ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ TUYẾT HOA
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHAN THỊ TUYẾT HOA
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI 4
1.1. Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại 4
1.1.1. Lịch sử phát triển của nhượng quyền thương mại 4
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của nhượng quyền thương
mại 6
1.1.3. Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số phương thức kinh
doanh khác 18
1.2. Tổng quan pháp luật về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại 23
1.2.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại 23
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại 26
ii
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 29
2.1. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động nhƣợng quyền
thƣơng mại ở Việt Nam 29
2.2. Chủ thể của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại 30
2.3. Hình thức hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại 34
2.4. Nội dung của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại 37
2.4.1. Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại 39
2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh nhượng
quyền thương mại 40
2.4.3. Phí nhượng quyền 44
2.4.4. Thời hạn, gia hạn hợp đồng 45
2.4.5. Thay đổi hợp đồng 46
2.4.6. Tạm dừng hợp đồng 47
2.4.7. Chấm dứt hợp đồng 47
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhượng quyền thương mại (NQTM) là phương thức kinh doanh đang
phổ biến và lan rộng khắp nơi trên thế giới, được sử dụng trong 60 lĩnh vực
khác nhau, từ kinh doanh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn, cho thuê xe, giải
trí đến các dịch vụ giáo dục, y tế, hỗ trợ doanh nghiệp. Theo thống kê năm
2011, tại Mỹ có khoảng 800.000 cơ sở kinh doanh theo phương thức NQTM
với hơn 10 triệu công nhân và 625 tỷ USD doanh số. Tổng doanh thu của các
hệ thống NQTM hiện nay chiếm hơn 1/3 tổng giá trị các giao dịch bán lẻ tại
Mỹ [1] vào năm 2006, Trung quốc có 2.600 hệ thống nhượng quyền với
khoảng 168.000 cửa hàng với tốc độ phát triển trong khoảng 40%-50% [7].
Với đà tăng trưởng 20-25%/năm hiện nay [18], Việt Nam có tiềm năng để
trở thành thị trường hấp dẫn cho NQTM. Để có thể hội nhập thành công một
điều kiện tiên quyết đối với các doanh nghiệp Việt Nam là cần tìm hiểu, nghiên
cứu các thuận lợi và thách thức của hệ thống kinh doanh đặc thù này trước khi
quyết định kí kết hợp đồng để tham gia mô hình kinh doanh nhượng quyền
thương mại. Trong bối cảnh thị trường NQTM ngày càng tăng nhanh ở Việt
Nam, việc nghiên cứu thực trạng kinh doanh NQTM, cũng như thực trạng pháp
luật về NQTM Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các hợp
đồng nhượng quyền chặt chẽ, đúng luật, là một nhu cầu cấp thiết.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là hình thức pháp lý thực hiện hoạt
động nhượng quyền thương mại, là căn cứ pháp luật quan trọng nhất và cũng
là căn cứ hợp tác kinh doanh của hai bên, đó là cơ sở làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ các bên đồng thời là căn cứ giải quyết tranh chấp giữa các bên. Mặt
khác đó cũng là cơ sở để nhà nước có thể quản lý hoạt động nhượng quyền
2
trên lãnh thổ Việt Nam, có thể nói hợp đồng nhượng quyền thương mại đóng
vai trò rất quan trọng trong quan hệ nhượng quyên giữa các chủ thể. Chính vì
phương pháp khác không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học pháp lý như
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương
pháp liệt kê… các phương pháp này được sử dụng đan xen lẫn nhau để có thể
xem xét một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng
nhượng quyền thương mại.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của
luận văn gồm:
Ch
Chng m
Nam
Ch
4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƢỢNG
QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại
1.1.1. Lịch sử phát triển của nhƣợng quyền thƣơng mại
Dù Việt Nam mới biết đến NQTM cách đây hơn 20 năm, nhưng khái
niệm này đã trở lên phổ biến và có lịch sử phát triển khá lâu đời trên thế giới.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh
nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu. Tuy nhiên,
nhượng quyền thương mại được chính thức thừa nhận khởi nguồn, phát triển
là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà Nhà máy Singer (sản xuất máy
khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác của
những ưu điểm vượt trội, NQTM trở thành một phương thức kinh doanh
mang lại hiệu quả cao và tạo thành làn sóng kinh doanh mạnh mẽ trên toàn
thế giới.
