Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự - Pdf 34

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự
và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháo
của các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, để có thể có cơ sở pháp lý bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thì các quyền và nghĩa vụ này
phải phù hợp với quy định của pháp luật. Mặc dù, khi tham gia hợp đồng
dân sự nói riêng và các giao dịch dân sự nói chung ý chí tự nguyện của các
chủ thể được coi là xuất phát điểm, là cơ sở đầu tiên để xác lập hợp đồng
nhưng ý chí đó phải phù hợp với ý chí của nhà nước, đó chính là các quy
định của Pháp luật có lien quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân
sự.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái niệm chung về hợp đồng dân sự.
1. Cơ sở hình thành hợp đồng dân sự.
Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động ngày càng thể hiện
rõ rệt. Do đó, để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân cungx như mỗi tổ chức xã
hội phải tham gia vào nhiều mối quan hệ khác nhau. Trong đó, việc các bên
thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi
ích vật chất nhằm đáp ứng các yêu cầu tất yếu của cuộc sống đóng một vai
trò quan trọng. Tuy nhiên việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không
phải tự nhiên hình thành, bởi tài sản không thể tự tìm đến nhau để thiết lập
các quan hệ. Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý
thức của các chủ thể.
Tuy nhiên, nếu chỉ có một bên chủ thể thể hiện ý chí của mình mà
không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để
qua đó chuyển giao tài sản hoặc làm công việc nhất định được; chỉ khi nào
có có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi vật
chất mới được ình thành. Quan hệ đó gọi là hợp đồng dân sự. Cơ sở đầu tiên


2

2


3

3. Đặc điểm của hợp đồng dân sự.
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên do vậy hợp đồng dân sự
phải có sự tham gia của các bên chủ thể.
Hợp đồng dân sự phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận và thống
nhất ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch có như vậy thì hợp đồng dân
sự mới đạt được sự thống nhất, phù hợp với ý định và mục đích của các chủ
thể khi tham gia hợp đồng dân sự.
Khi hợp đồng dân sự được xác lập thì sẽ có các hậu quả pháp lý như
việc xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ xã hội.
Sự thỏa thuận của các bên khi tham gia hợp đồng không bị ảnh hưởng
bởi các yếu tố: giả tạo, lừa dối, đe dọa…
II. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận là một nguyên tắc tối cao
của giao dịch dân sự nói chung và của hợp đồng dân sự nói riêng. Nhưng
bên cạnh quyền tự do thỏa thuận của các bên trong giao dịch thì pháp luật
cũng đặt ra một số yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân theo – đó là
các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Chỉ có các giao dịch hợp
pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giáo dịch.
Mọi cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và
được pháp luật bảo hộ. Điều 122 BLDS quy định: Các điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự.
“ 1.Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a. Người tham gia giao dich có năng lực hành vi dân sự.
b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội,

và các hợp đồng dân sự nói riêng. Điều 17 BLDS 2005 quy định; Năng lực
hành vi dân sự của cá nhân:
“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Do vậy chỉ có
những cá nhân tự mình xác lập và thực hiện các hợp đồng dân sự thì mới có
thể là chủ thể của hợp đồng dân sự.
-

Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ

trường hợp họ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, tuyên bố hạn chế
4


5

năng lực hành vi. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền
xác lập mọi hợp đồng dân sự.
-

Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự

chưa đầy đủ khi xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự phải có sự đồng ý của
người dại diện theo pháp luật trừ những hợp đồng nhằm thực hiện để phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
-

Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập thực hiện các

hợp đồng dân sự trong phạm vi tài sản riêng mà họ có, trừ trường hợp pháp

6

chỉ được tham gia các hợp đồng phù hợp với mục đích hoạt động, phạm vi
hoạt động, lĩnh vực kinh doanh của pháp nhân.
-

Hộ gia đình; Hộ gia đình là một chủ thể hạn chế của quan hệ pháp

luật dân sự nên các hợp đồng dân sự mà hộ gia đình tham gia là những hợp
đồng được phép theo quy định của pháp luật. Điều 106 BLDS 2005 quy
định: ‘ Hộ giá đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp
công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp
hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ
thể kh tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.” Khi tham gia hợp
đồng, chủ hộ ( là người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình) có thể trực
tiếp tham gia hoặc ủy quyền cho thành viên khác . Khoản 2 Điều 107 BLDS
2005 quy định: “ Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác
lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
cả hộ gia đình.”
-

Tổ hợp tác: các hợp đồng dân sự do tổ hợp tác tham gia cũng là

những hợp đồng bị hạn chế theo quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều
111 BLDS 2005 : “ Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp
tác có chứng thực của ủy ban nhân dân xã phường thị trấn, có từ 3 cá nhân
trở lên, cùng đóng góp tài sản công sức để thực hiện những công việc nhất
định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ
pháp luật dân sự…”. Khi tham gia hợp đồng tổ trưởng tổ hợp tác phải tuân
theo quy định tại Khoản 2 Điều 113 BLDS 2005: “ Giao dịch dân sự do

