Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
MỤC LỤC
Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân
sự. từ xa xưa , để thực hiện việc lưu thông hàng hóa và trao đổi dịch vụ, con người
đã biết sử dụng hợp đồng dân sự. Ban đầu, chúng chỉ là những lời giao kết bằng
miệng. Ngày nay, để thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế trên toàn thế giới, cùng
với sự phát triển về mọi mặt của xã hội, hợp đồng dân sự ngày càng được coi trọng
khi được thể hiện bằng văn bản cụ thể với những yêu cầu nhất định. Hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều có những quy phạm pháp luật quy định về các loại hợp
đồng. Để hiểu hơn về chế định này ở Việt Nam, em xin lựa chọn đề tài “các điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự ở Việt Nam – một số vấn đề lí luận và thực
tiễn” để nghiên cứu. Do kiến thức còn có phần còn thiếu sót, em kính mong nhận
được sự đóng góp từ thầy, cô để bài làm của mình được hoàn chỉnh hơn. Em xin
chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1, Khái niệm
Hợp đồng dân sự được điều 388 Bộ luật Dân sự quy định như sau: “Hợp
đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”
Theo định nghĩa này, sự “thỏa thuận” giữa các chủ thể là yếu tố bắt buộc để
xác lập một hợp đồng dân sự cụ thể. Nếu chỉ một bên thể hiện ý chí của mình, bên
còn lại chấp nhận thì cũng không thể coi là hợp đồng vì giữa họ chưa có sự “thỏa
thuận”. Như vậy, ý chí tự nguyện của các bên là một trong những điều kiện đầu
tiên và bắt buộc đối với hợp đồng dân sự.Tuy nhiên không phải chỉ cần hai bên
thỏa thuận, đồng ý với nhau thì hợp đồng đó sẽ được pháp luật công nhận, chỉ khi
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 1
Page 2
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
tham gia hợp đồng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng thì hợp đồng đó
được xác định là hợp đồng dân sự. Còn khi các bên chủ thể nhằm mục đích kinh
doanh thì hợp đồng đó được coi là hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên mục đích của hợp
đồng cũng chỉ là một cơ sở mang tính tương đối trong việc phân biệt giữa hai loại
hợp đồng bởi những hợp đồng mà các bên đều mang mục đích kinh doanh nhưng
không thể coi là hợp đồng kinh tế vì một bên chủ thể không có đăng kí kinh doanh.
2, Đặc điểm của hợp đồng
Theo định nghĩa về hợp đồng tại điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp
đồng dân sự mang những đặc điểm sau đây:
Được hình thành từ hành vi có ý chí, mục đích của con người;
Đây là một trong những đặc điểm quan trọng và không thể thiếu khi xác
định một hợp đồng dân sự. Thông qua hành vi của mình các chủ thể bày tỏ ý kiến
với nhau để cùng đi đến một một hợp đồng nhất định, thông qua đó thực hiện việc
trao đổi, mua bán, cho vay, tặng, thuê, mượn tài sản hoặc thực hiện cho nhau các
dịch vụ nhất định.
Là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên;
Dấu hiệu này cho chúng ta thấy việc trao đổi lợi ích vật chất giữa các bên
chỉ được xác lập khi họ có sự thỏa thuận và thống nhất ý chí với nhau. Nếu chỉ một
bên đưa ra ý chí và bên kia chấp nhận thì cũng không được xem là hợp đồng, vì
giữa họ không có sự “thỏa thuận”. Mặt khác, nếu chỉ một bên thể hiện ý chí của
dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau.
Bên cạnh đó, các chủ thể cũng có thể thỏa thuận thay một nghĩa vụ đang tồn
tại bằng một nghĩa vụ khác. Chẳng hạn như, bên A gia hạn thêm cho bên B về việc
trả tiền nợ (phát sinh từ một hợp đồng vay tiền trước đó), đây cũng được coi là hợp
đồng làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các bên, khi nghĩa vụ của bên B (phải trả
tiền cho bên A) được gia hạn them một khoảng thời gian nhất định.
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 4
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
Ba đặc điểm trên là những đặc điểm đặc trưng của mọi giao dịch dân sự. như
vậy, tất cả các quan hệ được hình thành trong thực tế nếu có đầy đủ các đặc điểm
trên thì đều được coi là giao dịch dân sự.
II, ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hợp đồng dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển các lợi ích
vật chất của các chủ thể trong giao lưu dân sự. Để đảm bảo hợp đồng đó được pháp
luật thừa nhận, tạo điều kiện cho các bên thực hiện như đúng những gì mình đã
giao kết thì hợp đồng đó phải có hiệu lực. Cùng với hành vi pháp lý đơn phương,
hợp dồng dân sự là giao dịch dân sự. như vậy, để hợp đồng dân sự có hiệu lực thì
nó phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự. điều 122 Bộ
lậu Dân sự 2005 qui định:
“Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
năng lực hành vi dân sự”. Trừ trường hợp người không có năng lực hành vi dân sự
thì mọi cá nhân đều được coi là có năng lực hành vi dân sự để tham gia hợp đồng.
Tuy nhiên, khi tham gia vào một hợp đồng dân sự cụ thể, để xác định cá nhân đó
có đủ năng lực hành vi để giao kết hợp đồng đó hay không. Họ chỉ được coi là đủ
năng lực hành vi để giao kết hợp đồng khi nhận thức của họ phù hợp với tính chất
của hợp đồng. Do vậy, đối với cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sự
1 Khoản 2 điều 14 Bộ luật Dân sự 2005
2 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2005
3 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2005
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 6
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
phát triển bình thường về nhận thức thì khi tham gia bất cứ hợp đồng dân sự nào
cũng được coi là người có năng lực hành vi dân sự. Đối với cá nhân hành vi dân sự
chưa đầy đủ thì họ chỉ được coi là có năng lực hành vi dân sự khi hợp đồng họ
tham gia nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi của họ. ngoài ra,
những cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi tham gia hợp đồng dân sự mà không
nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày thì cá nhân đó chỉ được xem là có
năng lực hành vi dân sự khi cá nhân đó có đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ
phát sinh từ hợp đồng đo. Thực tế cho thấy, những cá nhân từ đủ 15 tuổi trở lên đã
có khả nang lao động, có có quyền xác lập một hợp đồng lao động để tạo ra của cải
cật chất nên có thể dung tài sản riêng của mình để thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng. Cá nhân chưa có năng lực hành vi dân sự hoặc người bị mất năng lực hành
vi giao dịch dân sự không có năng lực thiết lập hợp đồng . Tuy nhiên trong trường
hợp cần thiết để đáp ứng nhu cầu của họ thì cần có người đại diện theo pháp luật,
những người này sẽ thay họ thiết lập và thực hiện hợp đồng dân sự.
sinh quyền , nghĩa vụ của tổ hợp tác. Người đại diện theo ủy quyền của tổ hợp tác
là thành viên của tổ hợp tác được tổ trưởng tổ hợp tác ủy quyền, người này đại
diệnc ho hợp tác để tham gia các hợp đồng dân sự trong phạm vi đã được tổ trưởng
tổ hợp tác ủy quyền.
D, Đối với hô gia đình
Hộ gia đình tham gia vào các hợp đồng dân sự, kinh tế thong qua hành vi
của người đại diên theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. người đại diện theo hộ gia
đình là chủ hộ gia đình đó. Người này đại diện cho hộ gia đình để tham gia các hợp
đồng dân sự liên quan đến việc sử dụng đất noogn nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp
hoặc đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ gia đình đó. Hợp đồng dân sự do
người đại diện của hộ gia đình xác lập vì lợi ích chung của hộ gia đình, làm sinh
4 Điều 112 Bộ luật Dân sự 2005
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 8
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
quyền và nghĩa vụ cho cả hộ gia đình đó. Người đại diện theo ủy quyền của hộ gia
đình là thành viên đã thành niên của hộ gia đình đó được chủ hộ ủy quyền.
2, Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng
Mục đích , nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức pháp luật là một trong những điều kiện có hiêu lực của hợp
đồng dân sự. Mục đích và nội dung luôn là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ và
phụ thuộc lẫn nhau. Mục đích của hợp đồng là mong muốn của các bên chủ thể khi
xác lập một hợp đồng dân sự, qua đó các bên phải thỏa thuận để đưa ra một nội
dung cụ thể cho hợp đồng nhằm đạt được mục đích đã đề ra.
Ví dụ, A muốn chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe máy của mình cho B với
nguyện xác lập nội dung của hợp đồng thì mục đích của hợp đồng mới được chấp
nhận.
Tự nguyện có thể được hiểu là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan bên
trong và việc biểu hiện ra bên ngoài bằng một thình thức nhất định. Như vậy, sự tự
nguyện khi tham gia hợp đồng dân sự được hiểu là một bên thể hiện mong muốn
của bản thân cho bên còn lại biết, bên còn lại biết, tiếp nhận ý chí đó và ngược lại.
