1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ XUÂN LỤC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Lê Xuân Lục
Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt
8
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt
8
1.1.2.
Các nguyên tắc của quyết định hình phạt
19
1.1.3.
Các căn cứ quyết định hình phạt
27
1.2.
Một số vấn đề về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
Bộ luật Hình sự
34
1.2.1.
Khái niệm quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Hình sự
34
1.2.2.
Ý nghĩa của quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ
luật Hình sự
40
1.3.
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự
trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
43
1.3.1.
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự
trong trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
2.2.
Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyết định hình
phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự
59
2.2.1.
Quy định về các nguyên tắc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của Bộ luật Hình sự
59
2.2.2.
Quy định về các căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của Bộ luật Hình sự
65
2.2.3.
Quy định về giới hạn của việc quyết định hình phạt nhẹ hơn
quy định của Bộ luật Hình sự
78
2.3.
Thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn
quy định của Bộ luật Hình sự
83
2.3.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của Bộ luật Hình sự
83
2.3.2.
Những bất cập trong quy định về quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của Bộ luật Hình sự
87
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI
101
3.2.2.
Nâng cao năng lực, chất lượng của đội ngũ Hội thẩm nhân dân
trong xét xử hình sự
105
KẾT LUẬN
108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
111 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật Hình sự
QĐHP
: Quyết định hình phạt
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
XHCN
cho thấy tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi, với nhiều thủ
đoạn khác nhau. Luật hình sự đi vào đời sống xã hội có vai trò quan trọng
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một trong những vấn đề
quan trọng của luật hình sự là vấn đề quyết định hình phạt (QĐHP) của Tòa
án đối với các trường hợp phạm tội nói chung và đối với trường hợp QĐHP
nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) nói riêng. QĐHP chính xác,
công bằng và đúng pháp luật không chỉ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp
luật mà còn có tác dụng cho người dân tin tưởng vào chính sách pháp luật của
Nhà nước. Nhìn chung, việc QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người
phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phát huy tác
dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Vì vậy, mọi trường hợp áp dụng hình phạt
nặng hơn hoặc nhẹ hơn mức cần thiết đối với hành vi phạm tội đều không
đảm bảo được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội trở thành người
có ích cho xã hội.
Việc QĐHP không phải là việc dập khuôn như nhau với mọi hành vi
phạm tội cũng như mọi người phạm tội, mà phải dựa trên các căn cứ và các
nguyên tắc QĐHP theo quy định của BLHS. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa
án có thể QĐHP nhẹ hơn quy định tại điều khoản cụ thể của BLHS nếu dựa
trên các căn cứ, nguyên tắc về QĐHP mà BLHS quy định mà vẫn đảm bảo
tính chính xác, công bằng cũng như đạt được việc giáo dục và phòng ngừa
chung. Trong thực tiễn xét xử, việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS còn
nhiều khó khăn vướng mắc nhất định nên cần phải xem xét, nghiên cứu để
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
10
Quy định về việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS là xuất phát từ
nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước để thực
hiện phương châm trong đường lối xử lý tội phạm và người phạm tội của Nhà
nước ta, đó là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo
dục, cải tạo.
"Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS là một trong những
trường hợp QĐHP có tính đặc biệt. Quy định này có một vai trò quan trọng
trong chế định QĐHP vì vậy về mặt lý luận cho đến nay ở nước ta đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
- Về sách chuyên khảo:
+ ThS. Đinh Văn Quế: Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
+ TS. Lê Văn Đệ: Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
+ TS. Dương Tuyết Miên: Định tội danh và quyết định hình phạt,
Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2007.
- Về các bài viết:
+ TS. Trần Thị Quang Vinh, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của pháp luật hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2000;
+ Dương Tuyết Miên, Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của Bộ luật Hình sự, Tạp chí Luật học, số 6/2000;
+ TS. Phạm Mạnh Hùng, Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của Bộ luật, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), số 3/2001;
+ TS. Lê Đăng Doanh, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ
luật Hình sự, Tạp chí TAND, số 12/2003;
12
+ ThS. Phạm Văn Báu, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ
luật - những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí TAND, số
18/2008, v.v…
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các công trình nghiên cứu trên đây
đều đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định về QĐHP nhẹ hơn quy định của
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS dưới góc độ luật hình sự theo quy định
của BLHS năm 1999.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương
pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự cũng như
chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngoài ra, còn sử dụng các thành
tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về
nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật
tố tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu,
sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học
luật hình sự.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận làm sáng tỏ vấn đề
như: phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê,… Đồng
thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước
và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc
lĩnh vực tư pháp hình sự do TANDTC hoặc của các cơ quan bảo vệ pháp luật
ở trung ương ban hành có liên quan đến đề tài.