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ
trợ và quảng bá hoạt động nhượng quyền đã được thành lập. Điển hình là Hội
đồng nhượng quyền Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm
1994, có thành viên là các hiệp hội nhượng quyền của nhiều quốc gia. Ngoài
ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế
(International Franchise Association) được thành lập năm 1960 có khoảng
30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua, nhượng quyền.
Khái niệm NQTM mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay có
khoảng hơn 200 hệ thống nhượng quyền nhưng hoạt động này đã từng bước
6
khẳng định vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam [5]. Giờ
đây người tiêu dùng đã quen thuộc với các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới
như KFC, Dimal, Qualitea,… cho đến nay một số thương nhân Việt Nam đã
kinh doanh khá thành công theo mô hình này ( điển hình là cà phê Trung
Nguyên, Phở 24 và Bakerry Kinh Đô), và các doanh nghiệp có tiềm năng
khác cũng đang khẩn trương chuẩn bị để chuyển nhượng quyền thương mại.
Khái niệm này cũng đã được các trường đại học về kinh tế đưa vào giảng dạy
chính thức, nhiều buổi hội thảo do các doanh nghiệp kinh doanh nhượng
quyền đã được tổ chứ hàng năm, mới đây nhất là hội chợ triển lãm về
frachise tổ chức bởi Văn phòng đại diện Cục Xúc tiến thương mại (Viettrade)
tại thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề: "Nhượng quyền thương mại - Xu
hướng phát triển mới, cơ hội và tiềm năng" ngày 11/05/2012, Hội thảo
"nhượng quyền thương mại - Bài học từ người trong cuộc" do Báo Doanh
nhân Sài Gòn tổ chức ngày 28/06/2012; … nhằm trao đổi kinh nghiệm giữa
các thương nhân. Mặt khác theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay Việt
Nam đã gia nhập WTO thì NQTM sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bùng nổ,
công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, tên thương
mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bí quyết hoặc sáng chế
sẽ được khai thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng
cuối cùng". [2] Như vậy có thể hiểu cách tiếp cận của Liên minh Châu Âu là
việc nhấn mạnh quyền của bên nhận quyền khi sử dụng tập hợp các quyền sở
hữu trí tuệ.
Định nghĩa của Australia là định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài ra
việc chỉ ra các đặc điểm đặc trưng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ
8
ra được một quy trình khá chi tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM. Định
nghĩa đó như sau: “NQTM là thoả thuận một bên (bên nhượng quyền) cấp cho
bên khác (bên nhận quyền) thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng,
cung cấp hoặc phân phối hàng hoá hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia
theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định kiểm soát
hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh
doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu
tượng thương mại của bên nhượng quyền. Trước khi bắt đầu kinh doanh và
trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng
quyền một khoản chi phí NQTM" [2].
Đối với Việt Nam khái niệm nhượng quyền thương mại lần đầu tiên
được đề cập đến trong pháp luật tại Điều 284 Luật thương mại 2005, theo
quan điểm các nhà làm luật thì: "NQTM là hoạt động thương mại theo đó bên
nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:
1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng
hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng
kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền.
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, bí quyết kỹ thuật…),
quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành với phương thức quản lý, tiếp thị,
10
đào tạo của bên nhượng quyền. Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, nội
dung cốt lõi chính là việc bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử
dụng quyền thương mại của mình trong kinh doanh.
