2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƯƠNG GIANG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU BẰNG BIỆN PHÁP DÂN
SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Anh
HÀ NỘI - 2007 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
2
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ
8
1.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và bảo vệ quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
8
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
8
biện pháp dân sự 35
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN
HIỆU BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ
42
2.1. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
42
2.1.1. Hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
42
2.1.2. Hành vi không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu
46
2.2. Quyền tự bảo vệ
48 5
2.3. Thẩm quyền và trình tự xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp dân sự
50
2.4. Các biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành xâm phạm quyền sở
70
3.1. Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
70
3.1.1. Thực trạng về việc xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thông qua việc
đăng ký bảo hộ
70
3.1.2. Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
75
3.1.3. Thực tiễn xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng
biện pháp dân sự
79
3.2. Những tồn tại chủ yếu trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự
86
3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật bảo vệ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự
92
KẾT LUẬN
101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
7
chức khoa học, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động theo luật định. Phát triển
thị trường khoa học và công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh bảo hộ sở hữu
trí tuệ, quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa…" [1]. Điều này cho
thấy sự quan tâm chú trọng của Đảng và Nhà nước, là động lực thúc đẩy
mạnh mẽ cho việc xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói
chung và nhãn hiệu nói riêng. Xét đến cùng, quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối
với một loại tài sản (dù là tài sản đặc biệt - không hữu hình) và vì thế nó được
đối xử như các quyền của các loại tài sản khác. Do vậy, để bảo vệ các đối
tượng quyền của quyền sở hữu trí tuệ có nhiều biện pháp khác nhau, nhưng
việc bảo vệ được thực hiện bằng biện pháp dân sự có vai trò quan trọng.
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự trên, tác giả chọn đề tài "Bảo
vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự"
làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Trước khi Bộ Luật Dân sự ra đời năm 1995, Nhãn hiệu nói riêng và sở
hữu trí tuệ nói chung chưa thật sự được biết đến ở Việt Nam. Vì vậy, hầu như
rất ít các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí về vấn đề này được công
bố. Vài năm trở lại đây, mặc dù sở hữu trí tuệ trong đó có nhãn hiệu vẫn là
vấn đề mới song cũng đã được đề cập tới ngày một nhiều hơn trong các công
trình nghiên cứu, các sách, báo, tạp chí Có thể kể ra một số ví dụ: "Nhãn
hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự" của tác giả Đinh Văn Thanh và Đinh
Thị Hằng; "Nâng cao vai trò của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ" của tác giả Nguyễn Thị Quế Anh; "Các phương pháp
xác định tài sản vô hình" của tác giả Đoàn Văn Trường; "Các yếu tố của
quyền sở hữu trí tuệ" của tác giả Phùng Trung Tập; "Đổi mới và hoàn thiện
cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ", Luận án tiến sĩ
trong tương quan của quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt
Nam về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đồng thời có sự
liên hệ, phân tích, đối chiếu, so sánh với quy định tương tự trong pháp luật
một số quốc gia cũng như trong các điều ước quốc tế đa phương và song 9
phương. Từ những phân tích về mặt pháp luật, luận văn cũng nêu ra thực
trạng việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp
dân sự ở nước ta với những mặt tích cực, những hạn chế nhất định. Thông qua
việc phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, luận văn đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo về quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu nền
tảng là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Từ đó, luận văn được xây dựng trên cơ sở kết hợp các phương
pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa học pháp lý cũng như phương pháp thu
thập thông tin, phân tích tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh… Với
việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu này, luận văn đã có được những
thông tin và kết luận chính xác về các vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp những thông tin
mang tính lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu thông qua các biện pháp dân sự ở Việt Nam.
Về mặt lý luận: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả
muốn đề xuất những kiến nghị góp phần trong việc xây dựng các quy định
pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đặc biệt có
ý nghĩa đối với công tác lập pháp khi đề ra những hạn chế hiện nay của các
quy định về xác định thiệt hại cũng như cách tính mức bồi thường thiệt hại, đề
biện pháp dân sự và ưu điểm khi áp dụng việc bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu của mình bằng biện pháp dân sự.
