ĐẠI HOC QUỐC ( ìIA HẢ NỘI
KI IOA LUẬT
T R Ầ N N G U Y Ệ T MINH
HẢO HỘ Q U Y ỀN SỎ HỮU CỒNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
NHÃN HIÊU HÀNC, HÓA 1 HEO PHÁP LU ẬT VIÊT NAM
Chuyên ngành:
Mã số:
L u ậ t Dân sự
50507
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HOC
Người hướng dẩn khoa học: Tiên sỹ Nguvễn Thị Quê Anh
I OAI
• -
:v ý “N
V'LQf 5 Q T
HÀ NÔI • NĂM 2004
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu
1.2. Sư lược sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về bảo hộ
14
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa trên thế giới và ở
Việt Nam
1.2.1. Lịch sử và hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
14
1.2.1.1. Công ước Paris
16
1.2.1.2. Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid
17
1.2.1.3. Hiệp định TRIPS
18
1.2.1.4. Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa
21
1.2.2.
21
MỘT s ổ NỘI DUNG CO BẢN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAVI VỂ IỈẢO
HỘ NHẢN HIỆU HÀN(Í HÓA
2.1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa vói tư cách là đốitượng của quyển sở
33
hữu công nghiệp
2.1.1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
33
2.1.2. Tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
35
2.1.2.1. Tính mới
35
2.1.2.2. Khả năng phân biệt
39
2.1.3. Phân loại nhãn hiệu hàng hóa
43
2.1.3.1. Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận
43
2.2.
Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
58
2.2.1. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằngbảohộ nhãn hiệu hàng
58
hóa
2.2.2. Điều kiện đối với đơn
60
2.2.2.1. Yêu cầu về mặt hình thức
60
2.2.2.2. Yêu cầu về mặt nội dung
61
2.2.3. Thực hiện quyền nộp đơn
61
2.2.4. Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa
2.2.6. Khiếu nại các quyết định liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu công
68
nghiệp đôi với nhãn hiệu hàng hóa
2.2.6.1. Quyển khiếu nại của người nộp đơn
68
2.2.6.2. Quyền khiếu nại của người Ihứ ba
69
2.2.7. Đình chỉ, hủy bỏ hiệu lực Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
70
2.3. Nội dung quyền sử hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
71
2.3.1. Quyển của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa
72
2.3.1.1. Độc quyền sử dụng
72
Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
2.4.1. Xác định hành vi xâm phạm
78
2.4.2. Xử lý các hành vi xâm phạm
79
2.4.2.1. Theo thủ tục
hành chính
80
2.4.2.2. Theo thủ tục
dân sự
82
2.4.2.3. Theo thủ tục
hình sự
85
2.4.2.4. Bảo vệ quyền sờ hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa bằng các
92
Thực trạng vi phạm quyền sở hĩru công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
và xử lý vi phạm nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam
3.1.2.1. Thực trạng vi phạm quyền sở hĩru công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng
92
hóa
3.1.2.2. Thực trạng xử lý vi phạm quyền sở hũai công nghiệp đối vói nhãn hiệu
96
hàng hóa tại Việt Nam
3.2.
Một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu
99
công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
3.2.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về bảo hộ
100
nhãn hiệu hàng hóa
3.2.1.]. Cần bổ sung thêm dấu hiệu không dược bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn
Kiên nghị nhằm tăn« cường hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Việt
105
Nam
3.2.2.1. Sáp xếp lại và tàng cường năng lực của các cơ quan thực thi
105
3.2.2.2. Tuyền truyền, phổ biến, nânơ cao nhận thức của doanh nghiệp về vai trò
106
của nhãn hiệu hàng hóa và việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
3.2.2.3. Tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và hoạt động của các hiệp hội
106
bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
3.2.2.4. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu công
107
nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa
Danh mục văn bản pháp luật
i 11
Tài liệu tham khảo
tuệ”. Như vậy, trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, hệ thống pháp luật Việt
Nam nói chung và hộ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói riỗng cần phải hoàn thiện dể
không chỉ mang phù hợp với thực tiễn Viồt Nam mà còn phải phù hợp với các chuẩn
mực quốc tế, tạo diều kiộn thuận lợi để llurc hiên dầy đủ các cam kết quốc tế.
