tìm hiểu chếđộ công ty đại chúng theo quy định của pháp luật việt nam và thực tế áp dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vấn đề TTCK đã ,đang và sẽ trở thành một
vấn đề “thời sự nhất” đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên toàn thế
giới hiện nay.Thực tế đã chứng minh rằng TTCK cung cấp một nguồn vốn rất
quan trọng cho nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia
tham gia phát triển mạnh hơn ,nhanh chóng hơn.
Thời gian qua, TTCKVN đã có sự chuyển mình đặt những mốc quan
trọng sau nhiều năm hoạt động và phát triển. Trước năm 2009, do ảnh hưởng từ
cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, TTCKVN đang giảm sút nghiêm trọng và
biến động thường xuyên. Kéo dài từ năm 2009 đến nay thị trường chứng khoán
đang diễn ra một cách ảm đạm. Nhằm điều tiết sự phát triển của hoạt động kinh
doanh chứng khoán bước sang năm 2011 năm tiền đề của kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm, TTCKVN
đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức để phát triển hơn trong thời gian
tới. Vậy chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một khía cạnh của TTCK “tìm hiểu chế
độ công ty đại chúng theo quy định của pháp luật việt nam và thực tế áp
dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng”.
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về công ty đại chúng.
1.
Khái niệm công ty đại chúng.
Thông thường tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển khái niệm
CTĐC được quy định trong luật công ty còn LCK chỉ quy định nghĩa vụ công bố
thông tin của CTĐC. Tuy nhiên đối với những nước mà luật liên quan chưa quy
định thì LCK có quy định cụ thể về CTĐC.
Điều 25 LCK quy định: "Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một
trong ba loại hình sau đây:
a) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;
b) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc
Trung tâm giao dịch chứng khoán;
c) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể

3. Tổ chức và hoạt động của công ty đại chúng theo quy định của pháp
luật.
Về mặt tổ chức và hình thức,thực chất CTĐC là công ty cổ phần đã phát
hành chứng khoán ra công chúng. Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng,
tổ chức phát hành trở thành CTĐC (có đăng ký). CTĐC có nghĩa vụ phải công
khai thông tin về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật, UBCKNN và
Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư có đuợc thông tin đầy
đủ về hoạt động thuờng xuyên cũng như những sự kiện bất thuờng của công ty.
Điều 30,31,32 LCK 2006 đã liệt kê những hoạt động công ty đại chúng có
quyền thực hiện.
Nhận xét : Việc đặt ra các quy định về CTĐC nhằm đảm bảo tất cả các
doanh nghiệp có chứng khoán được công chúng sở hữu rộng rãi (kể cả các doanh
nghiệp đã phát hành chứng khoán ra công chúng từ trước khi LCK có hiệu lực
hoặc phát hành riêng lẻ nhiều lần theo quy định của Luật Doanh nghiệp mà trở
thành CTĐC) phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, từ đó có thể bảo vệ
được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Về hoạt động chào mua công khai, để bảo đảm tính công khai, minh bạch
trong việc chào mua thâu tóm doanh nghiệp, tránh việc các CTĐC bị thâu tóm
một cách không công bằng, không công khai và bảo vệ các cổ đông thiểu số
trong doanh nghiệp bị thâu tóm, LCK quy định việc chào mua công khai phải báo
cáo UBCKNN và chỉ được thực hiện sau khi UBCKNN chấp thuận và đã được
công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng trước thời điểm dự kiến thực
hiện.


Luật cũng quy định chứng khoán của các CTĐC phải được đăng ký, lưu ký
tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán. Quy định như vậy là phù hợp với
thông lệ quốc tế về đăng ký và lưu ký tập trung, khắc phục được tình trạng các
nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp chứng chỉ chứng khoán. Điều này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc theo dõi biến động sở hữu, cũng như thuận tiện cho việc giao

yết chỉ thực hiện nghĩa vụ báo cáo Sở, chứ không báo cáo UBCK, mặc dù theo
quy định pháp luật là công ty niêm yết phải báo cáo cả Sở và UBCK. Theo quy


