Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế liên quan - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỨA THỊ HỒNG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN
HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CÁC ĐIỀU ƯỚC
QUỐC TẾ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. GVC NGUYỄN LAN NGUYÊN
Hà Nội – 2012 MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI

7
1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa 7
1.2 Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới 12
1.3
Đặc điểm của việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu
hàng hóa tại biên giới
18
1.4
Vai trò của việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng
hóa tại biên giới
22
1.5

2.1.5.2

Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản 49
2.1.5.3

Hiệp định Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ SHTT và hợp tác
50 trong lĩnh vực SHTT
2.2 Pháp luật một số quốc gia điển hình trên thế giới 52
2.2.1 Pháp luật của Mỹ 53
2.2.2 Pháp luật của Nhật 56
2.2.3 Pháp luật của Hàn Quốc 61
2.2.4 Pháp luật của Trung Quốc 65
2.2.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 70
2.3.5.1

Về quy định pháp luật 70
2.3.5.2

Về thực tiễn áp dụng 73
2.3. Pháp luật Việt Nam 74
2.3.1 Phạm vi kiểm soát biên giới 74
2.3.2 Thẩm quyền của cơ quan Hải quan 75
2.3.3
Xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu
hàng hóa tại biên giới
78
2.3.4

tại biên giới và thực tiễn đấu tranh của cơ quan Hải quan
96
3.2. Những tồn tại và nguyên nhân 100 3.2.1. Các quy định pháp luật còn nhiều bất cập 100
3.2.2.
Kết quả bắt giữ và xử lý vi phạm chưa tương xứng với nguồn
lực và năng lực thực tế của cơ quan Hải quan
105
3.2.3.
Cơ chế phối hợp giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan liên
quan chưa thường xuyên và sâu rộng, hiệu quả còn thấp
107
3.2.4.
Công tác phối hợp giữa cơ quan Hải quan với các chủ thể quyền
SHTT còn hạn chế, chưa thật sự thiết thực
108
3.2.5.
Nhận thức của xã hội về công tác bảo vệ quyền SHTT đối với
nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới còn hạn chế
110
3.3. Dự báo tình hình xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu
hàng hoá tại biên giới Việt Nam
111
3.4.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền
SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới Việt Nam
116
3.4.1. Hoàn thiện khung pháp lý 116

148
Phụ lục 3: Số liệu bắt giữ vi phạm quyền SHTT về nhãn hiệu của cơ
quan Hải quan (giai đoạn 2007 – 2011)
149 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
RMB: Nhân dân tệ
SHCN: Sở hữu công nghiệp
SHTT: Sở hữu trí tuệ
TRIPs: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền Sở
hữu trí tuệ.
USD: Đô la Mỹ
WCO: Tổ chức Hải quan thế giới
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
XK, NK: Xuất khẩu, Nhập khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, SHTT là một công cụ đắc lực để phát
triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thực tế cho thấy, nhiều công ty, doanh
nghiệp đã rất thành công nhờ khai thác có hiệu quả quyền SHTT. Xu thế này đã

định chính sách cũng như các nhà làm luật và các cơ quan thực thi có cơ sở triển
khai thực hiện có hiệu quả trên thực tế.
Việc xâm phạm các đối tượng quyền SHTT diễn ra phổ biến và nhiều nhất
là nhãn hiệu hàng hoá ở tất các các khâu trong dây chuyền cung ứng thương mại.
Do vậy, việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá đang là một vấn đề
cấp bách được cộng đồng các doanh nghiệp cũng như các cơ quan thực thi pháp
luật đặc biệt quan tâm. Đặc biệt là khi lưu lượng hàng hoá XNK ngày càng gia
tăng, đòi hỏi cơ quan Hải quan phải nỗ lực thực hiện đồng bộ các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm.
Cơ quan Hải quan là cơ quan chủ quản được giao nhiệm vụ thực thi quyền
SHTT tại biên giới bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên,
kết quả đạt được còn hạn chế, thực tiễn áp dụng còn nhiều vướng mắc chưa đáp
ứng được yêu cầu đặt ra. Do vậy, cần phải nghiên cứu, đánh giá một cách tổng
thể thực trạng bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới để có
giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác công tác này trên thực tế.
Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn nêu
trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại
biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế liên
quan” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhưng rất ít bài viết, đề tài nghiên cứu
về các vấn đề liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHCN trong lĩnh vực Hải
quan như đề tài “Hoàn thiện các giải pháp thực thi SHCN đối với hàng hoá XNK
ở Việt Nam của Vũ Ngọc Anh (2001), đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải
quan năm 2001. Tuy nhiên, đề tài trên nghiên cứu theo quy định của Luật Hải
quan năm 2001 và các văn bản dưới luật về SHTT trước đây đã hết hiệu lực thi