Trong nền kinh tế hiên nay, vấn đề bảo hộ nhãn hiồu hàng hóa dang dược sự quan
tâm dặc biôt không chỉ ờ góc dô quản lý Nhà nước mà còn là sự quan tâm của các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. ở cấp quốc gia, Chính phủ đã dưa ra
những chương trình nhằm xây dựng, tôn vinh thương hiệu Việt coi đó là một trong
những yếu tố cơ bản giúp các nhà sản xuất mờ rộng thị trường trong nước và quốc tế
giúp cho hàng hóa của Việt Nam có thể cạnh tranh được với hàng hóa của các nước
trong khu vực và trôn thế giới. Còn trong phạm vi nội bộ mỗi doanh nghiệp, nhãn hiệu
hàng hóa giữ vai trò là một trong những yếu tổ quyết định đến sự tổn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Do vậy, việc bảo hộ quyển sờ hữu công nghiôp đối với nhãn hiêu
hàng hóa là mối quan tâm hàng dầu của các doanh nghiệp.
1
I
Mo'll иfra, Việt Nam dan” lích cực chuẩn bị dể xin uia nhạp Tổ chức thương mại
thố giới - YVTO. Một tronu những tiêu clniẩn đòi hỏi dể irở thành thành viC‘11 của lổ
cluíc quốc tê này là nước xin í>ia nhập phải có một hệ thống các quy định pháp luật llụrc
ihi quyền sử hữu trí tuệ dù mạnh, tối thiểu chip ứng các dồi hỏi nêu ra 1ГОПЦ Hiệp clịnh
về các khía cạnh llnrơng mại liên quan đến sở hữu trí tuệ - TRIPS. Vì vậy, việc nçliiên
cứu và hoàn thiện cơ sở pháp lý về hảo Ỉ1Ộ quyền sở hữu cổng nghiệp dối với nhãn hiệu
hàng hóa - một trong những dối tượng CO' bản c ủ a quyền sở hữu c ô n g nghiệp là vô cùng
cần thiết.
Vì vậy, tôi lựa chọn dề tài “Hảo hộ quyền sử hữu công nghiệp (lối với nhãn hiệu
Đổ tài dã sử dụng plnrưng pháp phân tích trong việc đánh giá các quy định hiện
hành của pháp luật Việt Nam về việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, qua đó cung cấp một
bức tranh toàn cảnh về vấn đề này. Qua việc phân tích Irên, tác giả đã chỉ ra dược
những hạn chế, những tlìiốu sót của pháp luật Việt Nam trong vấn đề bảo hộ nhãn hiệu
hàng hóa và kiến nghị các giải pháp khắc phục nhằm từng bước hoàn thiÇn cơ sờ pháp
lý cho việc bảo hô nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam.
4.2. Phương pháp luật học so sánh
Hiôn nay Việt Nam đang là thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sờ hữu công
nghiệp và Thỏa ước Madrid về đãng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa. Trong quá trình
hôi nhập kinh tế quốc tố, chúng ta đang nỏ lực để trở ihành thành viên của Tổ chức
thương mại thế giới - WTO. Để trở thành thành viên của tổ chức này, một trong những
điồu kiồn cơ bản là phải xây dựng dược một hệ thống sờ hữu trí tuệ, trong đó có nhãn
hiôii hàng hóa đáp ứng đầy dủ tiôu chuẩn được quy định trong Hiôp định TRIPS - Hiệp
định về các khía cạnh liôn quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuô. Vì vậy, viộc
nghiôn cứu dồ tài về bảo hộ nhãn hiộu hàng hóa theo pháp luật Viôt Nam không thể
tách rời viộc nghiên cứu trong tương quan so sánh với các điều ước liên quan trong lĩnh
vực này dể có thể hoàn thiên pháp luật Viôt Nam, phù hợp 'ớ i các tiôu chuẩn quốc tế.
Tất cả các phương pháp nghiôn cứu trôn đều được xây dựng trên cơ sở đường lối
đổi mới cùa Đảng, mà nền tảng là chù nghĩa duy vật biên chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử của triết học Mác - Lênin.
5. Tình hình nghiên cứu
Viôc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu
hàng hóa nói riêng đã dirợc đặt ra từ lâu nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Hiên
3
nav, có khá nhiều bài viết, cỏnu trình million cứu của các tác Цiả khác nliau về bảo hộ
nhãn hiệu Iiìmi; hóa. Tuv nhiên, các hài viel này chủ yếu clề cập den nluìnti vấn đổ
chung vổ clăni» ký và hảo hộ nhãn hiệu hàng hóa như nlui cầu, mục dich của hảo hộ
Thục trạng VÌ1 giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam vê bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa
3.1. Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam
4
3.2.
