Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Hợp đồng mà một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ
chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu nhân sinh. Hợp đồng cũng đóng vai
trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lý
cơ bản của sự trao đồi hàng hóa trong xã hội. Chừng nào pháp luật nói chung và
những quy định của hợp đồng dân sự nói riêng chưa trở thành công cụ cơ bản để
điều chỉnh quan hệ xã hội thì chừng đó Việt Nam vẫn đứng ngoài sự phát triển
chung của thế giới. Các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và
ngày càng phức tạp. Khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến
hợp đồng dân sự là do các bên không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng. Vì vậy, những quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh những quan hệ giao lưu dân sự của nền kinh tế thị
trường. Chính vì vậy đề hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Các điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.

NỘI DUNG
I. Lý luận chung về hiệu lực hợp đồng dân sự
1. Khái niệm hợp đồng dân sự
Điều 388 BLDS 2005 định nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là
kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí của các bên để làm phát sinh
thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa
vụ pháp luật có quy định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng sự thỏa thuận
1


của các bên. Xét về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một
loại giao dịch dân sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan
hệ pháp luật dân sự. Như vậy, hợp đồng là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập

b) Hiệu lực hợp đồng, nhìn từ góc độ thể hiện của ý chí, đó là biểu hiện của sự thừa
nhận của pháp luật đối với sự thống nhất về ý chí của các bên đương sự. Đồng thời
cũng là căn cứ và ủng hộ các bên đương sự nhằm thỏa mãn yêu cầu muốn “tìm
kiếm” pháp luật. Nó cũng là kết quả của việc đưa ý chí bản thân phù hợp với ý chí
của Nhà nước. Khi ý chí của các bên đương sự thống nhất hữu cơ với ý chí của Nhà
nước, thì sự thể hiện cao nhất đó chính là thể hiện yêu cầu của đương sự. Ví dụ,
cho phép đương sự căn cứ theo ý muốn của bản thân hạn chế phạm vi hiệu lực của
hợp đồng, cho phép đương sự lựa chọn cách giao hàng, cho phép đương sự sửa đồi
hợp đồng hoặc chuyển nhượng nghĩa vụ quyền lợi, cho phép đương sự xử phạt theo
quy định của pháp luật…tất cả những điều này thể hiện rõ hiệu lực hợp đồng chỉ là
sự cụ thể hóa của hiệu lực pháp luật, chứ không phải bản thân hiệu lực pháp luật.
Đây là sự khác biệt căn bản của hai khái niệm trên.
c) Hiệu lực hợp đồng, với tư cách là biểu hiện của pháp luật đánh giá sự nhất trí của
các bên đương sự, là một vấn đề hết sức phức tạp: khi pháp luật khẳng định sự
đánh giá vừa ý đối với các bên tham gia đương sự thì sẽ phát sinh hiệu quả pháp
luật như đương sự mong muốn, các bên đương sự sẽ được hưởng quyền lợi nghĩa
vụ mà điều khoản hợp đồng ràng buộc; còn khi pháp luật phủ định sự vừa ý đối với
các bên đương sự thì sẽ nảy sinh hậu quả không có hiệu lực của hợp đồng.
d) Hiệu lực hợp đồng, tức là khả năng cưỡng chế của pháp luật đối với các đương
sự có ràng buộc, thậm chí là bên thứ ba trong hợp đồng, có thể chia rằng sự ràng
buộc đối với các bên đương sự và sự ràng buộc đối với bên thứ ba.
Sự ràng buộc của hợp đồng đối với các bên đương sự bao gồm:
3


- Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của đương sự
- Bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm vi phạm theo pháp luật
- Các bên đương sự không được tự ý thay đổi hoặc hủy hợp đồng, không thể
tự ý chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của hợp đồng
- Đương sự có quyền lợi yêu cầu trao đổi, quyền xử lý nợ

