BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TRẦN THỊ HƯỜNG
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TRẦN THỊ HƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ THỊ HỒNG YẾN
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP
ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ................................................... 7
1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng trong hoạt động thương
mại...................................................................................................................... 7
1.2. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.......................................... 8
1.3. Ý nghĩa của các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong lĩnh vực kinh
doanh ................................................................................................................ 11
1.4. Pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong lĩnh vực kinh
doanh ............................................................................................................... 13
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989 ......................................................... 13
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến hết năm 2005 ............................................ 14
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay ........................................................... 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 17
Chương 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ
HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ......... 18
2.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh ... 18
2.1.1. Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng kinh doanh thương mại ......... 18
2.1.2. Điều kiện đại diện các bên tham gia giao kết hợp đồng kinh tế phải đúng
thẩm quyền. Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo
pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. .......................................................... 18
2.1.3. Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng ................................... 21
2.1.4. Điều kiện về ý chí................................................................................ 24
2.1.5. Điều kiện về hình thức......................................................................... 28
2.2. Hậu quả của việc vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong
hoạt động kinh doanh...................................................................................... 33
2.2.1. Thời hiệu khởi kiện và chủ thể khởi kiện ............................................. 33
thức của hợp đồng.
Hợp đồng kinh doanh đóng vai trò là “hòn đá tảng” cho các hoạt động đầu tư
và phần lớn các hoạt động kinh doanh khác của công ty. Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở
tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó thiết lập các quan hệ kinh doanh giữa các đối
tác như nhân lực, khách hàng, nhà thầu, chi phí, quyền lợi và trách nhiệm. Những
bản dự thảo hợp đồng tạm trong quá trình lên kế hoạch kinh doanh sẽ đảm bảo cho
công ty sớm nhận diện và xử lý kịp thời các vấn đề thiết yếu có thể bị bỏ qua.
Thực tế cho thấy, việc thiếu trang bị những kiến thức pháp lý cần thiết trong
hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng đã mang lại hậu quả khôn lường mà nhiều
doanh nghiệp đã phải gánh chịu những thiệt hại về tài sản, tiền bạc, sự mất uy tín
trong quan hệ kinh doanh và nhiều thua thiệt khác. Nguyên nhân có cả khách quan
và chủ quan, nhưng trong đó vẫn chủ yếu vẫn là thiếu kiến thức, kinh nghiệm và
chưa chú trọng đúng mức đến tầm quan trọng của việc ký kết, thực hiện hợp đồng
1
mà đặc biệt là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Khi tranh chấp xảy ra trong hoạt
động kinh doanh, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra đó là “Liệu hợp đồng đó có tồn tại hay
không? Hợp đồng có hiệu lực không” để từ đó xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng. Bởi vậy, việc nghiên cứu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
trong hoạt động kinh doanh đã và đang trở thành vấn đề có tính cấp thiết cho bất kỳ
doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt dộng kinh doanh. Hợp đồng có giá trị pháp
lý như luật (contract = law) là công thức để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo
vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra. Nếu như sự an toàn của
con người, tài sản được bảo đảm trên cơ sở những quy định trong pháp luật hình sự
thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng trong
lĩnh vực dân sự và kinh tế. Trong kinh doanh, để đi đến hợp đồng là điều khó,
nhưng để hoàn thành một hợp đồng mà các bên đều hài lòng lại là điều khó hơn,
thực vậy, khi ký kết hợp đồng các doanh nghiệp không thể lường trước hết mọi tình
sự, thể hiện một bước tiến cao hơn trong tư duy lập pháp, hành pháp và tư pháp
của nhà làm luật. Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu học hỏi những quy
định pháp luật từ thực tiễn cũng như luật pháp của các nước trên thế giới, cân nhắc
với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam để đưa ra một văn bản có tính chuẩn mực
pháp lí cao nhất trong hệ thống pháp luật dân sự. Trong đó, chế định hợp đồng
chiếm tới hơn 200 Điều trong tổng số 777 Điều của Bộ Luật dân sự. Với đa số Đại
biểu tán thành, ngày 24/11, Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Bộ luật dân
sự (sửa đổi). Bộ luật dân sự sửa đổi có hiệu lực từ 1/1/2017 với nhiều quy định
mới quan trọng có liên quan đến các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Hợp
đồng trong hoạt động kinh doanh có bản chất của hợp đồng nói chung, là sự thoả
thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ
thương mại. Luật Thương mại 2014 được hiểu là luật chuyên ngành không đưa ra
định nghĩa về hợp đồng trong kinh doanh, song có thể xác định bản chất pháp lý
của hợp đồng trong kinh doanh, thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân
sự về hợp đồng. Do vậy, hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là một dạng cụ
thể của hợp đồng dân sự.
