Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hợp đồng dân sự là một mảng quan hệ pháp luật vô cùng quan trọng, là
một trong những chế định pháp lí cổ xưa nhất, xuất hiện sớm nhất trong nội
dung luật dân sự. Hợp đồng dân sự là sự khái quát một cách toàn diện các hình
thức giao lưu dân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức
hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình. Từ những năm đầu của thời kì đổi mới một loạt các văn
bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đã ra đời như: Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế (1989); Pháp lệnh hợp đồng dân sự (1991) và trong 2 pháp lệnh về
chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ cũng có phần quy định về vấn đề hợp
đồng. Đến khi Bộ luật dân sự 1995 ra đời và được sửa đổi, bổ sung tại Bộ luật
dân sự 2005 thì hợp đồng dân sự đã được xem xét, quy định một cách đầy đủ,
toàn diện hơn. Bộ luật dân sự 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có
hiệu lực ngày 01/01/2006 tạo ra một hành lang pháp lí quan trọng cho giao lưu
dân sự, thể hiện một bước tiến cao hơn trong tư duy lập pháp, hành pháp và tư
pháp của những nhà làm luật. Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học
hỏi những quy định pháp luật từ thực tiễn cũng như luật pháp của các nước trên
thế giới, cân nhắc chúng cùng với hoàn cảnh thực tế tại Việt Nam để đưa ra một
văn bản có tính chuẩn mực pháp lí cao trong hệ thống pháp luật dân sự.Chế định
hợp đồng dân sự chiếm tới hơn 200 điều trong tổng số 777 điều của Bộ luật dân
sự. Bên cạnh những quy định mang tính khái quát về hợp đồng, Bộ luật dân sự
cũng có những quy định riêng về 16 loại hợp đồng thông dụng tạo cơ sở pháp lí
cho việc áp dụng và giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến vấn đề hợp
đồng. Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội. Hơn nữa, đã hơn một năm qua Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), đang trên đà hội nhập nền kinh tế
toàn cầu, quá trình hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức.
Chừng nào pháp luật nói chung và những quy định về hợp đồng dân sự nói riêng

pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp phân tích quy phạm được sử
dụng nhằm giải quyết vấn đề một cách hợp lí và rõ ràng nhất.
4. Kết cấu của đề tài
Khoá luận gồm có: phần mở đầu, ba chương với nội dung như sau:
Chương I. Khái quát chung về hợp đồng
Chương II. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
3
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
1. Khái niệm hợp đồng và đặc điểm của hợp đồng
Thật khó có thể biết chính xác thuật ngữ” “hợp đồng” xuất hiện từ khi
nào. Chỉ biết rằng thuật ngữ “hợp đồng”(contractus) phát sinh từ động từ
“ contrahere” trong tiếng Latinh có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện đầu tiên ở
La Mã vào thế kỉ V-IV trước Công nguyên. Sau khi đế quốc La Mã tan rã
(khoảng thế kỉ V-VI sau Công nguyên), các nước Châu Âu chấp nhận nhận
dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ luật La Mã.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “khế ước” chỉ mới xuất hiện khi các bộ dân luật
Nam Kì, Bắc Kì, Trung Kì lần luợt được ban hành. Khái niệm hợp đồng cũng có
một quá trình phát triển theo thời gian. Bắt đầu từ khái niệm khế ước được quy
định tại Điều 644 đoạn 2 Bộ dân luật Bắc kì (1931): “khế ước là hợp ước của
một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển
hữu, tác động hay bất tác động”. Như vậy, Bộ dân luật Bắc Kì nhìn nhận hợp
đồng là một hợp ước giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa một nhóm người với
nhau nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu, thực hiện một công việc hay
không được thực hiện một công việc nào đó. Cho đến khái niệm pháp lí tổng
quát về khế ước quy định ở Điều 680 Bộ dân luật Trung Kì (1936): “khế ước là
hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người
khác để cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay
không làm cái gì” thì khái niệm về hợp đồng cũng chỉ là sự thay thế về ngôn từ
sử dụng sao cho mang tính chất thuần việt hơn. Tiếp đến là khái niệm “hợp đồng