định tại Thông tư 09/2010/TT-BTC, việc công bố thông tin của CTĐC, tổ chức
phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, công ty quản lý quỹ,
CTCK phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCK, Sở GDCK. Do đó,
có thể nói vì quy định trên tại Thông tư 09 chưa được thực thi nghiêm túc, nên
mới dẫn đến một thực tế là dữ liệu về CTĐC tại UBCK quá thiếu như hiện nay.
Một số bất cập của thông tư 09.
Hiện nay, việc quy định CBTT trong thông tư 09 chỉ dựa trên hai nhóm đối
tượng là CTĐC và công ty niêm yết. Tuy nhiên, trong thực tế, có những trường
hợp, CTĐC có quy mô vốn rất lớn, số lượng cổ đông nhiều và mức độ thanh
khoản trên thị trường cao nhưng lại không thuộc đối tượng bị điều chỉnh.
Ví dụ như trường hợp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
(MB), một công ty cổ phần có vốn điều lệ trên 10 ngàn tỉ đồng và số lượng cổ
đông rất lớn nhưng họ vẫn chưa đưa cổ phiếu vào niêm yết trên thị trường tập
trung do đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của thông tư 09. Điều này có thể
gây ảnh hưởng tới quyền lợi của những người nắm giữ cổ phiếu của MB nếu
thông tin không được công bố đầy đủ.
Quy định về báo cáo trước ngày giao dịch của cổ đông lớn và cổ đông nội
bộ cũng chưa đáp ứng được mục tiêu quản lý và chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế.
Theo thông tư này, các cổ đông lớn và cổ đông nội bộ, trước khi thực hiện
giao dịch cần công bố thông tin trên phương tiện truyền thông; tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, các cổ đông này có công bố thông tin nhưng không thực hiện
giao dịch hoặc chỉ giao dịch một phần hoặc vừa mua vừa bán, làm lũng đoạn thị
trường chứng khoán.
Ngoài ra, thông tư 09 không đảm bảo về mặt thời gian việc CBTT bất
thường trong vòng 24 giờ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ do có độ

nghiệp và cổ đông có thể tận dụng được lợi thế của thị trường vốn, tận dụng các
khoản nhàn rỗi, tạo cơ hội gia tăng giá trị cho nhà đầu tư, đặc biệt là những người
khởi lập doanh nghiệp.
CTĐC có thế mạnh đặc biệt về phát triển, có được yếu tố trường vốn
và trường tồn nhờ có tính độc lập giữa thực thể doanh nghiệp và người sở hữu.
Để trở CTĐC, công ty cổ phần phải tuân thủ một số điều kiện nhất
định theo quy định của pháp luật nên chỉ một số công ty cổ phần đáp ứng đủ điều
kiện mới được, tạo ra một sàn chung có mặt bằng chung giống nhau, tạo ra sự
chọn lọc và khả năng cạnh tranh giữa các công ty với nhau để thu hút nhà đầu tư.
Tự do chuyển nhượng, tự do mua bán cổ phần giữa các nhà đầu tư.
Công ty được xã hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên
thị trường chứng khoán, trên báo chí. Công ty đã khẳng định được danh tiếng, uy
tín thì khi cần huy động vốn ngoài xã hội, công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát
hành cổ phiếu, trái phiếu với chi phí phát hành thấp hơn lần phát hành truớc nên
dễ dàng tiến hành huy động vốn từ công chúng.


Tính minh bạch cao thể hiện ở việc Công ty phải báo cáo công khai
hoạt động của mình cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xã
hội. Thêm vào đó, hội đồng quản trị và ban giám đốc phải công khai các hoạt
động quản lý và điều hành công ty. Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển
công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, cơ cấu hợp lý vốn, nếu không thì các
giám đốc sẽ bị sa thải; như vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các
giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty.
Nhà nước bớt được gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công
ty, và như vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của
mình là đầu tư cơ sở hạ tầng.
b. Nhược điểm:
Do tính chất đối vốn của CTĐC nên công ty có rất nhiều người nắm
giữ cổ phần dẫn đến tình trạng khó quản lý và nằm ngoài tầm kiểm soát của ban

Một số giải pháp:
Phải luật hóa các quy định, chế tài về công ty đại chúng;

Phải chấp nhận mở rộng thêm khả năng tham gia của các tổ chức đầu
tư hiệu quả và chuyên nghiệp vào các công ty;


Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản, trong bối cảnh mới, các công ty tự
mình hoặc với sự trợ giúp của các chuyên gia, công ty tư vấn cần rà soát hệ thống
của mình, phát hiện những thiếu sót, lỗ hổng, từ đó đề ra biện pháp khắc phục.