Thứ ba, là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhượng quyền và bên
nhận quyền. Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành mô hình NQTM,
phải khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạng lưới NQTM. Bên nhận
quyền dùng nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền
để sản xuất, phân phối hàng hoá và cung ứng dịch vụ, đồng thời còn nhận
được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật, đào tạo của bên nhượng quyền trong quá
trình kinh doanh theo hợp đồng NQTM. Chính vì vậy, bên nhượng quyền
luôn có quyền kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền để
đảm bảo tính đồng bộ cho toàn hệ thống nhượng quyền. Ngược lại, bên nhận
quyền khi tham gia vào mạnh lưới kinh doanh nhượng quyền sẽ phải trả cho
bên nhượng quyền các khoản tiền cho việc sử dụng đối tượng NQTM để kinh
doanh cũng như các khoản tiền cho các công việc đào tạo, hỗ trợ mà mình
nhận được. Đây là một đặc điểm giúp chúng ta tìm thấy sự khác biệt của
nhượng quyền thương mại với các hoạt động thương mại khác. Trong nhượng
quyền thương mại luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhượng
quyền và bên nhận quyền, nếu không có điều đó, thì đã thiếu đi một điều kiện
tiên quyết để xác định hoạt động đấy có phải là nhượng quyền thương mại
hay không. [4]
Thứ tư, NQTM là hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lưới thống
nhất. [3] Điều này thể hiện ở chỗ: thống nhất về hành động của bên nhượng
quyền và các bên nhận quyền nhằm duy trì hình ảnh đặc trưng và duy trì dịch
vụ đặc trưng, thứ hai là thống nhất về lợi ích của bên nhượng quyền và của
bên nhận quyền. Các bên tham gia vào hệ thống NQTM phải có cùng mục
Thứ hai, nhượng quyền phân phối: Đây là loại hình NQTM đơn giản
nhất, mà mối quan hệ giữa hai bên chủ thể (bên giao và bên nhận quyền) thực
chất là quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà phân phối. Theo đó bên nhận quyền
chỉ được thực hiện phân phối các sản phẩm cho bên giao quyền sản xuất, cung
cấp dưới thương hiệu của bên giao quyền mà không nhận được sự giúp đỡ, hỗ
trợ nào từ phía nhượng như các hình thức nhượng quyền kinh doanh khác. Có
chăng chỉ là việc bên nhận quyền được sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ thuộc
sở hữu của bên nhượng quyền như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, biển
hiệu cửa hàng để kinh doanh. Chính vì vậy, bên nhận quyền cũng tự do hơn
trong việc kinh doanh của mình, ít chịu sự kiểm tra, giám sát của bên nhượng
quyền trong quá trình kinh doanh. Hình thức nhượng quyền này được áp dụng
rộng rãi vào thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay vẫn còn phổ biến
ở các nước phương tây trong các lĩnh vực như kinh doanh trong các trạm
xăng, dầu, đại lý bán ô tô.
Thứ ba, nhượng quyền phương pháp kinh doanh (nhượng quyền kinh
doanh): đây là hình thức nhượng quyền phổ biến nhất hiện nay, nó là hình
thức kinh doanh hội tụ tất cả các đặc trưng của phương thức NQTM. Nhượng
quyền kinh doanh không đơn thuần là việc bên giao quyền cho phép bên nhận
quyền sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại và bí quyết kinh doanh của mình để
sản xuất và kinh doanh mà nó còn gồm cả việc chuyển giao kỹ thuật kinh
doanh và công thức điều hành quản lý. Bên nhận quyền được phép sử dụng tất
cả các quyền đối với đối tượng kinh doanh của bên nhượng quyền, đó là các
quyền đối với đối tượng kinh doanh của bên giao quyền, đó là các quyền đối
với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh để kinh doanh.
Trong hình thức này, bên nhượng quyền không thực hiện việc sản xuất và
cung cấp sản phẩm cho bên nhận quyền mà thay vào đó là chuyển giao bí
quyết kỹ thuật, các trang thiết bị, nguyên liệu đặc thù cho bên nhận quyền để
13
sản xuất, kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Không những
quyền. Tuy nhiên với những thương nhân kinh doanh NQTM thì những vấn
đề trên không còn là trở ngại, đây chính là lợi ích lớn nhất mà nên nhượng
quyền nhận được khi kinh doanh theo phương thức này.