Điều 121- Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng
hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự”. Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời
sống hàng ngày. Theo Điều 388- Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định: “hợp đồng
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự”. Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên – như vậy, hợp đồng
là hành vi pháp lí song phương. Hành vi pháp lí này đòi hỏi sự thể hiện và thống
5
nhất ý chí của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự.
Hành vi pháp lí này cũng khác so với hành vi pháp lí đơn phương – giao
dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên làm phát sinh hệ quả pháp lí. Hành vi
pháp lí đơn phương chỉ được xác lập theo ý chí của một chủ thể duy nhất như
hành vi lập di chúc hay hành vi từ chối hưởng di chúc… Tính chất của hợp đồng
là sự thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều người. Mục đích của hợp đồng chính là
việc mỗi bên theo đuổi những lợi ích riêng của mình và hợp đồng là kết quả của
sự dung hoà các lợi ích đối lập nhau.
Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống
nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua, bán, cho thuê…),
nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia và mỗi bên
trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Trong hợp đồng ý
chí của mỗi bên đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí để hình thành nên hợp đồng.
Hành vi pháp lí là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh hệ quả
pháp lí. Đó là phương tiện để thực hiện ý chí của các chủ thể tạo ra các quan hệ
xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Hành vi pháp lí
chính là những sự kiện xuất hiện theo ý chí của con người và sự hiện diện của
chúng đưa đến những hệ quả pháp lí nhất định mà pháp luật đã quy định.
Nhưng để một hành vi pháp lí làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một
quan hệ pháp luật dân sự thì hành vi đó phải là hành vi mà chủ thể thực hiện
phải phản ánh đúng ý chí của chủ thể đó. Sự phản ánh đúng ý chí của chủ thể

trong trường hợp pháp luật có quy định.
Các điều kiện này sẽ đảm bảo cho các giao dịch được xác lập hợp pháp,
được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật, là công cụ quan trọng thoả mãn nhu cầu
trao đổi, giao lưu dân sự của các chủ thể.
1.2. Hợp đồng- nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ
Các quốc gia trên thế giới có những định nghĩa khác nhau về hợp đồng
như Điều 1101 Bộ luật dân sự Pháp 1804 quy định: “hợp đồng là sự thoả thuận
giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một việc
việc”. Hợp đồng là sự thoả thuận mà sự thoả thuận này là về việc chuyển giao
7
vật, làm hay không làm một việc. Đó cũng chính là đối tượng của nghĩa vụ dân
sự được quy định ở Điều 282- Bộ luật dân sự 2005. Như vậy, theo Bộ luật dân
sự Pháp ta hiểu hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về các đối tượng của
nghĩa vụ dân sự. Hay như Điều 420- Bộ luật dân sự Nga 1994 quy định: “ hợp
đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên vê việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự” thì khái niệm về hợp đồng được đưa ra hoàn toàn giống
Bộ luật dân sự của Việt Nam. Còn trong Điều 1-201 Bộ luật thương mại chuẩn
thống nhất Hoa Kì hợp đồng lại được định nghĩa là “khối nghĩa vụ pháp lí phát
sinh từ sự thoả thuận giữa các bên theo quy định của luật này và những luật có
liên quan” thì hợp đồng được nhìn nhận là một khối nghĩa vụ pháp lí đạt được
dựa trên sự thoả thuận nhưng phải căn cứ trên những quy định của pháp luật
quốc gia.
Như vậy có thể khẳng định được rằng, dù nhìn nhận hợp đồng với các
góc độ khác nhau nhưng nhìn chung hợp đồng chính là căn cứ chủ yếu làm phát
sinh nghĩa vụ. Theo Điều 13-khoản 1 Bộ luật dân sự 2005, giao dịch dân sự là
một trong những căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Cũng theo Điều 281-
khoản 1 Bộ luật dân sự 2005 căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân
sự. Hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí tự nguyện, trở thành nguồn chủ
yếu làm phát sinh nghĩa vụ. Nghĩa vụ dân sự theo định nghĩa tại Điều 280- Bộ
luật dân sự 2005 “là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