để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các chủ thể khác nhau là không giống
nhau.
a. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân
Tư cách chủ thể của cá nhân được xác định thông qua năng lực pháp luật và
năng lực hành vi của cá nhân đó, trong khi năng lực pháp luật dân sự của mọi cá
nhân đều như nhau nên để xác định một cá nhân có đủ tư cách chủ thể tham gia hợp
đồng dân sự hay không, chỉ cần xem xét mức độ năng lực hành vi dân sự của cá
nhân đó. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành
vi của mình để xác lập và thực hiện các quyền, các nghĩa vụ dân sự.
Điều kiện trên đòi hỏi cá nhân tham gia hợp đồng dân sự phải “có năng lực
hành vi dân sự” có thể hiểu rằng mọi cá nhân, (trừ người không có năng lực hành vi
dân sự) đều có thể được coi là có năng lực hành vi dân sự để tham gia hợp đồng.
Tuy vậy, khi cá nhân tham gia một hợp đồng dân sự, cần phải theo từng trường hợp
cụ thể để xác định xem cá nhân đó có đủ năng lực hành vi để giao kết hợp đồng đó
hay không? Chỉ được coi là là đủ năng lực hành vi để giao kết hợp đồng nếu nhận
thức của cá nhân đó phù hợp với tính chất của hợp đồng.
5


Năng lực hành vi dân sự của người thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) là năng lực
hành vi đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật quy định người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc năng lực hành vi dân sự bị hạn chế. Đây là nhóm người được pháp luật cho
phép tự do giao kết hợp đồng theo quy định của pháp luật.
Người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân
sự bị hạn chế. Những cá nhân đó khi xác lập hợp đồng dân sự đòi hỏi phải có sự
đồng ý của người đại diện hoặc người giám hộ, nếu không thì hợp đồng vô hiệu.
Đối với cá nhân từ tròn 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mà tham gia các hợp đồng
dân sự không mang tính chất phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì chỉ được coi
là có năng lực hành vi dân sự để tham gia hợp đồng đó nếu cá nhân đó có đủ tài sản
riêng để thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó.

diện theo pháp luật của hộ gia đình là chủ hộ gia đình. Người này địa diện cho hộ
gia đình đề tham gia các hợp đồng dân sự. Người địa diện theo ủy quyền của hộ gia
đình là thành viên đã thành niên của hộ gia đình đó được chủ hộ ủy quyền.
2. Mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội
Mục đích của hợp đồng là mong muốn của các bên khi thiết lập hợp đồng
nhưng để đạt được mong muốn đó, các bên phải thỏa thuận về một nội dung tương
ứng. Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng. Mục đích và
nội dung của hợp đồng dân sự là hai yếu tố luôn có mối liên hệ chặt chẽ, hữu cơ với
nhau. Con người xác lập, thực hiện giao dịch dân sự luôn nhằm đạt được mục đích
pháp luật nhất định. Muốn đạt được mục đích đó, họ phải cam kết, thỏa thuận về
nội dung và ngược lại những cam kết, thỏa thuận về nội dụng của họ là để đạt được
mục đích giao dịch.Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không
7


cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Và đạo đức xã hội là những
chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng
đồng thừa nhận và tôn trọng.
Để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích của hợp đồng cũng phải không vi phạm
điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Hợp đồng có mục đích vi
phạm điều cấm của pháp luật thì vô hiệu. Ví dụ: hợp đồng chuyển quyền sở hữu
nhà ở có mục đích là bán nhà, nhưng thực tế hợp đồng lại ghi là trao đổi nhà ở
(nhằm mục đích trốn thuế thu nhập chẳng hạn) thì bị pháp luật cấm, nên không có
hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Hợp đồng cũng không được trái đạo đức xã hội. Mỗi xã hội có quan niệm của
mình về đạo đức, nên không có đạo đức chung mà chỉ có đạo đức xã hội. Mặc dù
khái niệm “đạo đức xã hội” đã được định nghĩa cụ thể, rõ ràng trong BLDS 2005,
nhưng phạm trù “đạo đức” thì khá trừu tượng và không phải là bất biến, đôi khi phụ