Thứ hai, ý nghĩa đối với công tác thực thi pháp luật. Luận văn đã chỉ
ra một số hạn chế của cơ quan thực thi bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự trong thực tiễn thi hành, từ đó đề ra kiến
nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác này. 11
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự
Chương 2: Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự
Chương 3: Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
pháp luật
12
Chương 1
quá trình lưu thông hàng hóa. Bằng nhãn hiệu, nhà sản xuất có thể đánh dấu
hàng hóa mà mình sản xuất khi đưa ra thị trường, có thể quảng cáo thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông tin quảng cáo hay trong các giấy
tờ giao dịch, v.v… nhằm đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hóa, tăng doanh số
bán hàng. Cũng thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn
hàng hóa phù hợp với nhu cầu, sở thích cũng như chất lượng mà mình mong
muốn.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật mỗi nước
cũng như trong các điều ước quốc tế có khác nhau vì bị chi phối bởi quan
điểm về các dấu hiệu cấu thành nên nhãn hiệu. Nếu mở rộng các dấu hiệu cấu
thành nên nhãn hiệu thì phạm vi quyền đối với nhãn hiệu được mở rộng và
ngược lại. Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm nhãn hiệu theo những
góc độ khác nhau. Có thể kể đến các điều ước quốc tế đa phương và song
phương điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu khá nhiều như: Công
ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 với các quy định về
sở hữu công nghiệp nói chung trong đó có nhãn hiệu. Nội dung công ước
Paris đề cập đến bốn vấn đề chủ yếu là nguyên tắc đối xử quốc gia; quyền ưu
tiên; một số nguyên tắc chung đối với bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà
các nước thành viên phải tuân thủ; các quy định hành chính phục vụ cho việc
thi hành công ước. Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu năm 1891
và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid năm 1989 quy định chủ yếu
về hoạt động của hệ thống đăng ký quốc tế bao gồm việc nộp đơn đăng ký
quốc tế; hiệu lực của đăng ký quốc tế; việc từ chối bảo hộ; quy định về việc
thay đổi, hủy bỏ, đình chỉ hiệu lực đăng ký quốc tế; các điều kiện tham gia
Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid.
Các điều ước quốc tế nêu trên chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về
nhãn hiệu hay một khái niệm rõ ràng về quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu mà thông qua các quy định về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, 15
Khái niệm nhãn hiệu của TRIPS được mở rộng phạm vi cũng như chi
tiết hơn rất nhiều so với cách hiểu trước kia thông qua việc liệt kê các dấu
hiệu cấu thành nên nhãn hiệu, có thể nhận thấy khái niệm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu cũng được mở rộng hơn so với Hiệp ước Luật Nhãn
hiệu. Dưới một góc độ nhất định, thông qua khái niệm nhãn hiệu, thông qua
liệt kê các đối tượng có khả năng bảo hộ thì cách hiểu về quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu trong TRIPS đã thể hiện sự tiến bộ và là cơ sở để
các quốc gia xây dựng cho mình một khái niệm riêng phù hợp.
Ở mỗi quốc gia có những quy định, quan điểm tiếp cận riêng liên quan
đến các yếu tố có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể
kinh doanh, từ đó có những điểm khác biệt nhất định trong quan niệm về
quyền đối với nhãn hiệu. Ví dụ: ở Australia và Hoa Kỳ, âm thanh và mùi vị
có thể được đăng ký nhãn hiệu hay nhãn hiệu được đăng ký ngay khi chúng
không có sẵn tính phân biệt, với điều kiện nhãn hiệu có được tính phân biệt
thông qua sử dụng, quan niệm về quyền đối với nhãn hiệu ở những nước này
được mở rộng rất nhiều. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước chỉ có tên gọi, hình
ảnh, màu sắc mới được thừa nhận là một trong số những yếu tố cấu thành nên
nhãn hiệu và như vậy, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng thu
hẹp trong quyền đối với các dấu hiệu cấu thành đó.
Ở Việt Nam, trước đây trong Bộ luật Dân sự 1995, tại Điều 785 quy
định "Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa,
dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu có
thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một
hoặc nhiều màu sắc". Xét về nội dung, Điều 785 Bộ luật Dân sự 1995 quy
định có tính chất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh. Quy định này đã coi các dấu hiệu có thể phân biệt hàng hóa, dịch
vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau đều có thể là nhãn
được bảo hộ, đó là "dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình
vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện
bằng một hoặc nhiều màu sắc". Các dấu hiệu này tiếp tục được làm rõ thông
qua Điều 73, Điều 74 quy định về dấu hiệu không được bảo hộ với danh 17
nghĩa nhãn hiệu, về khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Khái niệm về nhãn
hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã có những thay đổi nhất định so với
pháp luật trước kia theo hướng tích cực và gần hơn với quy định trong Hiệp
định TRIPS, cho thấy hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam nói chung
cũng như quy định về nhãn hiệu nói riêng đang từng bước chuyển biến theo
sự hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời tạo ra cơ sở và là điều kiện quan trọng
giúp cho việc thực thi luật sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật về nhãn hiệu có
hiệu quả.