Một số kiến m>hị nhằm hoàn thiện pháp luẠl về bảo hộ quvền sở hữu С0ПЦ
n^hiẹp dối với nhãn hiôu hàm> hóa
Danh mục văn bản pháp luật
Danh mục tài liệu tham khảo
Tài liệu tiếng Việt
Tài liệu liếng Anh
Trong phạm vi một luận văn cao học với giới hạn về độ dài, thời gian và dây cũng
là một vấn dề rất rộng và khá phức tạp, có tầm quan trọn« cả về lý luận cũng như thực
tiễn, do đó bản luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất
mong nhận dược sự dóng góp và xây dựng của các thầy, cô giáo, những người trong
ngành và các bạn quan tâm đến vấn đề này.
5
CHƯƠNG I
KHẢI q u á t c i i u n í ; v í :
'llieo ihônu lộ Iren Ihố uiới cũnụ ĩiliư Cịiiy dịnli lại các dieu ước quốc tố về quyền
sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ dược chia thành hai lĩnh vực chính đỏ là quyền lác
i>iả và quyền sở hữu С011 Ц niihiổp. Cụ thể là:
- Quyền tác
tưởnR đó; sẽ là sự hạn chế nhân quyền nếu không coi một sáng chế công nghiôp mới là
sờ hữu của người dã tạo ra sáng chế đó”.
Dẩn dẩn, với thời gian thuật ngữ “sờ hữu công nghiộp” ngày càng dược sử dụng
rông rãi. Thuật ngữ "sử hữu công nghiổp” dổi khi bị hiểu nhẩm là liôn quan đến các
động sản hoặc bất dộng sản dược sử dụng cho sản xuất công nghiệp, chẳng hạn như các
nhà máy, các trang thiết bị phục vụ sản xuất công nghiệp v.v. Thực tế, sở hữu công
nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp
và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà còn cho các ngành sản xuất nông nghiêp,
công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm tự nhiên như thuốc lá, hoa quả, rượu, ngũ
cốc, bia, nước khoáng, gia súc, khoáng sản, hoa và bột (Điều 1 Công ước Paris). Điéu
này có nghĩa là chúng ta sử dụng thuật ngữ "quyền sờ hữu công nghiệp" nhằm phân
biỏt với "quyền tác giả" trong sờ hữu trí tuệ, chứ không phải sử dụng thuật ngữ này để
chỉ việc sờ hữu các tài sản liên quan đốn công nghiêp. Cũng là sản phẩm trí tuệ nhưng
nếu các sản phẩm này không liôn quan dến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì
9
dược bảo hộ dưới hình llníc quyền lác giả, còn nluìnỉỊ sảti phẩm trí tuệ íỊắn iién với hoại
độni> sản xuâì, kinli doanh, cỏ khá Iiănu á]) clụnu dể tạo ra của củi vậl chất cho xã hội
thì sẽ dirực hảo hộ chrới hình ill ức quyền sử hữu cóng nuliiệp.
Thuậl ngữ "íỊiivền sở hữu công nghiệp" dược sử đụn« trong các văn bản pháp luật
về bảo hộ quyền sở hữu côn» nghiệp của các nước trên thế ui ới và ở Việt Nam. Thuật
íiíũr này xuất phát từ chỏ các đối tượng của loại hình sở hữu này là tài sản vỏ hình,
nhưno lại dược áp dụng vào hoạt động thương mại, công nghiôp hoặc thủ công nohiệp
để tạo ra các sản phẩm vật chất. Vì vậy, quyổn sở hữu cổng nghiệp có giá trị kinh tế
trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Người nào là chủ sở hữu của những tài sản vô
hình này thì được khai thác lợi ÍCỈ1 kinh tế từ chúng và cổ lợi thố trong sản xuất kinh
doanh. Chính vì vậy, để dược bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp phải
thỏa mãn những diều kiện nhất dinh theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, khi nói
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp ;
- Giống cây trổng mới (thành tựu chọn g iố n g ).