hậu quả pháp lý. BLDS 2005 quy định một số giao dịch xác lập không có sự tự
nguyện là những giao dịch dân sự vô hiệu.
- Hợp đồng giao kết một cách giả tạo
Hợp đồng giả tạo là hợp đồng được các bên giao kết một cách hình thức,
không nhằm làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên mà chỉ nhằm
che giấu một hợp đồng có thực khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ
ba. Có hai dạng hợp đồng giả tạo, đó là “hợp đồng giả cách” và “hợp đồng tưởng
tưởng”.
Hợp đồng giả cách là hợp đồng giả tạo do các bên lập ra để che đậy một hợp
đồng khác nhằm “lẩn tránh” pháp luật. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng giả cách
thường là do có sự thông đồng giữa các bên để lập cùng lúc hai hợp đồng (giao
dịch) khác nhau: một hợp đồng (giao dịch) “thật” và một hợp đồng (giao dịch)
9


“giả”. Hợp đồng giả cách chỉ là hình thức bên ngoài chứ không có giá trị đối với
các bên. Hợp đồng thật bị che dấu đi, nhưng đó mới là hợp đồng mà các bên muốn
xác lập, thực hiện. Hợp đồng giả cách thì đương nhiên vô hiệu. Hợp đồng thật có
thể được công nhận, nếu tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định.
Hợp đồng tưởng tưởng là hợp đồng không có thật, do các bên thông đồng lập
ra nhằm để hợp thức hóa các thủ tục pháp lý còn thiếu sót, hoặc để che đậy một sự
thật khác trái với pháp luật, hoặc trái đạo đức xã hội. Nói cách khác, hợp đồng
tưởng tưởng là hợp đồng mang tính hính thức, chứ các bên hoàn toàn không có ý
định tạo lập nên sự ràng buộc pháp lý với nhau dựa trên nội dung của hợp đồng đó.
- Hợp đồng giao kết do nhầm lẫn
Nhầm lẫn theo nghĩa chung là việc hiểu sai lệch về một vấn đề nào đó. Nhầm
lẫn trong hợp đồng dân sự là việc hiểu sai lệch về nội dung của hợp đồng. Nguyên
nhân của sự nhầm lẫn trong hợp đồng có thể là do sơ suất của chính người nhầm
lẫn, có thể là do hành vi của bên kia hợp đồng. Nếu nhầm lẫn là do sơ xuất của
mình thì bên nhầm lẫn phải tự gánh chịu thiệt hại nếu có, nếu nhầm lẫn do hành vi

người thứ ba thực hiện và hành vi đe dọa phải ở mức làm cho người khác bị đe dọa
không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc phải giao kết và thực hiện hợp đồng
đó.
* Tóm lại, các yếu tố chủ thể, nội dung và mục đích, sự tự nguyện của các bên
là những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình hình thành và tồn tại của hợp
đồng. Năng lực hành vi của chủ thể là yếu tố nhằm đảm bảo cho chủ thể có tư cách
độc lập để tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng; nội dung và mục đích là những
điều khoản, căn cứ để thực hiện hợp đồng; tự nguyện là yếu tố đảm bảo cho hợp
đồng được tạo ra đúng ý chí đích thực của các bên. Bởi vậy, đây là ba yếu tố pháp
lý quan trọng được pháp luật quy định là điều kiện bắt buộc của mọi hợp đồng.
11