Từ những phân tích ở trên, khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu có thể được hiểu một cách chung nhất là quyền của các chủ thể
do pháp luật quy định hoặc thừa nhận đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt
hàng hóa, dịch vụ với các chủ thể khác, bao gồm dấu hiệu nhìn thấy được
dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết
hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Giữa hai khái niệm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có mối quan hệ
mật thiết với nhau thể hiện ở chỗ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc đăng ký xác lập quyền, trình tự
khai thác, sử dụng nhãn hiệu và các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu khỏi các hành
vi xâm phạm. Theo nghĩa này, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu bao hàm cả bảo vệ quyền. Pháp luật Việt Nam quy định việc bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được bảo đảm thông qua việc
đối với nhãn hiệu có thể được hiểu như sau: Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu là sự tác động bằng pháp luật thông qua việc sử dụng các
biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp kiểm
soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới liên quan đến nhãn hiệu
nhằm ngăn chặn, chống lại những hành vi xâm phạm để bảo vệ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu hợp pháp đã được nhà nước công nhận bảo
hộ. 19
1.2. CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI
VỚI NHÃN HIỆU
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng như quyền sở hữu
tài sản nói chung là quyền dân sự tuyệt đối của chủ sở hữu mà những người
khác có nghĩa vụ tôn trọng, không được thực hiện hành vi xâm phạm. Nhà
nước với vai trò chủ đạo thiết lập một hệ thống pháp luật với những biện pháp
bảo vệ nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm, bảo vệ quyền sở
hữu cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật được trình bày cụ thể
dưới đây.
1.2.1. Biện pháp hành chính
Biện pháp hành chính hiểu một cách chung nhất là biện pháp do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Bản chất của
biện pháp hành chính là việc áp dụng đơn phương các biện pháp chế tài của
cơ quan nhà nước đối với bên có nghĩa vụ. Trong biện pháp hành chính, quan
hệ không cân bằng giữa một bên chủ thể có quyền là cơ quan nhà nước nhân
danh nhà nước áp đặt ý chí của mình lên đối tượng quản lý (bên có nghĩa vụ
phục ting). Tức là, có sự không bình đẳng giữa các bên tham gia trong quan
hệ quản lý hành chính, một bên nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực nhà
điều đó giúp ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu kịp thời
hơn; thủ tục xử lý vi phạm đối với nhãn hiệu theo biện pháp hành chính được
tiến hành đơn giản, ít tốn kém đồng thời với ý nghĩa trừng phạt đối với tổ
chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm, biện pháp hành chính có tác dụng
răn đe và phòng ngừa nhất định đối với việc tái phạm cũng như đối với những
người khác có ý định thực hiện các hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, vẫn có
những hạn chế nhất định trong biện pháp hành chính khi giải quyết xâm phạm
quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, thể hiện ở chỗ: việc áp dụng xử phạt hành
chính chưa đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu khi việc vi phạm quyền
sở hữu nhãn hiệu thường gây nên những thiệt hại nặng nề cho chủ sở hữu 21
nhưng việc xử lý vi phạm bằng biện pháp hành chính chỉ được bồi thường
một khoản tiền chưa đủ để chủ sở hữu nhãn hiệu khắc phục thiệt hại về vật
chất. Hơn nữa, việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trên thực tế rất khó thực hiện.
1.2.2. Biện pháp hình sự
Biện pháp hình sự là công cụ chế tài do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng nhằm trừng phạt những hành vi xâm phạm trật tự xã hội ở mức
độ nghiêm trọng bị coi là tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự.
Bản chất của biện pháp hình sự nói chung là việc nhà nước sử dụng quyền lực
nhà nước với mục đích trừng phạt và răn đe những hành vi xâm phạm trật tự
xã hội, trật tự quản lý nhà nước ở mức độ nghiêm trọng bị coi là tội phạm.
Trong bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, biện pháp
hình sự thường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng điều chỉnh
đối với các hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu, gây hậu quả nghiêm
trọng đến hoạt động kinh doanh của họ, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, đặc
biệt đối với hậu quả của việc sản xuất hàng giả kém chất lượng làm tổn hại
đến sức khỏe của người tiêu dùng, thiệt hại về vật chất và tinh thần cho chủ
người bị vi phạm do hành vi xâm phạm gây ra vẫn chưa được giải quyết thỏa
đáng.