biên giới.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Luận văn là vấn đề bảo vệ quyền SHTT
đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới quốc gia theo quy định của pháp luật
Việt Nam và pháp luật quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên
thế giới. Hoạt động thực tiễn của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền SHTT đối
với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới để có đánh giá một cách tổng thể, toàn diện
về vấn đề này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các điều ước quốc tế điều chỉnh trực tiếp
vấn đề thực thi quyền SHTT tại biên giới, các tài liệu nghiên cứu, tài liệu nghiệp
vụ của WTO, WCO và các quy định pháp luật của Việt Nam, pháp luật và kinh
nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới liên quan đến việc bảo vệ
quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới của cơ quan Hải quan.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sưu tầm và sử dụng các thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau tại kho dữ liệu của Tổng cục Hải quan, Cục Điều tra

5
chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan, Cục SHTT, các bài báo, tạp chí liên quan
và các tài liệu thu thập qua mạng Internet.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
phát triển kinh tế, cải cách hành chính và hiện đại hoá ngành Hải quan. Tác giả
đã dựa trên các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu là: phương
pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử, kết hợp với các phương pháp đối
chiếu so sánh, thống kê, quy nạp để rút ra bản chất của các sự vật, hiện tượng

nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới Việt Nam.
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI
NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ TẠI BIÊN GIỚI
1.1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hoá đã có từ thời cổ đại, thậm chí từ lúc con người còn tự
cung cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người
thợ thủ công. Thời đó, có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hoá ra bên
ngoài vùng sinh sống của họ và thậm chí có khi tới những vùng rất xa xôi. Cách
đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của
mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran. Các nhà sản xuất
Trung Quốc đã bán hàng hoá mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ
2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác
nhau đã được sử dụng, kể cả nhãn hiệu FORTIS mà sau này đã trở nên nổi tiếng

khái niệm về nhãn hiệu. Riêng Hiệp định TRIPs đã có quy định về khái niệm
nhãn hiệu như sau:
“Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt
hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các
doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các
từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu
sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký
làm nhãn hiệu” [35, 15].
Châu Âu bao gồm nhiều các quốc gia khác nhau nên có sự khác nhau trong
luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên. Do sự khác nhau này và sự ảnh
hưởng của nó đến thị trường chung Châu Âu nên cần thiết phải có sự điều chỉnh
hài hoà ở cấp độ cộng đồng. Định nghĩa về nhãn hiệu được quy định ở Điều 2
Chỉ thị 89/104 và Điều 4 Quy định 40/94 của Cộng đồng chung Châu Âu (EC)
như sau:

9
“Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày
một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao
gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá
hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng
phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch
vụ của các chủ thể kinh doanh khác”.
Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng đạo luật Lanham. Khác với
Việt Nam và Châu Âu, Lanham Act định nghĩa riêng biệt hai loại nhãn hiệu:
nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ. Nhãn hiệu hàng hoá được giải thích
như sau:
“Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay
hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:
(1) được sử dụng bởi một người, hoặc
(2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại

Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều
kiện. Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được”. Quy định này hẹp hơn quy định
của TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào”. Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm
thanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của pháp
luật SHTT Việt Nam. Thứ hai, “khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc của
nhãn hiệu. Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu. Đặc điểm này là đặc
điểm chung của nhãn hiệu và do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng như
luật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới.
Nói tóm lại, “khả năng phân biệt” luôn luôn là đặc điểm cơ bản của nhãn
hiệu. Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ đều không có điều khoản
định nghĩa nhãn hiệu. Khái niệm nhãn hiệu được hiểu qua các điều khoản khác,
chẳng hạn như quy định ở phần giải thích thuật ngữ (Việt Nam, Hoa Kỳ), hay