4. Hình thức hợp đồng – điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp
pháp luật có quy định
Đối với các hợp đồng mà pháp luật đã quy định là việc giao kết phải tuân theo
một hình thức nhất định thì ngoài ba điều kiện trên, hợp đồng muốn có hiệu lực
pháp luật phải được giao kết theo hình thức là pháp luật đã quy định. Chẳng hạn,
hợp đồng mua bán nhà ở chỉ có hiệu lực khi được giao kết bằng hình thức văn bản
có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền (trừ trường hợp mua bán nhà ở thương mại được xây dựng theo dự án).
Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng, gồm
tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các
bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng. Thông
qua cách thức biểu hiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội
dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong tố tụng dân sự. Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại
giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra.
Giao dịch dân sự có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được

thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện
điện tử. Giống như văn bản truyền thống, thông điệp dữ liệu muốn được công nhận
phải đáp ứng được những yêu cầu kĩ thuật và pháp lý nhất định, sao cho bảo đảm
tính nguyên gốc và sự toàn vẹn về nội dung thông tin, có thể lưu trữ và truy cập để
tham chiếu khi cần thiết…
- Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể
13


Hành vi cụ thể là một hình thức thể hiện của hợp đồng, hiểu theo nghĩa hẹp.
Bởi lẽ, việc tuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều
là hành vi con người. Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được nói
đến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay chữ viết mà
chỉ được thể hiện bằng một hành động thuần túy. Thông thường, hình thức hợp
đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực hiện hành vi giao kết hợp
đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia
đưa ra và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành vi, hoặc không đưa ra một
yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận.

III. Nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự và phương hướng hoàn thiện
Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005, một giao dịch dân sự chỉ được coi có
hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: 1.a) Người tham gia giao dịch có
năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch
hoàn toàn tự nguyện. 2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực giao
dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật cũng như nghiên cứu tính hợp lý
của các quy định này trong thực tiễn ta thấy nó còn nhiều bất cập cần phải được bổ
sung, sửa đổi trên các khía cạnh sau:

không thể là chủ thể của hợp đồng và cũng không thể là người kí kết hợp đồng, bởi
chủ thể của hợp đồng, người trực tiếp xác lập và thực hiện hợp đồng trong trường
hợp này chính là người đại diện theo pháp luật của họ. Vì vậy, khái niệm “người
tham gia giao dịch” có thể được hiểu, ngoài 2 chủ thể theo cách hiểu thông thường
(chủ thể của hợp đồng và người kí kết hợp đồng) còn bao gồm cả đối tượng này.
15


Với cách suy luận như vậy, khi áp dụng điều kiện về “người tham gia giao dịch có
năng lực hành vi dân sự” trong trường hợp này thì người tham gia giao dịch với tư
cách chủ sở hữu của tài sản là đối tượng giao dịch nếu bị mất NLHVDS, không có
NLHVDS sẽ đương nhiên không thể đáp ứng điều kiện về “người tham gia giao
dịch có năng lực hành vi dân sự”. Suy cho cùng, những giao dịch loại này theo các
điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS 2005 sẽ không bao giờ được coi là hiệu lực,
điều đó đã gián tiếp tước quyền tham gia giao dịch của người bị mất NLHVDS và
người không có NLHVDS dù sự tham gia đó chỉ là tham gia một cách gián tiếp
thông qua người đại diện, giám hộ.
Để giải quyết vấn đề này thì BLDS 2005 nên bổ sung nội dung để giải thích rõ
khái niệm “người tham gia giao dịch” có tính đến đặc thù trong các GDDS của
người không có NLHVDS và người bị mất NLHVDS như đã phân tích ở trên. Có
như vậy, mới tạo ra cách hiểu thống nhất và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, hạn chế tối đa sự tùy tiện trong việc áp
dụng pháp luật.
2. Cần phải xác định rõ ranh giới của sự “tự nguyện” và “mất tự nguyện”
trong quy định về điều kiện “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”
Khái niệm “tự nguyện” được đưa ra ở đây rất mơ hồ, chung chung, gây khó
khăn và tùy tiện trong quá trình áp dụng luật. Chẳng hạn, việc tham gia giao dịch
của một bên không có lợi thế về sức mạnh thị trường do sức ép của một bên có vị
thế mạnh trên thị trường, hay giao dịch giữa một bên là cấp dưới trực tiếp buộc
phải tham gia giao dịch vì sợ “uy thế” của cấp trên có bị coi là không đáp ứng điều