1.2.3. Biện pháp dân sự
Biện pháp dân sự là biện pháp mà các bên trong quan hệ dân sự thông
qua nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân làm cho các
quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí nhà nước (thông qua hệ
thống pháp luật). Bản chất của biện pháp dân sự là điều chỉnh các quan hệ tài
sản và quan hệ nhân thân, trong quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân, chủ thể
tham gia bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý. Điều này xuất phát từ đặc trưng
của quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong pháp luật dân sự, các quan hệ tài
sản mà luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và đền bù
tương đương. 23
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu là một quyền tài sản của chủ sở hữu, quyền này mang bản chất của một
quyền dân sự. Do đó, biện pháp dân sự được coi là biện pháp chủ đạo và phù
hợp với việc áp dụng để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu,
có khả năng giải quyết thỏa đáng và triệt để những thiệt hại mà chủ sở hữu
quyền bị xâm phạm đã phải chịu.
Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua
biện pháp dân sự là việc chủ sở hữu nhãn hiệu, người có quyền sử dụng hợp
pháp nhãn hiệu (người được thừa kế quyền sở hữu nhãn hiệu, người nhận
chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu…) trên sơ sở các quyền được pháp luật
quy định thông qua tòa án nhân dân nộp đơn khởi kiện yêu cầu bên vi phạm
chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại. Quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nên khi có hành
vi xâm phạm, nếu gây ra thiệt hại cho chủ thể quyền thì chủ thể quyền có
quyền đòi bồi thường từ phía người vi phạm. Bên vi phạm sẽ phải bồi thường
hành chính. Tuy nhiên, do đặc thù việc áp dụng biện pháp này chỉ ở phạm vi
khu vực biên giới đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vì thế hiện nay biện
pháp này thường được nhắc đến với tư cách là một biện pháp độc lập, tách
biệt với biện pháp hành chính.
Tương tự với khái niệm biện pháp kiểm soát biên giới nói chung, biện
pháp kiểm soát biên giới liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu được hiểu là biện pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện bằng việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua công tác kiểm soát hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu.
Biện pháp kiểm soát biên giới liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nói
chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng cùng với các
biện pháp bảo vệ khác đã được đề cập đến trong các điều ước quốc tế. Hiệp
định TRIPS năm 1995 quy định trong cơ chế thực thi đã nhấn mạnh về sự cần 25
thiết lập các thủ tục kiểm soát hàng hóa tại biên giới. Mục đích chủ yếu trong
quy định này của TRIPS liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu là nhằm ngăn chặn hàng giả thông qua con đường nhập khẩu hàng
hóa qua biên giới. Hiệp định TRIPS cũng yêu cầu các nước thành viên phải
thể chế các quy định này trong pháp luật nước mình thành các biện pháp bảo
vệ quyền hữu hiệu chống lại hành vi xâm phạm.
Thể chế các yêu cầu của TRIPS, pháp luật Việt Nam quy định việc
bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp kiểm soát
biên giới được tiến hành theo thủ tục chung của biện pháp này khi áp dụng
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tức là, biện pháp kiểm soát biên giới bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được áp dụng khi có người yêu
cầu. Các chủ thể yêu cầu áp dụng biện pháp này phải đáp ứng những điều
kiện nhất định của pháp luật. Các quy định về thẩm quyền, thủ tục tiến hành
dụng khi Nhà nước nhận thấy cần thiết. Các biện pháp này mang đặc trưng
mệnh lệnh - phục tùng buộc hành vi xâm phạm phải chịu những chế tài trừng
phạt, răn đe ở các mức độ khác nhau. Trong quan hệ này không tính đến bên
có quyền bị xâm phạm, những thiệt hại của chủ sở hữu quyền không được đặt
ra để xác định mức bồi thường. Với biện pháp dân sự, trong nhiều trường hợp
việc áp dụng nó là cách duy nhất để giải quyết thỏa đáng vấn đề bồi thường
thiệt hại, khắc phục được những thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền, bảo đảm
khôi phục tình trạng ban đầu khi quyền sở hữu chưa bị xâm phạm. Trên cơ sở
nguyên tắc chung của việc xác định bồi thường dân sự là thiệt hại bao nhiêu
thì phải bồi thường bấy nhiêu, có thể xem đây là biện pháp duy nhất xác định
được mức thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cho chủ thể quyền.
Xét về khả năng áp dụng, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu bằng biện pháp dân sự có khả năng áp dụng rộng hơn so với các biện pháp
còn lại. ở biện pháp này, bất cứ khi nào chủ thể quyền thấy quyền lợi hợp pháp
của mình bị xâm phạm thì có thể yêu cầu tòa án can thiệp để bảo vệ quyền lợi
cho mình một cách hợp pháp, đồng thời người khởi kiện có thể đưa ra những
yêu cầu khi khởi kiện hoặc thay đổi yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án.
Hơn nữa, áp dụng biện pháp dân sự trong bảo vệ nhãn hiệu xét về góc độ lý