Khi thực hiện NQTM bên nhượng quyền sẽ nhận được các khoản phí từ
bên nhận quyền, các khoản phí này bao gồm phí nhượng quyền ban đầu, phí
hàng tháng và các loại phí khác, đây là một nguồn thu rất lớn đối với bên
nhượng quyền, thương hiệu càng mạnh thì các khoản phí này càng cao. Như
vậy, ngoài doanh thu từ hoạt động kinh doanh của mình bên nhượng quyền
còn được hưởng một khoản tiền lớn mà chỉ khi kinh doanh NQTM mới có,
hay nói cách khác kinh doanh NQTM giúp bên nhượng quyền tăng doanh thu
của mình một cách đáng kể.
Lợi ích tiếp theo mà bên nhượng quyền nhận được chính là việc tiết
giảm các chi phí như quảng cáo, tiếp thị, các khoản chi mua nguyên liệu đặc
trưng. Đối với các nguyên liệu đặc thù bên nhận quyền phải mua với số lượng
lớn được phân phối cho cả hệ thống cửa hàng nhượng quyền từ phía nhượng
quyền, với số lượng lớn như vậy bên nhượng quyền sẽ mua được nguyên liệu
với giá thấp hơn so với giá thông thường của hàng hoá đó. Các chi phí về
quảng cáo, tiếp thị cũng được tiết giảm nhờ ưu thế chia nhỏ ra cho nhiều đơn
vị hàng cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí hàng hàng
của bên nhận quyền.
*) Đối với bên nhận quyền
Theo con số thống kê ở Mỹ, trung bình chỉ có khoảng 23% doanh nghiệp
nhỏ kinh doanh độc lập có thể tồn tại sau 5 năm kinh doanh, trong khí đó con
15
số này là 92% đối với các doanh nghiệp kinh doanh NQTM. Điều đó cho thấy
tỷ lệ thành công của mô hình kinh doanh này cao hơn nhiều so với các mô
hình khác. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi bên nhận quyền sản xuất, phân phối
hàng hoá và cung ứng dịch vụ dưới nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng
quyền - thường là những thương hiệu lớn và có sức cạnh tranh trên thị trường.
được thị trường kiểm chứng và có uy tín đối với người tiêu dùng trong một thời
gian nhất định, nên người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm vào chất lượng cũng
như đội ngũ phục vụ. Nhượng quyền thương mại sẽ cung cấp một hệ thống
nhất quán trong quá trình hoạt động, nhờ vậy mà người tiêu dùng sẽ được nhận
chất lượng và giá trị sử dụng đồng đều ở tất cả các điểm nhượng quyền.
Kinh doanh theo hình thức nhượng quyền sẽ khuyến khích việc đa dạng
hoá phục vụ các phân đoạn thị trường, vì vậy có thể đáp ứng tối đa nhu cầu
tiêu dùng của khách hàng tại những thị trường khác nhau. Ví dụ như đối với
sản phẩm thức ăn nhanh, một hãng thức ăn nhanh hoạt động ở những thị
trường của các quốc gia khác nhau thì có thay đổi một phần thực đơn của
mình để phù hợp với khẩu vị của khách hàng.
Sự mở rộng của hoạt động kinh doanh nhượng quyền đưa ra cho người
tiêu dùng khả năng lựa chọn lớn nhất, sự tin tưởng và sự thuận tiện. Người
tiêu dùng có thể lựa chọn cho mình những sản phẩm, những dịch vụ mang
đến cho họ những ích lợi tối đa nhất với sự tin tưởng tuỵêt đối về giá thành,
về chất lượng…
Bên cạnh đó người tiêu dùng được tiếp cận chất lượng đồng nhất của các
sản phẩm và dịch vụ của hệ thống. Một nhà hàng kinh doanh nhượng quyền
bao giờ cũng phải đặt chất lượng lên hàng đầu và tiêu chuẩn chất lượng đó
phải mang tính đồng bộ, thống nhất trên toàn hệ thống. Vì vậy khi tiêu dùng
17
sản phẩm người tiêu dùng có thể tiếp cận được với những sản phẩm, dịch vụ
đảm bảo chất lượng một cách đồng nhất, chất lượng cao của sản phẩm dịch vụ
làm giảm rủi ro và tính không ổn định cho người tiêu dùng.