này hầu như khó có thể xảy ra, bởi việc tuyên bố vô hiệu là do yêu cầu của một
trong các bên, do đó, khi họ đã nộp đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu có nghĩa là họ
17


mong muốn hợp đồng đó không được tiếp tục thực hiện nữa. Chẳng hạn, khi giao
dịch có đối tượng là bất động sản, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cần
phải bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, nếu các bên thiết lập hợp đồng mua bán bằng giấy viết tay chưa có công
chứng, chứng thực, rõ ràng đã vi phạm về mặt hình thức. Thông thường đối với bất
động sản khi thấy giá trị tài sản tăng cao, bên bán thường là bên mong muốn hợp
đồng đó bị vô hiệu để được lấy lại tài sản thực tế mình đã bán, do vậy, họ thường
lợi dụng việc vi phạm về mặt hình thức để yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu và họ
sẽ không hợp tác với bên mua để cùng ra công chứng chứng thực bản hợp đồng
theo yêu cầu của Tòa án. Hậu quả là việc yêu cầu hoàn thiện về mặt hình thức của
Tòa án sẽ không có giá trị và sẽ tạo cơ hội cho bên có hành vi làm lợi bất chính do
muốn lấy lại tài sản thực tế đã bán khi giá trị của tài sản tăng cao. Chính vì vậy,
theo chúng tôi, để ngăn chặn hiện tượng này, cần phải yêu cầu các bên hoàn thiện
về mặt hình thức, nếu họ vẫn cố tình không tuân thủ thì cần phải coi là giao dịch đó
có hiệu lực. Bên cạnh đó, để đảm bảo các bên có thái độ nghiêm túc tuân thủ hình
thức khi ký kết hợp đồng, pháp luật cũng nên có chế tài về mặt hành chính đối với
các bên (chẳng hạn phạt tiền) đối với trường hợp không tuân thủ về mặt hình thức.
4. Cần sửa đổi nội dung khái niệm “đe dọa” trong giao dịch dân sự bị coi là vô
hiệu do bị đe dọa
Theo quy định tại Điều 132 “Khi một bên tham gia GDDS do bị lừa dối hoặc bị
đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS đó là vô hiệu”. Theo đó, khái
niệm “đe dọa” được hiểu là “hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho
bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của
mình”.

vậy nên sửa đổi nội dung này theo hướng thay cụm từ “không trái đạo đức xã hội”
19


thành “không xâm phạm trật tự công cộng”. Cách quy định này phù hợp với thông
lệ quốc tế (pháp luật của Pháp, Nhật Bản đã quy định rất cụ thể về điều kiện này),
vừa dễ dàng chứng minh hơn so với việc quy về chuẩn mực đạo đức để xác định
một giao dịch có vô hiệu do vi phạm về mặt đạo đức hay không mà vẫn đạt được
mục đích của pháp luật trong việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển của xã hội, hợp đồng dân sự ngày càng phát triển đa
dạng và phức tạp. Cùng với đó là những khó khăn trong việc giải quyết các tranh
chấp liên quan đến hợp đồng dân sự là do các bên không tuân thủ các điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự là một trong
những nội dung cơ bản, quyết định sự ổn định , tính hợp lý, tính hiệu quả của các
giao dịch dân sự. Chính vì có vai trò quan trọng đó, trong thời gian tới chúng ta cần
hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chúng và điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng nói riêng.

20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2006.
2. Bộ luật dân sự 2005
3. Ths. Ls. Lê Kim Giang, Hợp đồng dân sự và các tranh chấp thường gặp, Nxb
tư pháp, Hà Nội, 2011
4. Bộ tư pháp, Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của BLDS, Nxb.

a. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân
b. Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
2. Mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp

5
5
6
7

luật, không trái với đạo đức xã hội
3. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
4. Hình thức hợp đồng – điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong

8
12

trường hợp pháp luật có quy định
III. Nhận xét đối với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của

14

hợp đồng dân sự và phương hướng hoàn thiện

KẾT LUẬN

20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status