Và một diều có thổ dự doán trước rằng, với năng lực sáng tạo của trí tuệ con người
và với ý chí muốn dưa những thành tựu sáng tạo có được vào áp dụng phục vụ lợi ích
của con người một cách tốt nhất, hiệu quả nhất, chắc chắn trong tương lai danh sách các
dối tượng sở hữu công nghiỏp sẽ còn được viết tiếp dài hơn nữa.
Theo Điều 780 Bộ luật dân sự của Việt Nam thì quyền sở hữu công nghiệp được
hiểu là "quyền sờ hữu cùa cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu
dáng cổng nghiệp, nhãn hiỏu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tôn gọi xuất xứ hàng hoá
và quyền sở hữu dối với các đối tượng khác do pháp luật quy định".
Như vậy, ngoài việc liỏt kê các đối tượng sở lũru công nghiệp cụ thổ Điều 780 Bộ
luật dân sự Việt Nam còn quy định quyền sở hữu công nghiệp dối với "các dối tượng
khác". Định nghĩa này có yếu tố mờ để dần dần cập nhật những đối tượng khác sẽ được
bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền sờ hữu công nghiệp trong tương lai. Cho đến
nay, pháp luật Việt Nam bảo vệ thôm các đối tượng sở hữu công nghiệp sau: bí mật
kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tôn thương mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
liên quan tới sờ hữu công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp.
1.1.1.3.
Đặc điểm của quyền sở h ĩm công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiồp có những đạc điểm cơ bản như sau:
- Quyền sở hữu công nghiệp là một quyền tài sản và đối tượng của quyền sở hữu
công nghiôp mang tính phi vật chất. Bừi vì, bản thân quyền sờ hữu công nghiệp không
11
lliể tự I1Ó dem lại các tiện ích hiện hữu chú nuười nám t;iữ quyền mà nó chỉ dem lại các
lợi ích vật chất và tinh (hail cũnLỊ Iihir các lợi llìốcho thủ sở hữu, 111' Ilò'i sử tillin’ khi các
dối urựnự sở hữu côim n‘j,hiệp được áp tiling vào CỊiiá trình sản xuất, kinh doanh.
sản piìẢm sail” tạo của mình trước khi bán SỈU1‘4 cho ni>u'ời Iran. Vào năm 600 trước
CÔIIÍI nguvên, nhữn
pháp mà không cần phải dăng ký. Tuy nhiên, việc đăng ký nhãn hiệu với các cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước có thể tạo cho chù nhãn hiệu hàng hóa những quyền năng
nhất định mà những nhãn hiêu không đăng ký không thể có được. Đó chính là quyền sờ
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa. Quyển sở hữu công nghiệp đối với nhãn
13
hiệu liànụ hóa là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhAn dối với nliãn hiệu hàníĩ, hỏa ciìa
mình clio nlũrm> sản phẩm hoặc dịch VII mà mình sản xuất hoặc CIIIIÍ’ cấp. Quyền sở
hữu dỏ dược Ihổ hiện ở Văn hằng hảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa do Nhà nước cấp
theo quy định của pháp luật.
Với việc cấp Vãn bằn« bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi trên người nắm giữ Iihãn
hiệu hàng hóa dược xác định là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa và có các quyền như:
đỏc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa cho các sản phẩm hoặc dịch vụ của mình; dược
quyền chuyển íỉiao quyền sử dụng cũng như chuyển nlurợng quyền sở hữu nhãn hiệu
nhãn hiệu hàng hóa cho nuười khác; được quyền cấm bcn .hứ ba dưa ra thị trường các
sản phẩm có nhãn hiệu trùníT hoặc tưưng tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình cũni>
như quyền yêu cẩu CO' quan nhà nước có thẩm quyền buộc người cổ hành vi xâm phạm
quycn sở hữu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bổi thường thiôt hại.
Song song với quyền sử hữu công nghiệp được xác lập nêu trên, chủ sử hữu nhãn
hiôu hàng hóa phải có nghĩa vụ sử dụng Iihãn hiệu hàng hóa đã dăng ký của mình. Viộc
sử dụng nhãn hiệu hàng hóa được thực hiện dưới nhiổu hình thức khác nhau như gắn
nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ,
giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để
bán, tàng trữ dd bán hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ; nhập khẩu hàng
hoá mang nhãn hiôu hàng hoá dược bảo hộ.