Mặt khác người tiêu dùng sẽ có được phương thức mua hàng hoá và dịch
vụ có uy tín, thương hiệu đẳng cấp theo một cách dễ dàng và đáng tin cậy.
Không có gì tiện lợi bằng khi mà một người Việt Nam có thể thưởng thức
cùng một loại bánh McDonald's, loại gà ran KFC, loại trà Dilmahs… như hầu
hết mọi người ở Âu, Mỹ, Nhật, mà chất lượng, kiểu dáng, mùi vị không có
thiệt hại gây ra bởi những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do thiếu kinh nghiệm.
Mặt khác, NQTM sẽ làm cho các nền kinh tế trên thế giới xích lại gần
nhau hơn, từ đó có sự giao lưu giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới về
cả kinh tế, văn hoá, chính trị. Vì vậy có thể nói NQTM là một trong các
phương thức giúp thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu.
Với những ý nghĩa to lớn như vậy, NQTM đang là phương thức kinh
doanh được các doanh nghiệp tin tưởng và lựa chọn, không những thế nó
cũng là mô hình kinh doanh được các quốc gia trên thế giới đánh giá cao
trong việc đưa nền kinh tế phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới.
1.1.3. Phân biệt hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại với một số
phƣơng thức kinh doanh khác
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động chuyển giao công
nghệ và hoạt động li - xăng được hiểu như sau:
- Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở
hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thoả thuận phù hợp với các quy
định của pháp luật. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp
19
của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo… kèm
theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán
cho bên bán để tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều
kiện đã thoả thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Hoạt động li-xăng là hoạt động chuyển giao quyền sử dụng các đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
- Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và
bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng
hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách
hàng để hưởng thù lao.
1.1.3.1. Nhsence
tiền trả cho việc sử dụng tổng hợp mọi quyền SHTT được giao bởi bên
nhượng quyền.
Điểm khác biệt nữa là trong hợp đồng NQTM bên nhượng quyền cho
phép bên nhận quyền được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo
những cách thức của bên nhượng quyền để sản xuất, kinh doanh. Nhưng với
hợp đồng lisence bên nhận chuyển giao chỉ được quyền sử dụng các đối tượng
SHTT để tiến hành kinh doanh và không nhận được sự trợ giúp nào từ bên
chuyển giao lisence, nếu có thì cũng chỉ là sự hỗ trợ ban đầu khi chuyển giao
các đối tượng SHCN. [4]
1.3.1.2. Nh
Chuyển giao công nghệ là việc chuyên giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công
nghệ sang bên nhận công nghệ. Như vậy giữa NQTM và chuyển giao công
nghệ có đặc điểm chung chính là ở nội dung chuyển giao quy trình kỹ thuật
và bí quyết kinh doanh, vì thế giữa hai phương thức này nhiều khi vẫn có sự
nhầm lẫn. Tuy nhiên đây là hai hình thức kinh doanh khác nhau về bản chất.
Trước hết, về mặt tính chất của hoạt động, nếu như nhượng quyền
thương mại là phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua
việc cho phép một doanh nghiệp khác được sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy
tín, tên thương mại, công nghệ v.v… của bên nhượng quyền, thì chuyển giao
công nghệ lại chỉ đơn thuần là việc chuyển giao các công nghệ để ứng dụng
nó vào trong quá trình sản xuất. Khi tham gia quan hệ chuyển giao công nghệ,