3
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà hội nhập nền kinh tế toàn cầu, quá trình hội
nhập mở ra nhiều cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng không ít thách
thức, đòi hỏi phải có sự chặt chẽ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về
hợp đồng trong hoạt động kinh doanh. Trước những đòi hỏi khách quan của các
doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, những năm gần đây đã có một số công
trình khoa học và có rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề hợp đồng, cụ thể là:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Dạ Như Ngọc - Khoa Luật Trường Đại học
Cần Thơ về “Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại: Lý luận, pháp luật
và thực tiễn tài phán” năm 2009; Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Hải Hưng Trường Đại học Luật Hà Nội về “Đổi mới sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng
trong Bộ Luật Dân sự 2005” năm 2006; Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Minh
Khách thể nghiên cứu: Bộ Luật Dân sự; Luật kinh doanh; Luật Thương mại
và các văn bản hướng dẫn khác có liên quan.
Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, Đề tài nghiên cứu khoa học vận dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Để thực hiện mục
tiêu nghiên cứu, công trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống, quy nạp, diễn dịch, lôgic, lịch sử... kết
hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Các phương pháp được sử dụng nhằm
làm rõ nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu, bảo đảm tính khoa học và lôgic giữa
các vấn đề được nêu ra. Ngoài ra, công trình nghiên cứu cũng kế thừa, phát triển các
kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài ở trong và
ngoài thành phố nhằm làm rõ những vấn đề chính của công trình nghiên cứu .
6. Đóng góp của đề tài (ý nghĩa khoa học và thực tiễn)
Đề tài mang đến cái nhìn rõ nét hơn cho các đối tượng sử dụng đến hợp đồng
trong quá trình kinh doanh nói chung và trên hết đó là giúp chúng ta có một kiến
thức cụ thể về pháp luật để chấp hành đúng, đủ, hạn chế rủi ro xảy ra trong giao
dịch có liên quan đến hợp đồng.
5
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn đưa ra những nhận xét, quy định chưa
thống nhất, chưa rõ ràng hoặc chưa khả thi của pháp luật hiện nay về các vấn đề liên
quan đến hợp đồng trong hoạt động kinh doanh. Qua đó đưa ra những đề xuất, kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh thương mại.
Luận văn có 3 phần: Phần mở đầu, phần kết luận và phần nội dung gồm 3
chương sau:
Chương 1:Khái quát chung về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh
nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương
mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân là chủ
thể của hợp đồng kinh doanh, thương mại có thể là thương nhân Việt Nam hoặc
thương nhân nước ngoài. Có những quan hệ trong quan hệ hợp đồng trong kinh
7
doanh, thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (Hợp đồng đại diện cho
thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương
mại...); bên cạnh đó có những hợp đồng kinh doanh, thương mại chỉ cần ít nhất một
bên là thương nhân (hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá
hàng hoá, hợp đồng môi giới thương mại...).
Về hình thức: Hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có thể được thiết lập
dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.
Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp
đồng trong kinh doanh, thương mại bằng hình thức vàn bản (Hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mãi, quảng cáo, hội chợ, triển lãm
thương mại...). Luật Thương mại năm 2005 cho phép các bên hợp đồng có thể thay
thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các
hình thức có giá tri tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp
dữ liệu [15, Điều 3].
Về mục đích: Mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng kinh doanh,
thương mại là lợi nhuận. Trường hợp có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi
nhuận, thì hợp đồng được áp dụng Luật Thương mại khi bên không nhằm mục đích
lợi nhuận lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
1.2. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Để đưa ra được một cách khái quát và đầy đủ, bao hàm nhất về khái niệm điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng, trước hết cần tìm hiểu hiệu lực của hợp đồng là gì?
Hiệu lực hợp đồng là vấn đề mang tính bản chất của hợp đồng, vì suy cho
lực hợp đồng cũng được qui định trong các văn bản pháp luật của một số quốc gia.
Chẳng hạn, Bộ luật dân sự Pháp có qui định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có
giá trị là luật đối với các bên”, “chỉ có thể bị hủy bỏ trên cơ sở có thỏa thuận chung,
hoặc theo những căn cứ do pháp luật qui định” và “phải được thực hiện một cách
thiện chí” [19, Điều 1134]. Theo qui định này, hợp đồng có hiệu lực thì có giá trị là
luật đối với các bên, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, được các bên phải tuân thủ
và thực hiện hợp đồng đó một cách nghiêm túc, có thiện chí. Các bên không thể hủy
bỏ hợp đồng nếu không dựa trên ý chí tự nguyện của tất cả các bên hoặc các căn cứ
9
do pháp luật qui định. Bộ luật dân sự năm 2005 không qui định cụ thể về hiệu lực
của hợp đồng, mà chỉ qui định khái quát là: “hợp đồng được giao kết hợp pháp có
hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có
quy định khác” [15, Điều 405]. Có thể nói, qui định này không thể hiện được bản
chất của khái niệm hiệu lực hợp đồng - đó là giá trị pháp lý ràng buộc đối với các
bên, mà chủ yếu là để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Ngoài ra,
tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có qui định chung về hiệu lực của các cam
kết dân sự: “cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với
các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Tóm lại, qua
nghiên cứu khía cạnh pháp lý và từ điển của khái niệm hiệu lực hợp đồng, chúng ta
thấy có hai dấu hiệu thể hiện bản chất của nó, đó là: Giá trị pháp lý của hợp đồng
giống như pháp luật và hiệu lực ràng buộc mang tính cưỡng chế nhằm buộc các bên
phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các cam kết trong hợp đồng. Giá trị pháp lý và
hiệu lực ràng buộc các bên phải tôn trọng và thực hiện đúng hợp đồng là hai mặt
không thể thiếu của hiệu lực hợp đồng.