1.2. Sơ lược sụ hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa trên th ế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Lịch sử và hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
ưò'i sản xuất, nhãn hiệu lương ứng dược
nhiều người sử dụng. Để xác tlịnli ai là ngưừi sử dụng dầu tiên, các Tòa án dã lập sổ ghi
nhận nhãn hiện. Lúc đáu, các sổ dó chỉ dímẹ, để iheo dõi các nhãn hiệu dans, bị tranh
chấp, sail đó ghi cả các nhãn hiệu chưa bị tranh chấp để đề phòng tranh chấp có thể xảy
ra trong tươno, lai. Cuối cùng, ngav cả nhĩrnu nhãn hiệu chưa dược sir с1игщ nhưnq chủ
nhãn hiệu có ý định sử dụng cũng được ghi nhận vào sổ. sổ theo dõi nhãn hiệu dẩn dán
trở thành sổ dăng bạ nhãn hiệu, lừ dỏ hình thành phương thức dăng ký nhãn hiỏu tại
Tòa án (gọi là nhãn hiệu chứng toà). Tuy nhiên, việc dăng ký nhãn hiệu như vậy dược
thực hiộn theo thông lê chứ không theo quy định của một văn bản pháp luật cụ thổ nào.
Luật nhãn hiệu đầu tiên được ban hành tại Pháp năm 1857. Theo luật này, quyền
đối với nhãn hiỏu thuộc về người thực hiện sớm nhất (so với người khác) một trong hai
việc: (i) sử dụng nhãn hiệu và (ii) dăng ký nhãn hiệu theo quy định của luật. Nếu một
người đăng ký một nhãn hiộu nhưng thời điổm sử dụng nhãn hiộu của người dó lại sau
người đăng ký thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về người thứ hai (quyền thuộc
hữu cồn« nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ; và các quy định về hành chính
phục vụ cho việc thi hành Công ước.
Công ước Paris không quy định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu mà
dành việc này cho luật quốc gia của các nước thành viên. Một khi nhãn hiệu được dăng
ký tại một nước thành viên, dăng ký đó sẽ độc lập với dăng ký có thể có tại bất cứ nước
thành viôn nào khác, kổ cả nước xuất xứ. Do đó, nếu đăng ký nhãn hiệu bị mất hiệu lực
tại một nước thành viôn thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến hiôu lực của đíìng ký nhãn
hiệu đó tại các nước thành viẽn khác [24].
Khi nhãn hiệu đã dược đăng ký hợp lệ tại nước xuất xứ, người đăng ký nhãn hiộu
đó có thể nộp đưn bảo hộ ở các nước khác với hình thức ban đầu của nhãn hiôu dó. Tuy
nhiên, đãng ký có thể bị từ chối trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như nhãn
hiệu có khả năng xâm phạm quyền đã đăng ký của các bôn thứ ba, nhãn hiệu không có
khả năng phân biệt, nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có
khả năng lừa dối công chúng. Tại bất kỳ nước thành viên nào, nếu việc sử dụng nhãn
hiệu đã dăng ký là bắt buộc thì không thể huỷ bỏ đăng ký sau một thời hạn hợp lý và
viôc hủy bỏ chỉ áp dụng trong trường họp chủ sở hữu không chứng minh được lý do
chính dáng của việc không sử dụng nhãn hiệu.
16
Bén cạnh dó, Công ước Paris còn đc ra các quy định VC việc hảo liộ nliãn hiệu lập
the và nhãn hiệu nổi tiốnt>. Điều 6bis quy định "...Các 111 rức lliànli viC‘11 của 1Je n minh
có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ đãno ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn
hiệu (ló là sự sao chép, hát CỈ1ƯỚC, bièn dịch và cỏ khả пйпц цау nhám lẩn với nhãn hiệu
đã đưực cơ quan cỏ thẩm quvền của nước dăng ký hoặc sử duns’ coi là nhãn hiệu Iiổi
tiếng tại nirớc đó cho hàng hóa giống hoặc tương tự..."