xuất hiện cùng các nhu cầu giao lưu mang tính tài sản trong xã hội. Trước hết và
quan trọng nhất là nhu cầu giao lưu giữa mọi người với nhau nhằm hướng tới
một kết quả vật chất nhất định phù hợp với lợi ích của tất cả các bên. Theo thời
gian do sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các hình thức giao lưu đó, một
nhu cầu mới nảy sinh đó là nhu cầu cần thiết phải có các mô hình xử sự chung
do nhà nước quy định để các bên tuỳ ý lựa chọn hoặc có thể do chính các bên tự
mình thiết lập. Các mô hình xử sự đó được pháp luật định danh với tên gọi “khế
ước” hay “ hợp đồng”.
Ở Châu Âu, sự khởi đầu của chế định hợp đồng gắn liền với Luật La Mã
cổ đại. Ngay từ thế kỉ V-IV trước công nguyên người La Mã đã biết đến và xây
dựng hệ thống những thuật ngữ, những khái niệm, những phạm trù pháp lí có
9
giỏ tr ph bin ton nhõn loi v cỏc vn c bn nht ca ch nh hp ng
nh: hp ng (contractus) v mc ớch, cn c hp ng (causa), hp ng
ming v hp ng vit, hp ng thc t v hp ng ng thun (res v
consensus), ý chớ v th hin ý chớ (id quod actum est v id quod dictum est)..
Nú ó tht s l khuụn mu iu chnh ton din nhng quan h hp
ng theo quan im hin nay v nh vo nhng giỏ tr ph bin mang tớnh thi
i y m ch nh hp ng khi ngun t Lut La Mó ó c du nhp mt
cỏch t giỏc vo Tõy u cựng vi phong tro Phc Hng din ra vo th k XII-
XIII v sau ú phỏt trin mnh m ti lónh th nhiu nc nh: Phỏp, c, H
Lan. n th k XVIII, XIX v XX, vi s to sỏng ca ngnh khoa hc phỏp lớ
cú hng ngn nm b dy lch s v do tỏc ng ca s phỏt trin cỏc quan h
kinh t- xó hi, ch nh hp ng ó ln lt c cỏc nc Chõu u phỏp
in hoỏ khi xõy dng nhng B lut dõn s u tiờn ca mỡnh. T ú v trớ, vai
trũ ca ch nh hp ng trong h thng phỏp lut dõn s ngy cng c
khng nh v khi bn n xu hng phỏt trin ca lut dõn s mt nh trit
hc v xó hi hc ni ting ngi Phỏp ó d oỏn rng: hp ng chim 9/10
dung lung cỏc b lut dõn s hin hnh v n mt lỳc no ú tt c cỏc iu
khon ca b lut, t iu khon th nht n iu khon cui cựng u quy

tư tưởng” phép vua thua lệ làng”. Chính thái độ thiếu quan tâm đến pháp luật
cùng với sự hạn chế về điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội lúc bấy giờ đã giúp ta
lí giải được tại sao chúng ta không tìm thấy thuật ngữ “hợp đồng” hay một thuật
ngữ nào tương đương trong bất kì một văn bản chính thức nào của nhà nước
phong kiến.
Ngay trong các bộ cổ luật được đánh giá như là đỉnh cao của thành tựu
lập pháp phong kiến như Bộ luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long, khái niệm hợp
đồng hay khế ước với tư cách là một thuật ngữ pháp lí độc lập và hoàn chỉnh
hầu như không được biết đến. Chế định hợp đồng chỉ được biểu hiện không thật
rõ nét qua các tình huống mua bán cụ thể như: việc mua bán, thuê mướn, vay
nợ, cầm cố, bảo lãnh…. không có tính khái quát cao và không thể áp dụng
chung cho mọi trường hợp. Các bộ cổ luật lúc đó còn chứa đựng nhiều các quy
định mang tính chất bất bình đẳng trong giao lưu dân sự, các chế tài vi phạm khế
ước còn mang nặng tính chất pháp luật hình sự, không phù hợp với bản chất của
quan hệ dân sự.
11
Tình hình trên đã có sự thay đổi khi người Pháp đặt chân vào Việt Nam
vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp cùng với
chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho cơ cấu xã hội ở Việt Nam biến đổi
mạnh mẽ trong đó hệ thống pháp luật dân sự là một trong những lĩnh vực có sự
thay đổi mạnh mẽ và toàn diện nhất. Dựa trên thành quả của hệ thống luật tư La
Mã, người Pháp đã ban hành ra Bộ luật nổi tiếng là Bộ luật dân sự Pháp năm
1804 và sau khi đặt ách thống trị của mình tại Việt nam người Pháp đã áp dụng
ngay thành quả của mình vào thực tế Việt Nam rồi từ đó cho ra đời ba bộ luật
riêng biệt áp dụng cho ba xứ với ba chế độ cai trị khác nhau là Bộ luật giản yếu
Nam Kì áp dụng cho Nam Kì năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kì 1931 áp dụng cho
Bắc Kì và Bộ dân luật Trung Kì năm 1936 áp dụng cho Trung Kì. Đặc biệt bộ
dân luật Trung Kì 1936 với 1709 điều lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt
Nam đã có những vấn đề cơ bản nhất về chế định hợp đồng được hình thành
tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống từ khái niệm pháp lí tổng quát về khế ước

ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
Hợp đồng như đã phân tích ở trên là một loại giao dịch dân sự nên chịu sự
điều chỉnh của quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Mặt khác hợp đồng là hành vi pháp lí song phương nên đòi hỏi sự thể hiện thống
nhất ý chí của các bên để có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự. Do vậy, để có thể làm phát sinh một hậu quả pháp lí nhất định
không chỉ đòi hỏi phải có sự thể hiện ý chí và sự thống nhất ý chí của các bên
tham gia hợp đồng mà còn đòi hỏi sự thống nhất của các bên. Ngoài ra, sự thống
nhất ý chí của các bên còn phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật mới có thể
phát sinh hiệu lực. Đó là các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự. Bộ luật
dân sự Việt Nam quy định điều kiện để hợp đồng có hiệu lực bao gồm:
- Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong
trường hợp pháp luật có quy định.
Như vậy, theo Bộ luật dân sự Việt Nam điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng bao gồm các điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng; mục đích, nội dung
của hợp đồng; điều kiện về sự tự nguyện và điều kiện về hình thức của hợp
đồng. Nhưng Cộng hoà Pháp là điển hình của hệ thống pháp luật Châu âu lục
địa lại quy định “hợp đồng chỉ có hiệu lực khi thoả mãn 4 điều kiện sau đây:
- Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện;
- Các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng;
- Đối tượng của hợp đồng phải xác định;
- Căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp”
2
2
Điều 1108- Bộ luật dân sự Pháp 1804
14

Đối với những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là những người
đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) trừ trường hợp bị Toà Án tuyên bố mất năng
lực hành vi, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi thì được toàn quyền xác lập mọi
hợp đồng. Như vậy, pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định
độ tuổi tối đa của người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng. Họ có đủ tư cách
chủ thể, toàn quyền tham gia xác lập hợp đồng và tự mình chịu trách nhiệm về
những hành vi do họ thực hiện. Tuy nhiên,theo quy định của Luật hôn nhân và
gia đình đối với nữ từ 18 tuổi (17 tuổi + 1 ngày) trở lên có quyền kết hôn nhưng
người phụ nữ dù đủ tuổi kết hôn vẫn chưa có đủ năng lực hành vi dân sự. Vì
vậy, khi họ tham gia vào quan hệ hợp đồng phải được sự đồng ý của người đại
diện theo pháp luật nếu không hợp đồng sẽ bị vô hiệu.
Mặt khác, quy định có người năng lực hành vi là một trong những điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng không được hiểu theo nghĩa cứ có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ thì có thể tham gia mọi giao dịch mà trên thực tế vẫn có những
quy định mang tính hạn chế người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tham gia
vào một số giao dịch nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người
liên quan. Đó là các trường hợp được quy định tại Điều 144- Bộ luật dân sự
2005 về người đại diện không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với
chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó
hay các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ đều vô
hiệu chỉ trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám
hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Hay tại khoản 3, Điều 69-
Bộ luật dân sự 2005 quy định: “các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và
người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô
hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ
và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”.
Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng
có thể tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện theo quy
định của pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó phải tự mình
tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng đó.