Trên cơ sở nhận thức bản chất của ‘hiệu lực hợp đồng, có thể đưa ra khái
niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng như sau: Điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập
nhằm bắt buộc các bên tôn trọng và nghiêm túc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
1.3. Ý nghĩa của các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
Hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng trong hoạt động kinh doanh nói
riêng là kết quả của sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên đồng thời là căn cứ
phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên không phải cứ có sự thỏa thuận
thống nhất ý chí của các bên là có hợp đồng và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà
nó còn phải là những thỏa thuận hợp pháp. Tức là những thỏa thuận đó còn phải
tuân theo những quy định của pháp luật thì mới có thể có giá trị pháp lí và trở thành
căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự. Vì vậy việc quy định cụ thể các điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng trong kinh doanh nói riêng có
ý nghĩa pháp lí rất quan trọng:
Thứ nhất, tạo hành lang pháp lí an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao kết
Pháp luật quy định về các điều kiện để các chủ thể tham gia hợp đồng phải
tuân theo đồng thời quy định biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân thủ
11
các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng có thể bị vô hiệu, các bên phải
chịu hậu quả pháp luật bất lợi. Quy định này tạo hành lang pháp lí an toàn cho các
chủ thể khi tham gia giao dịch. Vì thế các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng đóng vai trò là công cụ pháp lí quan trọng bảo đảm an toàn cho các chủ thể
trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó còn góp phần nâng cao ý thức của các chủ
thể khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng, bởi lẽ họ ý thức được hậu quả pháp lí
bất lợi của việc không tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định để bảo vệ cho
chính mình và cho người khác.
Thứ hai, là cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh chấp xảy ra
Ngày nay việc tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng xảy ra rất nhiều, vì
thế khi quy định về điều kiện của hợp đồng là một căn cứ pháp lí phát sinh không
thể thiếu trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh. Bởi lẽ bên cạnh những
chỉnh về sau. Ngay từ những năm 1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ
tạm thời về hợp đồng kinh doanh kèm theo Nghị định số: 735/TTG ngày 10/4/1956,
theo bản Điều lệ đó, hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế với nhau đã được gọi chung
là hợp đồng kinh doanh, được ký kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ. Kể từ năm 1960, khi miền Bắc nước ta bước vào giai đoạn tiến lên xây
dựng Chủ nghĩa xã hội trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch tập trung, nhà nước ta đã
thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung, nhà nước vừa là trung tâm quyền lực chính trị,
vừa là trung tâm quyền lực kinh tế. Nhà nước xuất hiện với vai trò duy nhất, vừa
thành lập các tổ chức kinh tế để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đồng
thời lãnh đạo, tổ chức quản lí các tổ chức sản xuất kinh doanh. Vì vậy, ở giai đoạn
này hợp đồng không được hiểu theo nghĩa đích thực của nó là tự do thỏa thuận mà
nó thực chất được hiểu là một dạng “hợp đồng kế hoạch”. Ngày 04/01/1960, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/TTg ban hành điều lệ tạm thời về
hợp đồng kinh tế để thay thế cho Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh (năm
1956), Điều lệ này được áp dụng trong một thời gian dài ở miền Bắc Việt Nam và
13
được thay thế bằng Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975, quy định Điều lệ về chế độ
hợp đồng kinh tế được ban hành. Đây là bản Điều lệ chính thức đầu tiên về hợp
đồng trong kinh doanh, là công cụ pháp lý của Nhà nước trong việc xây dựng và
phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Như vậy, ở giai đoạn này điều kiện để một
hợp đồng kinh doanh có hiệu lực quy định khá đơn giản, chủ thể tham gia ký kết
hợp đồng kinh tế có phạm vi rất hẹp và điều kiện về nội dung và hình thức không
bắt buộc.