đó ( mục đích thực tế).
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể khi
tham gia giao kết hợp đồng dân sự đã thỏa thuận. Những điều kiện nay xác
định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng. Mục đích và nội
dung của hợp đồng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Con người xác lập, thực
hiện hợp đồng luôn luôn nhằm đạt được mục đích nhất định, muốn đạt được
mục đích đó họ phải cam kết thỏa thuận về nội dung và những cam kết, thỏa
thuận về nội dung là để đạt được mục đích của giao dịch. Ví như trong hợp
đồng mua bán tài sản mục đích mà các bên hướng tới là quyền sở hữu tài
sản; và để dạt được mục đích này các bên khi tham gia xác lập hợp đồng sẽ
phải thỏa thuận về nội dung của hợp đồng mua bán này như: đối tượng của
hợp đồng là gì? Giá cả ra ssao? Phương thức thực hiện hợp đồng như thế
nào? Thời hạn bao lâu? Địa điểm ở đâu?... sự thỏa thuận về các điều khoản

7


8

đó nhằm đạt được mục đích là quyền sở hữu tài sản-đây là mục đích của
hợp đồng mà các bên hướng tới.
Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều hợp đồng không phải bao giờ các
chủ thể cũng có cùng mục đích. Có trường hợp người mua muốn được sở
hữu tài sản nhưng người bán lại không có mục đích đó mà vì một mục đích
khác như: bán tài sản để trốn tránh việc kê biên tài sản, bán tài sản khi đang
có lệnh thu hồi để giải tỏa….Người bán không phải muốn chuyển quyền sở
hữu cho bên mua mà muốn kiếm lời trên những tài sản sẽ bị tịch thu, kê
biên.. Mục đích của những hợp đồng này trái pháp luật. do vậy hợp đồng
này coi như là vô hiệu.
Điều 420 BLDS quy định:

không cư trú không được thực hiện bằng ngoại tệ trừ các giao dịch với tổ
chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ,
ủy thác, đại lí và các trường hợp cần thiết khác được thủ tướng Chính phủ
cho phép.” Như vậy nếu các giao cá nhân thiết lập giao dịch mà thanh toán
bằng ngoại tệ hoặc lấy ngoại tệ là đối tượng của giao dịch thì bị coi là vi
phạm điều cấm của pháp luật.
3.Người tham gia hợp đồng dân sự phải hoàn toàn tự nguyện.
Bản chất của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng
là sự thống nhất giữa tự do ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên sự tự nguyện bao
gồm hai yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí.
Tự do ý chí: Cũng giống như giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự là
hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định khi tham
gia giao kết hợp đồng dân sự, do vậy hợp đồng dân sự là hành vi mang tính
ý chí của chủ thể khi tham gia hợp đồng. Ý chí của chủ thể tham gia hợp
đồng là nguyện vọng, là mong muốn chủ quan bên trong của con người mà
nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu của bản thân khi tham gia hợp
đồng dân sự.
Bày tỏ ý chí: Ý chí của chủ thể khi tham gia hợp đồng dân sự phải
được thể hiện ra bên ngoài dưois một hình thức nhất định để các chủ thể
khác biết được mục đích, động cơ, và nội dung cụ thể của hợp đồng dân sự.
Sự bày tỏ ý chí có thể bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

9


10

Bất kì một hợp đồng dân sự nào cũng cần phải có hai yếu tố tụ do ý chí
và bày tỏ ý chí. Không có sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí thì không có sự tự
nguyện. Và khi không có sự tự nguyện của các bên thì hợp đồng có thể



11

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu
một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che dấu
vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của
bộ luật này.
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ
với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”
Hợp đồng dân sự giả tạo là hượp đồng mà trong đó việc thể hiện ý chí
ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham
gia giao dịch. Trong hợp đồng giả tạo các bên nhất trí, thông đồng, tự
nguyện tham gia giao kết hợp đồng nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng
với ý chí đích thực của họ. Cũng giống như giao dịch dân sự giả tạo hợp
đồng dân sự giả tạo có 2 loại:
Thứ nhất, hợp đồng dân sự giả tạo hằm che dấu một hợp đồng khác.
Khi đó hợp đồng giả tạo bị vô hiệu còn hợp đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực
nếu như hợp đồng che dấu đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự. Ví dụ: A muốn giúp đỡ em gái mình là C nên đã cho C chiếc
xe máy, sợ vợ biết được A và C đã nhất trí làm một hợp đồng theo đó A sẽ
bán cho C chiếc xe máy.
Thứ hai, hợp đồng dân sự vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ với người thứ
ba. Ví dụ: C phạm tội tham nhũng, bị phát hiện C đã thỏa thuận với B kí
hợp đồng giả theo đó C sẽ bán căn nhà cho B để C tránh bị kê biên tài sản.
-

Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn.