đồng pháp luật bắt buộc phải có công chứng. Trong trường hợp đó người chưa
17
thành niên dù có tài sản riêng cũng không có năng lực hành vi dân sự để giao kết
hợp đồng.
Đối với người không có năng lực hành vi dân sự là người chưa đủ 6 tuổi.
Họ không có quyền tham gia bất cứ một giao dịch nào. Mọi giao dịch của những
người này phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Nguyên
nhân là do họ chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của
những hành vi đó.
Đối với người bị mất năng lực hành vi theo Điều 22 - Bộ luật dân sự 2005
là người “do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm
chủ được hành vi của mình”. Như vậy, người thành niên có thể bị tuyên bố mất
năng lực hành vi khi có những điều kiện, với trình tự, thủ tục nhất định và trên
cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền, Toà án có thể tuyên bố một
người bị mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên
quan. Vì vậy, với những người bị mất năng lực hành vi khi tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch họ đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 23 Bộ luật
dân sự 2005 là người “nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến
phá tán tài sản của gia đình” thì giao dịch dân sự liên qua đến tài sản của người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Người đại
diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại
diện do Toà án quyết định.
Đại diện theo pháp luật của cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần,
cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân
sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được xác lập theo quy định của pháp
luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thẩm quyền đại
diện theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện trong quyết định cử
đại diện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác lập đại diện này thường

có nghĩa vụ chứng minh trước Toà cơ sở của yêu cầu là do đã tham gia xác lập
hợp đồng với người không có năng lực hành vi dân sự. Điều 130- Bộ luật dân sự
2005 quy định hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
19
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện sẽ vô hiệu.
Theo Điều 136- Bộ luật dân sự 2005 thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu trong trường hợp này là 2 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng. So với
quy định tại Điều 145- Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự
thay thế cụm từ “thời hạn” bằng cụm từ thời hiệu cho chính xác hơn và đã tăng
thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu từ 1 năm lên thành 2 năm.
Việc quy định thời hiệu 1 năm như trước đây tương đối ngắn, chưa phù hợp thực
tế và không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của bên không có lỗi khi
tham gia hợp đồng nên việc tăng thời hạn thành 2 năm là hoàn toàn hợp lí. Về
nguyên tắc, hợp đồng dân sự vô hiệu không phát sinh quyền, nghiã vụ nhưng
không phải lúc nào các bên tham gia hợp đồng cũng phát hiện ra các vi phạm là
điều kiện dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Thông thường chỉ có một bên có quyền lợi
trong việc huỷ bỏ hợp đồng vô hiệu nên việc giải quyết hợp đồng vô hiệu
thường được thông qua con đường tố tụng tại Toà án. Do đó, việc quy định thời
hiệu để các bên yêu cầu Toà án tuyên bố một hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa lớn
về lí luận và thực tiễn. Cơ sở lí luận của việc xác định thời hiệu yêu cầu Toà án
tuyên hợp đồng vô hiệu dựa trên:
• Thời gian có thể làm cho hợp đồng vi phạm điều kiện mà pháp luật
quy định trở thành hợp đồng có hiệu lực được không;
• Quyền tự định đoạt của các bên trong hợp đồng sau một thời gian
nhất định;
• Nhu cầu bảo vệ sự ổn định của hợp đồng nhằm bảo đảm hài hoà
giữa lợi ích của nhà nước và công dân.
Từ những cở sở đó, căn cứ vào quyền tự định đoạt của các bên tham gia
hợp đồng thì thời hạn để những người này quyết định việc có yêu cầu Toà án
bảo vệ hay không là 2 năm. Nếu họ không khởi kiện trong thời hạn này thì có

hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn từ ba
cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc
nhất định, cùng hưởng hoa lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các
quan hệ dân sự”. Với quy định “người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi
dân sự” chúng ta có thể hiểu năng lực hành vi của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp
tác được xem xét thông qua vai trò của người đại diện. Người đại diện xác lập,
thực hiện hợp đồng nhân danh pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác sẽ làm phát
sinh quyền, nghĩa vụ cho pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
3
Đại cương pháp luật về hợp đồng, Corinne Renault – Brahinsky, Nxb văn hoá thông tin 2002, tr.71
4
Khoản 1,2 - Điều 86 - Bộ luật dân sự 2005
21
Theo quy định của pháp luật, pháp nhân chỉ tham gia hợp đồng phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân; hộ gia đình chỉ tham gia hợp đồng liên
quan đến quyền sử dụng đất, hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một
số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Tổ hợp tác
chỉ tham gia các hợp đồng liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ
được xác định trong hoạt động hợp tác.
Người đại diện cho các chủ thể này có thể thực hiện thông qua 2 cơ chế
đại diện. Đó là:
- Đại diện theo pháp luật: Trường hợp người đại diện cho pháp nhân là
người đứng đầu pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc
trong quyết định thành lập pháp nhân; trường hợp người đại diện cho hộ gia
đình là chủ hộ trong đó cha hoặc mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có
thể là chủ hộ. Đối với người đại diện cho tổ hợp tác đại diện theo pháp luật là tổ
trưởng do các tổ viên cử ra. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện
xác lập, thực hiện sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được đại
diện là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trừ trường hợp ngươi đại diện cho
pháp nhân, họ gia đình, tổ hợp tác đó đồng ý.

