên. Đối với hợp đồng lao động thì điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng lao động là tổng hợp các quy định của pháp luật về hợp đồng lao
động mà khi các bên tham gia ký kết hợp đồng lao động phải tuân theo. Nếu các bên tuân
thủ theo các yêu cầu này thì hợp đồng lao động đó có hiệu lực còn nếu các bên vi pham
một trong các điều kiện này thì hợp đồng lao động vô hiệu.
Các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu pháp lý phải
được tuân thủ khi xác lập, giao kết hợp đồng mà nếu thiếu các điều kiện đó thì hợp đồng
đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu. Tuy cách tiếp cận vấn đề còn nhiều điểm khác
nhau, nhưng theo em các điều kiện về chủ thể, ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp
đồng, hình thức, nội dung của hợp đồng và là những yêu cầu pháp lý bắt buộc phải tuân thủ
khi xác lập hợp đồng.
1.1. Điều kiện về chủ thể.
Chủ thể của hợp đồng lao động (hay chủ thể của quan hệ hợp đồng lao động) là
những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ), có quyền, nghĩa vụ
phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh
từ HĐLĐ đó. Các quy định về chủ thể giao kết hợp đồng là những điều kiện mà chủ thể
tham gia quan hệ đó phải có, đó là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao
động.
- Về phía người lao động:
Người lao động (NLĐ) phải có “ khả năng lao động ”. Khả năng lao động của
người lao động được thể hiện qua năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
1
Năng lực pháp
luật lao động của NLĐ là khả năng người nào đó được pháp luật quy định cho các quyền và
buộc phải gánh vác những nghĩa vụ lao động, và được thể hiện thông qua hệ thống các quy
định của pháp luật. Năng lực hành vi lao động là khả năng thực tế của NLĐ trong việc tạo
ra, hưởng dụng các quyền gánh vác các nghĩa vụ lao động.
đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hợp pháp là thừa nhận khả năng lao động của những
người dưới 15 tuổi và trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra.
2
Đối với người sử dụng lao động thì nhìn chung việc giao kết hợp đồng lao động
là mang tính trực tiếp, không được uỷ quyền (trừ trường hợp được quy định tại khoản 1
Điều 5 Nghị định 44/2003/NĐ-CP).
- Về phía người sử dụng lao động:
Muốn tham gia quan hệ lao động thì đơn vị sử dụng lao động phải có năng lực
pháp luật và năng lực hành vi.
2
Năng lực pháp luật lao động là khả năng được pháp luật
quy định cho các quyền nhất định để có thể tham gia quan hệ pháp luật lao động. Năng lực
hành vi của NSDLĐ là khả năng của NSDLĐ trong việc tạo lập, gánh vác các quyền và
nghĩa vụ trong quá trình tuyển dụng lao động.
Bộ luật lao động năm 1994 sửa đổi bổ sung không quy định rõ điều kiện về
NSDLĐ, tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều loại đơn vị sử dụng lao động đó là: Các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; các cơ quan nhà nước; các tổ chức xã hội; các hợp tác
xã; các cá nhân và hộ gia đình là người Việt Nam; các cá nhân, cơ quan, tổ chức nước
ngoài và quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam.
3
Như vậy, nhà nước ta cũng quy định những đối tượng khi sử dụng lao động bắt
buộc phải ký kết hợp đồng, chỉ khi ký kết thì HĐLĐ mới có hiệu lực. Nếu các đối tượng
trên khi sử dụng lao động mà không ký kết HĐLĐ thì hợp đồng mà các bên thoả thuận với
nhau sẽ vô hiệu. Các trường hợp không áp dụng hợp đồng lao động quy định chi tiết tại
khoản 2 Điều 2 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003.