Điều 131 BLDS quy định:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa
thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặccủa người
thứ 3 nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏa, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoắc của cha
mẹ, vợ, chồng, con của mình.”
Trong trường hợp bị lừa dối đe dọa người bị lừa dối đe dọa đã
không có sự tự do ý chí khi giao kết hợp đồng.
Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai
lệch về đố tượng, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên
12


13

đã xác lập giao dịch đó. Ví dụ: hàng cũ hỏng, hàng giả lại nói là hành tốt,
hàng thật đem bán kiếm lời.
Đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia
sợ hãi mà phải xác lập thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm của mình và người thân. Ví dụ: Biết
con của A ( một nhà giáo) ăn trộm gà của nhà hàng xóm ông B đã ép ông A
bán cho mình chậu cây cảnh ( chậu cây này ông B rất thích và gạ gẫm nhiều
lần nhưng ông A không bán) nếu không ông B sẽ nói cho mọi người biết
việc ăn trộm của con ông.
Hợp đồng dân sự có sự lừa dối và đe dọa vi phạm sự tự do ý chí và bày
tỏ ý chí của các chủ thể khi tham gia giao dịch. Hợp đồng này vẫn có hiệu
lực nếu người bị lừa dối, đe dọa vẫn chấp nhận xác lập và thực hiện hợp

dung của hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận. Nó là chứng cứ xác nhận các
quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự
khi có vi phạm xảy ra. Hợp đồng chỉ là chứng cứ xác nhận khi nó được
chứng minh là có hiệu lực pháp luật do đó phương tiện để ghi lại những nội
dung của hợp đồng ( hình thức của hợp đồng) phải phù hợp với quy định
của pháp luật.
Về nguyên tắc các bên có thể tự do thỏa thuận hình thức của hợp đồng
dân sự nhưng trong một số trường hợp nhất định vì sự an toàn pháp lý cho
các chủ thể tham gia giao dịch hoặc cho những người có quyền và lợi ích
liên quan, pháp luật quy định một số giao dịch phải được thể hiện dưới một
hình thức nhất định tùy thuộc vào đối tượng và tầm quan trọng của từng hợp
đồng cụ thể.Nếu những hợp đồng phải tuân thủ pháp luật về hình thức mà
không tuân thủ thì sẽ bị vô hiệu theo quy định tại Điều 134 BLDS: Giao
dịch dân sự vô hiệu do không tuân theo quy định về hình thức.
“ Trong trường hợp pháp luật quy định về hình thức giao dịch dân sự
là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà các bên không tuân theo
thì theo yêu cầu của một trong các bên , tòa án , cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của
giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao
dịch vô hiệu.”
Điều 401 BLDS quy định:

14


15

“ 1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói bằng văn bản
hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với hợp đồng
đó thì phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

có hiệu lực pháp luật tại thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản.

15


16

+ Văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực
của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Hình thức này được áp dụng đối
với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp mà đối
tượng của nó là những tài sản nhà nước cần kiểm tra,giám sát khi chúng
được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác. Khi thực hiện giao kết
hợp đồng thì các bên phải lập thành văn bản có chứng nhận của công chứng
nhà nước, chứng thực của Ủy ban nhân dân có thẩm quyền. Ví dụ như hợp
đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thue nhà
từ 6 tháng trở lên….
Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có có giá trị chứng cứ cao
nhất. Do vậy ngay cả đối với các hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải
lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm các bên
vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.
-

Hình thức bằng hành vi cụ thể: được áp dụng với những hợp

đồng thực hiện ngay và kết thức ngay sau đó. Ví dụ: mua nước ở máy bán
nước tự động.
III. Thực tế hiện nay trong việc áp dụng các điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự vào việc xác lập hợp đồng.
Có thể nhận thấy quyền tự do thỏa thuận là điều kiện cần và các điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự là điều kiện đủ để các hợp đồng phát


17


18

MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Khái niệm chung về hợp đồng dân sự.
1. Cơ sở hình thành hợp đồng dân sự.
2. Khái niệm hợp đồng dân sự.
3. Đặc điểm của hợp đồng dân sự.
II. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
1. Người tham gia hợp đồng dân sự phải có năng lực hành vi dân sự.
2. Mục đích và nội dung của hợp đồng dân sự không được trái pháp
luật và đạo đức xã hội.
3.Người tham gia hợp đồng dân sự phải hoàn toàn tự nguyện.
4. Hình thúc của hợp đồng dân sự phải phù hợp với quy định của pháp
luật.
III.KẾT THÚC VẤN ĐỀ.

18


19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình Luật dân sự Việt Nam. Tập 1,2. Trường Đại học Luật Hà
Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status