Để hoàn thiện hệ thống quản trị công ty thì cơ cấu tổ chức của doanh
nghiệp phải tách bạch vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn cụ thể: công ty
phải thiết lập một hệ thống pháp luật đầy đủ trong doanh nghiệp: điều lệ công ty,
quy chế quản trị doanh nghiệp, quy chế hoạt đông của hội đồng quản trị, quy chế
tiền lương tiền thưởng, quy chế duy trì và phát triển nguồn nhân lực.


Phổ biên tuyên truyền pháp luật về CTĐC: đối với 1 nước như việt
Nam hiểu biết pháp luật về CTĐC còn nhiều hạn chế. Thực tế cho thấy nhiều
công ty vi phạm các quy định của pháp luật về công ty đại chúng ( chủ yếu là các
quy định về chào bán và công bố thông tin) do không nắm được các quy định về
công ty đại chúng. Việc tăng cường, phổ biến pháp luật về công ty đại chúng sẽ
giúp các công ty thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình, tránh được
việc vi phạm các quy định của pháp luật. Công ty hoạt đông có hiệu quả.


- Đối với Bộ Tài chính (Bao gồm cả UBCKNN):
Để đảm bảo tính minh bạch trong BCTC của doanh nghiệp niêm yết,

lượng để thực hiện kiểm toán BCTC, không nên đặt tiêu thức giá phí rẻ để lựa
chọn công ty kiểm toán.
Doanh nghiệp nên yêu cầu kiểm toán viên phải giải trình trong đại hội cổ
đông thường niên về ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên trong BCTC.
Cần chủ động phối hợp với kiểm toán viên trong việc cung cấp hồ sơ, xử lý
các vướng mắc và soát xét số liệu kế toán trước khi phát hành BCTC để hạn chế
sự khác biệt giữa BCTC trước kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán.
Hiện UBCK có thể phạt tiền đến 500 triệu đồng, mức phạt này cao
hơn trước đó rất nhiều, nhưng vẫn còn quá nhẹ trong nhiều trường hợp vi phạm.
Ông Ken Rushton, Trưởng ban Niêm yết, FSA chia sẻ, cơ quan này có quyền
“phạt tiền không giới hạn” đối với hành vi vi phạm và bỏ tù đối với những cá
nhân có hành vi thao túng TTCK hay giao dịch nội gián.
Cá nhân có dấu hiệu vi phạm hay khi trên thị trường có tin đồn thì
công ty, cá nhân đó phải giải trình trước Ủy ban Pháp chế. Ủy ban này có Chủ
tịch là thành viên của FSA và các thành viên khác là những chuyên gia độc lập,
có kinh nghiệm… Sau đó, Ủy ban sẽ ra phán quyết nếu thấy có dấu hiệu vi phạm.
Công ty hoặc cá nhân vi phạm có thể kháng cáo lên tòa án độc lập và quyết định
của tòa án là cuối cùng.


Đạo đức của các thành viên HĐQT và Ban giám đốc công ty đại
chúng là một dấu hỏi khi hiện tượng thành lập các công ty “sân sau” của lãnh đạo
các công ty khá phổ biến. Các công ty “nghiện” đầu tư vì dự án có hiệu quả hay
không đều có lợi cho những người điều hành. Bên cạnh đó, số lượng các công ty
kiểm toán ở Việt Nam còn thiếu cũng như chất lượng kiểm toán còn yếu. Có DN
dừng hợp đồng với công ty kiểm toán cũ và thuê một công ty kiểm toán mới,
nhưng chỉ một thời gian ngắn đã có báo cáo kiểm toán để công bố ra thị trường.
Điều này khiến NĐT không khỏi nghi ngờ về chất lượng của báo cáo kiểm toán.
Việc giám sát công ty đại chúng và thực hiện QTCT tốt ở Việt Nam
còn lỏng lẻo do thiếu cơ chế, chế tài và cơ quan không có đủ quyền lực. Hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status