Những đối tượng trong các đơn vị sử dụng lao động kể trên có quyền ký kết
HĐLĐ với người lao động là: Đối với các doanh nghiệp thì đó là giám đốc hoặc tổng giám
đốc; Chủ hợp tác xã đối với hợp tác xã; đó là giám đốc liên hiệp hợp tác xã đối với liên
hiệp hợp tác xã , đó là chủ hộ đối với hộ gia đình; đó là người đứng đầu của các cơ quan, tổ
người khác.Đối với người lao động tự do ở đây được hiểu là tự do lựa chọn nghề nghiệp,
ngành nghề, đối với người sử dụng lao động, tự do lựa chọn đối tượng làm việc, đối tượng
đào tạo. Các bên được tự do ký kết hợp đồng lao động ( khoản 3 Điều 30 BLLĐ sửa đổi bổ
sung ); Các bên được tự do thay đổi nội dung của hợp đồng ( khoản 2 Điều 33 BLLĐ ); các
bên được tự do tạm hoãn hợp đồng ( khoản 1 Điều 35 BLLĐ ) . Các bên được tự do chấm
dứt hợp đồng lao động ( khoản 3 Điều 36 BLLĐ ).
Bình đẳng: Các chủ thể trong hợp đồng lao động bình đẳng với nhau về tư
cách pháp lý của chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ ngang nhau, xuất phát từ ý chí
của các bên chứ không phải của ai khác (đặc biệt là thanh tra lao động).
Không trái pháp luật, đạo đức xã hội và thoả ước (nếu có) : Điều 128 Bộ
luật dân sự 2005 quy định: “ Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật
4
không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định và đạo đức xã hội là những
chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng
thừa nhận và tôn trọng”. Thoả ước lao động tập thể có thể có trước hoặc sau khi ký kết hợp
đồng lao động tuỳ từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên, khi ký kết hợp đồng lao động mà tồn
tại thoả ước thì các bên sẽ phải triệt để tuân theo các quy định của thoả ước. Nhà nước ta
khuyến khích những thoả thuận có lợi cho người lao động ( Điều 9 Bộ luật lao động sửa
đổi bổ sung): “Nhà nước khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có
những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của pháp luật lao động.
Tóm lại, điều kiện thứ hai để hợp đồng lao động có hiệu lực là điều kiện về
nguyên tắc ký kết. Để hợp đồng lao động có hiệu lực thì các chủ thể khi ký kết hợp đồng
lao động phải bảo đảm những nguyên tắc trên.
1.3. Điều kiện về hình thức của hợp đồng lao động.
Theo quy định của pháp luật, hình thức của hợp đồng lao động bao gồm: Hợp
đồng lao động bằng văn bản, hợp đồng lao động bằng lời nói (bằng miệng), hợp đồng lao
động bằng hành vi. Tuy nhiên việc giao kết hợp đồng lao động theo hình thức nào không
phải là sự tuỳ liệu của các bên mà phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 28 Bộ luật lao động sửa đổi thì: “ Hợp đồng lao động phải được ký
kết thành văn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Đối với một số
giúp việc gia đình nhưng phải đảm bảo nội dung theo khoản 1 Điều 29.
5
Hợp đồng lao động bằng hành vi thể hiện thông qua hành vi các chủ thể khi
tham gia quan hệ
6
, ví dụ như hành vi làm việc của NLĐ, hành vi bố trí công việc, trả lương
của NSDLĐ.
Hợp đồng bị vi phạm về hình thức thì cũng không đương nhiên vô hiệu. Khi đó,
các bên có thể yêu cầu tòa án, hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định buộc các
bên thực hiện đúng hình thức trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì
tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo
qui định pháp luật.
Tóm lại, hình thức của hợp đồng lao động cũng là một trong các điều kiệu có
hiệu lực của hợp đồng lao động. Nếu hợp đồng lao động không tuân theo các yêu cầu về
hình thức nói trên thì hợp đồng lao động đó sẽ vô hiệu.
4
Xem điểm a khoản 1 Điều 1 Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003.
5
Xem điểm b khoản 1 Điều 1 Thông tư số 21/TT2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003.
6
Xem khoản 2 Điều 33 BLLĐ.
6