Họ tự nguyện đi đến một hợp đồng với nội dung cụ thể nhằm đạt được mục đích
cuuar bản thân mà không chịu bất cứ sự ràng buộc hay áp đặt ý chí nào. Trong
nhiều trường hợp một người không muốn tham gia một hợp đồng nhưng họ bị
buộc phải tham gia hợp đồng đó hoặc không muốn tham gia một hợp đồng vì
không chấp nhận nội dung nhưng phải chấp nhận một nội dung khác vì những lí do
riêng thì hợp đồng đó cũng bị xem là thiếu sự tự nguyện và nó bị vô hiệu. Trong
thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hợp đồng, việc định hợp đồng như thế nào bị
coi là vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện là rất khó. Do vậy, một hợp đồng khi được
xác lập thì được coi là sự tự nguyện của các bên, nó vô hiệu khi có một trong các
yếu tố sau đây:
A, Do bị nhầm lẫn
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 10
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
Nhầm lẫn được hiểu là sự hiểu sai lệch về một vấn đề nào đó. Nhầm lẫn
trong hợp đồng là sự hiểu sai lầm về nội dung của hợp đồng. Nguyên nhân dẫn đến
hợp đồng có thể do chính ở xuất của chính người nhầm lẫn những có khi do sự cố
ý của chủ thể phía bên kia. Nếu nhầm lẫn là do sơ xuất của bên nhầm lẫn thì bên
đó phải tự gánh chịu thiệt hại. Ngược lại, nếu nhầm lẫn là do hành vi của bên kia
thì bên bị nhầm lẫn có thể yêu cầu thay đổi nội dung hoặc yêu cầu Tòa tuyên hợp
mà các bên đã cam kết thực hiện. Tùy thuộc vào từng nội dung, tính chất của từng
hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn
một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp vơi từng trường
hợp cụ thể. Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 qui định:
“Hình thức hợp đồng dân sự
1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao
kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện
bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải
tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”
Qua quy định trên có thể thấy hợp đồng dân sự rất đa dạng về hình thức, tạo
điều kiện cho các chủ thể có thể lựa chọn để giao kết với nhau.
•
Hình thức có chứng nhận, chứng thực
Đối với các hợp đồng mà pháp luật qui đinh phải được thể hiện bằng những
hình thức nhất định thì ngoài ba điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kể trên, hợp
đồng đó còn phải đảm bảo yếu tố về hình thức. Thường là những hợp đồng mang
tính chất phưc tạp, dễ xảy ra tranh chấp và Nhà nước nhận thấy cần phải quản lý,
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 12
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
kiểm soát khi chúng được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, chúng
muốn có hiệu lực thì phải được thực hiện bằng hình thức mà pháp luật qui định, đó
Page 13
Bài tập lớn học kì môn luật Dân sự Modul II
nhau, mỗi bên giữ một bản để coi như đã có trong tay bằng chứng, chứng minh
quyền dân sự của mình.
Tuy nhiên, so sánh khoản 2 điều 122 và ý cuối cùng của khoản 2 của điều
401 Bộ luật Dân sự 2005 ta thấy có chút mâu thuẫn, dẫn tới nhiều cách hiểu khác
nhau. Xét yêu cầu về hình thức của một hợp đồng dân sự, có hai cách hiểu :
Cách hiểu tứ nhất : một hợp đồng dân sự được xem là có hiệu lực khi đảm
bảo ba yếu tố được qui định tại khoản 1 điều 122 Bộ luật Dân sự. Khi pháp luật có
quy định về hình thức thì nó phải đảm bảo thêm cả yếu tố về hình thức. Tuy nhiên,
nếu vi phạm yếu tố về hình thức thì hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp pháp
luật qui định nếu nó không đảm bảo về mặt hình thức thì sẽ bị vô hiệu.
Cách hiểu thứ hai : những hợp đồng mà pháp luật qui định không cần tuân
theo một hình thức nhất định thì chỉ cần đáp ứng đủ ba yêu cầu được nêu tại khoản
1 điêu 122 Bộ luật Dân sự sẽ được coi là có hiệu lực. Nếu pháp luật có cầu về hình
thức thì đây sẽ là điều kiện bắt buộc thứ tư để có hiệu lực của hợp đồng dân sự, nếu
yếu tố về hình thức không được bảo đảm thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu.
Theo quan điểm của cá nhân, em thấy cần sửa đổi hai điều luạt này ở Bộ luật
Dân sự năm 2005 để tránh hiểu lầm dẫn tới những tranh chấp dân sự không đáng
có.
Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là nội dung quan trong trong
chế định hợp đồng. Việc hoàn thành đầy đủ các điều kiện nêu trên để dẫn tới việc
giao kết hợp đồng là điều mong muốn của các chủ thể khi tham gia vào nhưng hợp
đồng nhất định.
KẾT LUẬN
Hợp đồng dân sự là phương thức cơ bản để các cá nhân, tổ chức thực hiên
Nguyễn Thị Hiền - 350532
Page 15