14
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ là chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn
diện, có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHP nhẹ
hơn quy định của BLHS. Trong luận văn này, tác giả giải quyết các vấn đề về
mặt lý luận sau:
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về
hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự và một số giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
Bộ luật Hình sự.
16
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một công việc quan trọng trong hoạt động xét
xử vụ án hình sự của Tòa án. Khi tìm hiểu về QĐHP, trước tiên cần bàn về
khái niệm QĐHP. Khái niệm QĐHP được coi là một trong các khái niệm cơ
bản và quan trọng của luật hình sự Việt Nam. Luật hình sự xác định hành vi
nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới các khách thể được luật
hình sự bảo vệ và quy định các biện pháp với tư cách là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người phạm tội. Ở nước ta, trước đây,
thuật ngữ QĐHP còn có tên gọi là lượng hình. Sau khi BLHS được ban hành
năm 1985 và có hiệu lực, thuật ngữ lượng hình mới được thay bằng tên gọi là
QĐHP như hiện nay. Mặc dù là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay,
pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa có một một quy định để xác định khái
niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một khái
niệm khoa học luật hình sự.
Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều nhà nghiên cứu về luật hình
sự đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn như, ThS. Đinh
Văn Quế đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về QĐHP như sau "Quyết
định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải
học đưa ra nghiên cứu theo hai khía cạnh đó là: nghĩa hẹp của khái niệm
QĐHP, nghĩa rộng của khái niệm QĐHP [50, tr. 201-202]. Theo đó, các tác
giả này cho rằng các quan điểm về QĐHP mà đã trình bày trên đây chỉ là khái
18
niệm QĐHP theo nghĩa hẹp. Còn theo nghĩa rộng của vấn đề thì QĐHP còn
bao gồm cả các hoạt động: xác định người phạm tội có được miễn TNHS hay
miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình
phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [15, tr. 65-66].
Như vậy, qua phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khoa học về
QĐHP được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:
Thứ nhất, nghĩa hẹp của QĐHP là việc Tòa án ra QĐHP với hình phạt
chính và hình phạt bổ sung.
Thứ hai, nghĩa hẹp của QĐHP là bao gồm cả hình phạt chính và hình
phạt bổ sung, quyết định các biện pháp chấp hành hình phạt, miễn TNHS,
miễn hình phạt hoặc quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm
mục đích thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt. Ví dụ, quyết định biện pháp
bắt buộc chữa bệnh… Như vậy, với nội dung nêu trên thì QĐHP chỉ có thể
đặt ra đối với những trường hợp người phạm tội phải chịu TNHS và bị áp
dụng hình phạt.
Đối với hình phạt chính, đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là
chế tài lựa chọn. Do vậy, nếu trong khung hình phạt có nhiều loại hình phạt
khác nhau thì QĐHP là việc lựa chọn một hình phạt cụ thể trong các hình phạt
đó và xác định một mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để áp dụng
đối với người phạm tội. Trường hợp hình phạt mà Toàn án tuyên cho bị cáo là
cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân hoặc tử hình thì QĐHP thực chất chỉ là việc
lựa chọn hình phạt mà không có bước xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng
cho người phạm tội.
Đối với hình phạt bổ sung, việc QĐHP tương tự như QĐHP chính, tức
là Tòa án lựa chọn loại và quyết định mức hình phạt chính trong phạm vi cho
hình phạt là biện pháp xử lý TNHS chỉ do Tòa án tiến hành trên cơ sở những
căn cứ, quy định của BLHS. Miễn hình phạt cũng chỉ được tiến hành sau khi
Tòa án đã định tội danh xong đối với bị cáo. Vì vậy, cần xác định miễn hình
phạt phải thuộc về giai đoạn QĐHP.
20
Còn đối với quan điểm cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP
thì tác giả không đồng ý, bởi lẽ, miễn TNHS là một biện pháp xử lý hình sự do
nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau tiến hành, tùy từng giai đoạn tố tụng
khác nhau, như: Cơ quan điều tra ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát ở giai đoạn
truy tố, hay Tòa án ở giai đoạn xét xử. Như vậy, người đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội có đủ các điều kiện được miễn TNHS thì vẫn được các
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của BLHS để miễn TNHS cho
người đó. Hơn nữa, QĐHP là hoạt động của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật
hình sự, do đó nếu cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP là chưa
chính xác ở cả khía cạnh nội dung lẫn khía cạnh chủ thể có thẩm quyền QĐHP.
Một vấn đề nữa mà chúng ta cần làm rõ để hiểu chính xác nội hàm
khái niệm QĐHP là việc xác định giai đoạn định khung hình phạt có thuộc về
hoạt động QĐHP hay không? Tác giả cho rằng, cần coi giai đoạn định khung
hình phạt là một trình tự của hoạt động QĐHP, thuộc về hoạt động QĐHP.
