TM2.T1-3: Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
BÀI LÀM
Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động trung tâm trong giao lưu
thương mại, có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và mua bán hàng hóa trong
thương mại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước cũng như phát
triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia. Quan hệ mua bán hàng hóa được
thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua
bán hàng hóa là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ
mua bán hàng hóa, đảm bảo cho cam kết giữa các chủ thể được thực hiện trên
thực tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng. Tuy nhiên, không phải mọi
thỏa thuận của các bên đều được pháp luật thừa nhận mà chỉ có những thoả
thuận tuân theo quy định của pháp luật mới có hiệu lực pháp luật. Luật thương
mại 2005 (LTM) không có quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng mua bán
có hiệu lực. Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, cần
dựa trên những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật
dân sự 2005 (BLDS). Theo Điều 122 BLDS về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người
tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao
dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người
tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Và hình thức giao dịch phù hợp với quy
định của pháp luật. Nếu thiếu một trong bốn căn cứ trên, giao dịch dân sự bị coi
là vô hiệu. Căn cứ vào quy định của Điều 122 BLDS và các quy định có liên
quan, có thể xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi có đầy đủ
các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ
thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Trong thực tiễn hợp đồng mua bán, chủ
Sinh viên thực hiện: VŨ NGỌC HÀ-HS32A040 Page 1
TM2.T1-3: Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
thể tham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là các thương nhân. Khi tham gia hợp
nói chung và hợp đồng mua bán phải tuân theo những nguyên tắc: tự do giao kết
không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác,
trung thực và ngay thẳng. Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết
hợp đồng… là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán không có hiệu lực.
Thứ năm, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Để hợp
đồng mua bán có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo những hình
thức được pháp luật thừa nhận. Theo Điều 24 LTM, hợp đồng mua bán hàng hóa
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được
thành lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Như vậy, hình thức
của hợp đồng chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định. Trường hợp
các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật bắt buộc hợp đồng đó
phải tuân thủ về hình thức thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu khi được ký kết.
Ngoài ra, LTM còn có một quy định riêng về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài như chủ thể bên Việt Nam
phải là thương nhân được phép hoạt động thương mại trực tiếp với người nước
ngoài; hàng hóa phải là hàng hóa được phép mua bán theo quy định của pháp
luật nước bên mua và nước bên bán; hoạt động phải lập thành văn bản.
Như vậy, nếu không tuân thủ những quy định của pháp luật hợp đồng mua
bán hàng hóa sẽ bị coi là vô hiệu mặc dù đã được kí kết. Hợp đồng vô hiệu sẽ
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia hợp đồng từ thời
điểm xác lập. Tuy nhiên, việc LTM không quy định cụ thể về điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng đã tỏ ra những bất cập nhất định. Khi xem xét tính có hiệu lực
của hợp đồng này phải xem xét trên cơ sở BLDS. Nhưng điều kiện chủ thể của
giao dịch dân sự lại không phản ánh được đặc trưng quan hệ thương mại.
Sinh viên thực hiện: VŨ NGỌC HÀ-HS32A040 Page 3