11
trong điều khoản quy định về “Các dấu hiệu là nhãn hiệu” (Châu Âu). Các điều
khoản này thường liệt kê các dấu hiệu thông thường có khả năng đăng ký nhãn
hiệu. Mặc dù các quy định còn có những điểm khác nhau, song chúng đều giống
nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt.
Nhãn hiệu có nhiều chức năng, trong đó chức năng cơ bản nhất là tính phân
biệt. Pháp luật của cả Việt Nam, Châu Âu và Hoa Kỳ phù hợp với pháp luật
quốc tế đều dựa trên chức năng tính phân biệt để đưa ra khái niệm nhãn hiệu.
Luật SHTT Việt Nam không có điều khoản riêng về khái niệm nhãn hiệu, nhưng
qua các điều khoản cụ thể có thể hiểu nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy
được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với
hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ quy định mở
hơn đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu. Đó là bất kỳ dấu hiệu nào có khả
năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được. Do đó, các
dấu hiệu không thông dụng (unusual) như mùi vị, âm thanh… cũng có khả năng
được đăng ký là nhãn hiệu.
Do đó, thay vì việc giải thích từ ngữ, Luật SHTT Việt Nam nên xây dựng

nào là quyền SHTT.
Theo Luật SHTT của Việt Nam, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền
tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. [13]
Trong đó, quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
và quyền chống cạnh tranh không làm mạnh.
Với các định nghĩa trên, nhãn hiệu hàng hoá là một trong những đối tượng
của quyền SHTT nói chung và một trong những đối tượng của quyền SHCN nói

13
riêng. Như vậy, quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với nhãn hiệu do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Đối với tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu toàn diện đối với tài sản trí tuệ của
mình "nhãn hiệu hàng hoá", vừa là người sáng tạo ra đồng thời là người sở hữu
nó thì tổ chức, cá nhân đó có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
đối với tài sản của mình. Theo quy định của Luật SHTT Việt Nam, chủ sở hữu
nhãn hiệu hàng hoá có các quyền tài sản sau đây:
- Sử dụng, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu của mình như: Gắn
nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh,
phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông,
chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo
hộ; NK hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.
- Ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình, trừ các trường hợp
sau đây:
+ Việc lưu thông, NK, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị
trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải
do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu
đưa ra thị trường nước ngoài.

để bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu của mình, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ
nguyên vẹn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ.
Để hiểu rõ hơn thế nào là bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa
tại biên giới, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “biên giới” ở đây được hiểu như
thế nào?
Biên giới ở đây không phải là biên giới quốc gia theo quy định tại Điều 1
Luật Biên giới quốc gia năm 2003 “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới

15
hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” hay lãnh thổ Hải quan theo quy định tại khoản 14 Điều 4
Luật Hải quan 2005 “Lãnh thổ Hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm
lục địa của Việt Nam, nơi Luật Hải quan được áp dụng”. Mà với đặc thù hoạt
động là thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hoá XK, NK, phương tiện và
hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua lại biên giới quốc gia. Các hoạt
động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan được thực hiện giới hạn trong một không
gian địa lý nhất định trên lãnh thổ quốc gia gọi là phạm vi địa bàn hoạt động Hải
quan. Do vậy, công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên
giới cũng bị chi phối bởi các giới hạn này vì nó xác định gianh giới các hoạt
động kiểm tra, giám sát và kiểm soát đối với hàng hoá XK, NK cũng như trách
nhiệm của cơ quan Hải quan về vấn đề này.
Địa bàn hoạt động Hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga
đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng
không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục Hải quan ngoài cửa khẩu, khu
chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi Hải quan, bưu điện quốc
tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, NK trong lãnh thổ và trên vùng
biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành

vực nói trên vào cảng biển, cảng sông quốc tế; Những khu vực khác do Thủ
tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Tại bưu điện quốc tế bao gồm: Khu vực thuộc bưu điện quốc tế; khu vực
thuộc bưu điện và bưu cục kiểm quan nơi nhận chuyển thư tín, bưu kiện, bưu
phẩm, các dịch vụ chuyển phát nhanh với nước ngoài theo Công ước của Liên
minh bưu chính quốc tế và các quy định về bưu chính của nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.