Bởi vì, định khung hình phạt là việc làm được thực hiện sau khi định tội danh
xong và là hoạt động đầu tiên xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình
phạt theo khung hình phạt được phép áp dụng, trên cơ sở giới hạn luật định,
hình phạt cụ thể sẽ được quyết định. Mặt khác, việc định tội danh phải được
thực hiện trên cơ sở cấu thành tội phạm cơ bản chứ không phải là các cấu
thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Chỉ trên cơ sở định tội danh xong
các cơ quan tố tụng mới xác định khung hình phạt, trong trường hợp điều luật
chỉ có một khung hình phạt thì Tòa án đương nhiên không phải xác định
khung hình phạt. Khi định khung hình phạt, Tòa án dựa vào các tình tiết giảm
nhẹ và tăng nặng định khung. Vì vậy, theo tác giả nên coi định khung hình
người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.
1.1.1.2. Ý nghĩa của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một hoạt động, thể hiện ở việc Tòa án tuân
thủ các quy định của BLHS và Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên một hình
22
phạt đảm bảo tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật với người phạm tội
bị kết án. Qua đó, góp phần tích cực vào việc bảo vệ các quyền con người và
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. QĐHP có những ý nghĩa quan
trọng sau:
* QĐHP đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, mục đích là "dự kiến
trong ý thức con người về kết quả nhằm đạt được bằng hoạt động của mình…
Với tính cách là động cơ trực tiếp, mục đích hướng dẫn và điều chỉnh mọi
hành động" [58, tr. 648]. Như vậy, có thể hiểu mục đích của hình phạt là kết
quả mà Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội bị kết án. Mục đích của hình phạt tuy là yếu tố quyết định
đối với hoạt động QĐHP nhưng mục đích của hình phạt có đạt được hay
không lại phụ thuộc vào việc QĐHP được thực hiện như thế nào. Mọi trường
hợp QĐHP sai, QĐHP quá nặng hoặc quá nhẹ đều sẽ không đạt được mục
đích của hình phạt trong thực tiễn và còn làm nảy sinh những phản ứng tiêu
cực, tâm lý chống đối, không tin tưởng vào tính công minh của pháp luật, của
các cơ quan bảo vệ pháp luật… từ phía người bị kết án và dư luận xã hội.
Điều 27 BLHS năm 1999 quy định về mục đích của hình phạt như sau:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa
họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [29].
Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự có rất nhiều các quan điểm
* Quyết định hình phạt đúng là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu
quả của hình phạt
Ngoài mục đích thì hiệu quả của hình phạt cũng là một yếu tố quan
trọng của QĐHP. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, hiệu quả
24
"là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng
tới" [58, tr. 440]. Nếu như mục đích của hình phạt là dự kiến về kết quả của
Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt với người
phạm tội bị kết án thì hiệu quả của hình phạt chính là kết quả cần đạt được đó.
Tuy nhiên, do những mục đích của hình phạt trong thực tế luôn đạt được ở
những chừng mực nhất định nên mức độ đạt được mục đích của hình phạt
chính là kết quả phản ánh hiệu quả của hình phạt. Mức độ đạt được mục đích
của hình phạt càng cao thì hiệu quả của hình phạt đạt được càng cao và ngược
lại, mục đích đạt được của hình phạt ở mức độ thấp thì hiệu quả hình phạt
cũng chỉ đạt được ở mức độ thấp.
Nói đến hiệu quả của hình phạt là nói đến tác dụng tích cực của hình
phạt đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Khi hình phạt được áp
dụng đối với người phạm tội bị kết án và thi hành trong thực tiễn thì hiệu quả
của hình phạt có được đảm bảo và nâng cao hay không phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Hoạt động xây dựng pháp luật hình sự; hoạt động QĐHP; việc tổ
chức thi hành án hình sự; công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm hình thành và
nâng cao ý thức pháp luật cho công dân. Trong tất cả các yếu tố này thì
QĐHP là yếu tố mang tính quyết định, quan trọng nhất trong việc đảm bảo và
nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt. Việc xây dựng hệ thống pháp luật
hình sự hoàn thiện chỉ có ý nghĩa khi QĐHP trong thực tế được đúng. Mặt
khác, việc chấp hành hình phạt chỉ phát huy tác dụng tốt nhất nếu Tòa án
QĐHP đúng. Những yếu tố xã hội khác đảm bảo hiệu quả của hình phạt như
vấn đề tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân để công dân tự
giác chấp hành hình phạt không thể phát huy tác dụng khi QĐHP không đúng.
chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt chính được xác định là loại hình phạt
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và khi
được áp dụng có khả năng đạt được mục đích của hình phạt. Hình phạt bổ
sung được xác định là loại hình phạt hỗ trợ cho hình phạt chính nhằm đạt
được mục đích của hình phạt ở mức cao nhất [50, tr. 180]. Chính vì vậy mà