Có thể nói, trước thời kỳ đổi mới đất nước, vấn đề hợp đồng trong lĩnh vực
kinh doanh không thể hiện đúng bản chất của hợp đồng là dựa trên cơ sở sự thỏa
thuận tự nguyện, phản ánh mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ mà thực chất là một dạng
công cụ để các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa thực hiện các kế hoạch nhà nước
là đảm bảo các quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế nhằm đẩy mạnh sản
xuất và lưu thông hàng hóa và tuy không quy định cụ thể nhưng cũng một phần hé
mở những điều kiện bắt buộc để hợp đồng kinh tế có hiệu lực thông qua các nguyên
tắc của hợp đồng kinh tế như: chủ thể trong hợp đồng kinh tế ít nhất một bên phải là
pháp nhân (Điều 2) hoặc nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận (Điều 3) …. Tuy nhiên,
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế và chưa phù hợp
với thực tiễn như:
Thứ nhất, việc quy định điều kiện về chủ thể trong hợp đồng kinh tế bắt buộc
ít nhất một bên phải là pháp nhân (Điều 2) dẫn đến tình trạng hợp đồng kinh tế giữa
các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân (như: hợp đồng giữa các doanh
nghiệp tư nhân với nhau hoặc giữa các cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau)
không được coi là hợp đồng kinh tế, gây khó khăn cho việc giải quyết những tranh
chấp phát sinh.
Thứ hai, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế không cho phép người được ủy quyền
kinh tế có thể ủy quyền cho người khác ký hợp đồng (Điều 9), không quy định điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế trong khi đó lại liệt kê ra một số trường hợp
dẫn đến hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ, do đó bỏ sót nhiều căn cứ có thể dẫn đến
hợp đồng kinh tế vô hiệu như: Hợp đồng kinh tế được ký có dấu hiệu giả tạo, đe
15
dọa, nhầm lẫn, cưỡng bức .. và thực tiễn áp dụng quy định về xử lý tài sản khi hợp
đồng kinh tế vô hiệu còn nhiều vướng mắc.
Thứ ba, nếu xét về mặt lý luận thì hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có
cùng bản chất, bởi đều là các giao dịch song phương và đều là hợp đồng hình thành
từ sự thỏa thuận của các chủ thể ở vị trí hoàn toàn bình đẳng với nhau, tuy nhiên,
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định hình thức của hợp đồng kinh tế chỉ có thể
bằng văn bản (Điều 11), trong khi hình thức của hợp đồng dân sự có thể bằng văn
trái đạo đức xã hội; các bên hoàn toàn tự nguyện, vấn đề này hiện đã được Bộ luật
dân sự năm 2005 qui định tương đối hoàn thiện, trừ điều kiện về hình thức hợp
đồng. Với đa số Đại biểu tán thành, ngày 24/11, Quốc hội đã biểu quyết thông qua
dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Bộ luật dân sự sửa đổi có hiệu lực từ 1/1/2017 với
nhiều quy định mới quan trọng có liên quan đến các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng trong hoạt động kinh doanh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương
mại được thể hiện trong chương 1 là những vấn đề có tính lý luận bao quát, bao gồm
các quy định về hợp đồng kinh doanh thương mại, các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng kinh doanh thương mại. Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau và dựa
trên các cách tiếp cận khác nhau, luận văn đã đưa ra được định nghĩa về hiệu lực của
hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại cũng là những nội dung mang
tính cốt yếu về mặt lý thuyết, tạo căn cứ cho việc phân tích đánh giá pháp luật thực
định và thực tiễn áp dụng liên quan đến nội dung của luận văn ở chương 2.
17
Chương 2
NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU
KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh
Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng có
hiệu lực. Vì vậy, khi xem xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh,
thương mại cần dựa trên các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định
nhân. Trong khi không có cơ sở để xác định chắc chắn đâu là điều lệ hiện hành và
chính xác của pháp nhân. Đây hoàn toàn là công việc nội bộ của pháp nhân, vì vậy
pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với việc xác lập, thực hiện giao dịch của nhân
viên mình nói chung, của người đại diện theo pháp luật nói riêng.
Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH và công ty cổ
phần có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong
trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện
theo pháp luật.
Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều lệ công ty. Đây là quy định
hoàn toàn mới mẻ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh
doanh thông qua các đại diện theo pháp luật, đồng thời, gỡ rối cho doanh nghiệp
trong các trường hợp: người đại diện duy nhất không hợp tác, không thực hiện các
yêu cầu của thành viên/cổ đông trong quá trình quản lý điều hành nội bộ cũng như
giao dịch với bên ngoài công ty. Bằng cách có nhiều hơn 1 người đại diện, sự lạm
quyền, bất hợp tác như đã nói trên sẽ bị vô hiệu hóa.
Ngoài ra, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo
pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện
theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản
19