17
- Tại các khu vực ngoài cửa khẩu có thực hiện quản lý Hải quan là những
khu vực có ranh giới xác định mà ở đó được làm thủ tục Hải quan, giám sát Hải
quan, kiểm tra thực tế hàng hoá, cụ thể gồm: Các khu công nghiệp, khu chế xuất,
doanh nghiệp chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu, khu thương mại tự do, khu vực ưu
đãi Hải quan; khu vực cảng nội địa (ICD), cảng chuyên dùng, kho ngoại quan,
kho bảo thuế, kho bãi chuyên dùng chứa hàng hoá XK, NK, quá cảnh của các tổ
chức vận tải kinh doanh và giao nhận hàng hoá XK, NK, quá cảnh; cửa hàng
kinh doanh hàng miễn thuế trong nội địa để bán hàng miễn thuế cho hành khách
xuất cảnh, nhập cảnh; khu vực địa điểm kiểm tra hàng hoá XK, NK, hoặc địa
điểm trưng bày, giới thiệu hàng hoá tạm NK.
- Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động Hải quan khác là các khu vực trên biển,
trên sông, trên bộ khi có phương tiện vận tải neo, đậu, di chuyển để vận chuyển
hàng hoá được XK, NK, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
hàng hoá, phương tiện vận tải chuyển tải, chuyển cửa khẩu, quá cảnh đang trong
quá trình làm thủ tục Hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ
quan Hải quan.
Tại các khu vực thuộc phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan, cơ quan Hải
quan chủ trì, chủ động thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để kiểm tra, giám sát,
kiểm soát; sử dụng các phương tiện kỹ thuật được trang bị để phát hiện, ngăn
ngừa, truy đuổi, khám xét, điều tra, bắt giữ, xử lý các hành vi buôn lậu, vận
chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật

sự tham gia trực tiếp của đông đảo các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp, các
Hiệp hội ngành nghề và cộng đồng xã hội. Đối tượng của hoạt động bảo vệ
quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa là toàn bộ hàng hóa mang nhãn hiệu
đang được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam không phân biệt nguồn gốc là hàng
hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa được NK từ nước ngoài.

19
Khác với hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa nói
chung, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên giới có những
đặc điểm riêng mang tính đặc thù. Cụ thể là:
Một là, về mặt chủ thể, bảo vệ quyền SHTT tại biên giới do cơ quan Hải
quan và chủ thể quyền SHTT có hàng hóa mang nhãn hiệu đã đăng ký kiểm tra,
giám sát tại cơ quan Hải quan được XK, NK qua biên giới quốc gia thực hiện.
Cơ quan Hải quan các cấp là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hóa XNK liên quan đến SHTT theo quy
định của Luật SHTT và Luật Hải quan, bao gồm: biện pháp kiểm tra, giám sát
để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT và biện pháp tạm
dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền
SHTT. Tại biên giới, cơ quan Hải quan có quyền kiểm tra, giám sát và kiểm
soát một cách toàn diện các hoạt động XNK hàng hóa liên quan đến SHTT.
Các chủ thể quyền SHTT muốn bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu gắn
trên hàng hóa XNK thuộc sở hữu của mình phải đăng ký kiểm soát biên giới tại
cơ quan Hải quan, có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan tạm dừng làm thủ tục
Hải quan đối với hàng hóa có nghi nghờ xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn
hiệu.
Hai là, hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa tại biên
giới do cơ quan Hải quan thực hiện bằng biện pháp duy nhất là biện pháp hành
chính. Theo quy định của pháp luật, cơ quan Hải quan có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước
về Hải quan như các biện pháp: kiểm tra, giám sát và kiểm soát Hải quan, tạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status