hợp đồng là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia hợp đồng không được coi là
yếu tố đương nhiên phải có trong hợp đồng. Nếu động cơ không đạt được không
làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng nhưng hợp đồng không có mục đích
hoặc mục đích không đạt được sẽ làm hợp đồng vô hiệu. Mục đích luôn luôn
được xác định cụ thể còn động cơ có thể được xác định hoặc không. Ví dụ như
trong hợp đồng mua bán nhà mục đích của hợp đồng là mua nhà để có quyền sở
hữu nhà nhưng động cơ có thể để ở, cho thuê hay bán lại cho người khác. Động
cơ của hợp đồng có thể được các bên thoả thuận trở thành một điều khoản của
hợp đồng, một bộ phận cấu thành của hợp đồng.
Mục đích của hợp đồng và nội dung của hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau. Con người xác lập, thực hiện hợp đồng luôn nhằm một mục đích nhất
định. Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về các điều khoản
trong hợp đồng hay chính là nội dung của hợp đồng. Nội dung của hợp đồng là
tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận trong hợp đồng.
23
Các điều khoản đó sẽ xác định quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nội dung
của hợp đồng được quy định cụ thể ở điều 402- Bộ luật dân sự theo đó nội dung
của hợp đồng gồm các điều khoản về đối tượng của hợp đồng; giá cả, phương
thức thanh toán; số lượng, chất lượng, thời hạn, phương thức thực hiện hợp
đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng… Nhưng để hợp đồng có
thể phát sinh hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của hợp đồng không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội có nghĩa là mục đích và
nội dung của hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nuớc, lợi ích
công cộng, lợi ích hợp pháp của nguời khác đã được khẳng định là một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự.
So với Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự sửa đổi cho
chính xác hơn khi sử dụng cụm từ “điều cấm của pháp luật” thay cho cụm từ “
không trái pháp luật”- một cụm từ mang tính chung chung. Điều cấm của pháp
luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những
hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa

Nói cách khác hợp đồng đó bị coi là vô hiệu.
Trong trường hợp hợp đồng đã xác lập vi phạm điều cấm của pháp luật,
trái đạo đức xã hội sẽ dẫn đến hậu quả pháp lí hợp đồng vô hiệu tuyết đối (vô
hiệu đương nhiên). Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực từ thời điểm
giao kết và mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Đối với trường hợp này, các bên tham
gia hợp đồng, những người có quyền, lợi ích liên quan đều có quyền yêu cầu
Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích cộng đồng. Thời
hiệu yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu không hạn chế. Trong khi đó, theo
Bộ luật dân sự Pháp lại quy định vấn đề về thời hiệu yêu cầu xem xét hợp đồng
vô hiệu tuyệt đối là 30 năm tính từ ngày hợp đồng được giao kết. Như vậy có vẻ
hợp lí hơn bởi nếu quy định hợp đồng vô hiệu có thời hiệu yêu cầu tuyên vô
hiệu là không xác định trên thực tế rất khó áp dụng mặc dù để bảo vệ lợi ích
cộng đồng nhưng có thể dẫn đến tình trạng mất ổn định xã hội, việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khó khăn và việc tìm chứng cứ chứng minh
cũng là cả một vấn đề. Do vậy, việc quy định một thời hiệu nhất định cho hợp
đồng vô hiệu tuyệt đối mà trong trường hợp này là vô hiệu do vi phạm điều cấm
của pháp luật, trái đạo đức xã hội là rất cần thiết.
5
Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại- René David, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.
25

Trích đoạn Đại cương phỏp luật về hợp đồng, Corinne Renault – Brahinsky, Nxb văn hoỏ thụng tin 2002, tr
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status