1.2.1.2. Thỏa ước Madrid và Nghị сlịnh thư Madrid
Thỏa ước Madrid là văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh các vấn đề đăng ký nhãn
hiệu hàng hóa ở các nước thành viên. Thỏa ước này dược ký kốt vào пцау 14/4/1891 tại
Madrid (Tây Ban Nha) dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Paris về sở hữu công nghiệp. Đến
kv quốc lố không
CÒI1
được báo hộ vì nhãn hiệu
CO'
sở bị mất hiệu lực tại nước xuất xứ
thành các do'll quốc nia hoặc klui vực tại một số hoặc lất cá các bên tham gia đưực chỉ
định với ngày nộp đơn, nuàv ưu liên (nếu có) của đãni> ký quốc tố dó. Khả nanẹ tham
gia Nghị định thư khônu chí dành cho các nước mà dành cho cả các Tổ chức liên chính
phù cổ
CO'
quan đăng ký nhãn hiệu với hiệu lực trong lãnh thổ của tổ chức dỏ [24].
Đăm> ký quốc tê' theo Thỏa ưỏc Madrid cỏ một số lựi thố dối với chủ nliãn lìiỌu.
Đó là sau khi dăng ký nhãn hiệu, hoặc nộp dơn dăng ký với Cơ quan xuất xứ, chủ nhãn
hiÇu chỉ phải nộp một dơn, hàng một ПЦ0П ngữ, cho một Co' quan và chỉ phải nộp các
khoản lệ phí cho một cơ quan; thủ tục này thay ihế cho việc phải nộp dưn riêng biệt cho
từng Cơ quan nhãn hiệu của các Bôn tham í>ia khác nhau hằng những ngổn ngữ khác
nhau, và phải trả các khoản phí riêng biệt cho từng Cơ quan. Khi gia hạn hoặc sỉra đổi
dăng ký cũng được hirởnt» những lựi ích tương tự [24].
Một điểm cẩn lưu ý là hiện nay Việt Nam mới chỉ tham gia Thoả ước Madrid mà
chưa tham gia Nghị định thư Madrid, vì vậy, đon quốc tế do người Việt Nam nộp sẽ chỉ
được yêu cẩu bảo hộ (chỉ định) tại các nước thành viên của Thoả ước Madrid (khổng có
quy định của Công ước Paris và Công ước Berne, làm thay đổi bộ mặt của luật sở hữu
trí tuệ vì các nước thành viên WTO phải Ihay đổi luật của họ dể phù hợp với Hiệp định
TRIPS. Ngoài việc dồng nhất hóa về pháp luật, Hiệp định TRIPS còn tiến tới loại bỏ các
quy dịnh về hành chính, thủ tục và về kỹ thuật bất lợi cho hoạt dộng sở hữu trí tuệ quốc
tế.
Hiệp định TRIPS quy định các tiêu chuẩn tối thiểu đối với việc bảo hộ tất cả các
đối tượníỊ sở hữu trí tuệ. Nhưng diều quan trọng nhất đó là Hiệp định TRIPS là điều irớc
quốc tế đầu tiên quy dịnli hệ thống các biộn pháp chế tài trong dó có nhfrnç biộn pháp
chế tài khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm và những biộn pháp chế tài
nhằm ngăn chặn không dể các hành vi xAm phạm tiếp diễn. Các biện pháp chế tài này
hoàn toàn không có trong Công ước Paris.
Mối quan hệ chạt chẽ giữa Hiệp định TRIPS và Cổng ước Paris dược thổ hiên
trong Điều 2.1. Hiệp định này bắt buộc tất cả các thành viôn WTO tuân thủ các điều từ
Điều 1 đến Điều 12 và Điều 19 của Công ước Paris được sửa đổi năm 1967 tại
Stockholm. Hiệp định TRIPS ngoài việc đề cập đến các nguyên tắc cơ bản cùa Công
ước Paris, dã vượt ra ngoài Công ước Paris bằng viộc lần đầu tiên đưa ra một nguyôn tắc
mới đó là "dối xử tối huệ quô'c"(MFN). Theo Điều 4 Hiêp định TRIPS: "Tất cả các lợi
ích, ưu đãi, đạc ân, đặc lợi, hay sự miỗn trừ mà một thành viên dành cho công dan của
bất kỳ nước nào khác sẽ được áp dụng cho tất cả các thành viên khác, ngay lập tức và
không có bất kỳ một diều kiện nào khác.”
Liôn quan đến nhãn hiệu hàng hóa, Điều 15, mục 2 của Hiệp định TRIPS quy
định đối tượng có khả năng bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hàng hóa đó là “Bất kỳ một
dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ
19