Giải thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần JM - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ HUẾ

GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN JM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN Hoàng Thị Huế

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 5
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp 5
1.1.2. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp 10
1.1.3. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp khác chấm dứt hoạt động
của doanh nghiệp 13
1.2. Các hình thức giải thể doanh nghiệp 19
1.2.1. Hình thức giải thể tự nguyện 19
1.2.2. Hình thức giải thể bắt buộc 24
1.3. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp 33
1.3.1. Quyết định giải thể doanh nghiệp 33
1.3.2. Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp 35

39
Hình vẽ, đồ thị
Hình 2.1

37

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chủ thể chủ yếu của nền kinh tế thị trường chính là các doanh nghiệp. Bởi
vậy, nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp trong đời sống kinh tế - xã
hội là cần thiết. Do đó, nhu cầu hiểu biết pháp luật doanh nghiệp càng trở nên thiết
yếu.
Cũng giống như các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội, doanh nghiệp
có “đời sống” riêng của nó. Doanh nghiệp ra đời, phát triển, thay đổi và cũng có thể
sẽ mất đi ở một thời điểm nhất định. Các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có thể
phải trải qua các giai đoạn giống nhau của một vòng đời, mặc dù thời gian của các
giai đoạn này có thể dài ngắn khác nhau. Hiểu biết pháp luật doanh nghiệp không
chỉ bó hẹp trong phạm vi lúc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động mà phải là hiểu biết
toàn diện bao gồm về thời kỳ chấm dứt số phận pháp lý doanh nghiệp bằng thủ tục
giải thể, phá sản…
Doanh nghiệp có thể chấm dứt sự tồn tại dưới nhiều cách thức trong đó chủ
yếu là hai hình thức giải thể hoặc phá sản. Giải thể doanh nghiệp được coi là việc
“khai tử‟ doanh nghiệp.
Khi một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng buộc phải giải thể làm nảy sinh
nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết. Chẳng những quan hệ giữa các

nghiệp. Xác định vấn đề “giải thể doanh nghiệp” là vấn đề trung tâm của luận văn,
cần đào sâu tìm hiểu một cách đúng đắn và toàn diện.
- Nghiên cứu các vấn đề pháp lý đặc thù của giải thể doanh nghiệp, trong đó
tập trung vào vấn đề mang tính bản chất của giải thể doanh nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật giải thể tại công
ty cổ phần JM.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giải thể
doanh nghiệp.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, pháp luật về doanh nghiệp đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu cũng như sách, tạp chí chuyên ngành như: Giáo trình Luật thương mại - Đại
học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật kinh tế - Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội;

3

“Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải” của nhóm tác giả Lê Tài Triển (chủ biên)
Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân; “Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam” -
Luận án tiến sĩ luật học của Ngô Huy Cương;…. Tương tự pháp luật về chấm dứt
hoạt động mà cụ thể là giải thể doanh nghiệp không ít như: Một số ý kiến về giải thể
phá sản doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn của Phạm Quý Ty,
Những quy định về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước,….Tuy vậy, chưa
có một đề tài nào, đi sâu phân tích thực tiễn thi hành pháp luật giải thể trong trường
hợp cụ thể này.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Chế định pháp luật về doanh nghiệp là một chế định rộng, liên quan đến
nhiều yếu tố pháp lý lẫn thực tiễn như: các loại hình doanh nghiệp, các học thuyết
pháp lý về bản chất doanh nghiệp, thành lập, hoạt động., giải thể hoặc phá sản
doanh nghiệp.…Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả không nghiên cứu
toàn bộ quy định này mà chỉ tập trung vào giai đoạn chấm dứt hoạt động doanh
nghiệp cụ thể là “giải thể doanh nghiệp” để làm rõ các vấn đề có tính bản chất cần

diện hơn, làm cơ sở lý luận cho việc thi hành, áp dụng pháp luật giải thể doanh
nghiệp. Những phân tích và kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam đảm
bảo thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục luận văn được chia làm hai (02) chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải thể doanh nghiệp
Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về giải thể doanh nghiệp tại công ty
cổ phần JM 5

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho mọi
người cùng tham gia phát triển kinh tế của nhà nước, nhiều chủ thể kinh doanh đã
tham gia thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần của
nước ta. Trong đó, nhóm các chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là các doanh
nghiệp. Tùy cách tiếp cận, khái niêm doanh nghiệp cũng được nhìn nhận khác nhau.
Nhìn từ góc độ kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập
nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề chính. Nó
chỉ mang tính chất như một vỏ bọc hình thức để hợp pháp hoá các giao dịch, chi phí
và hoạt động kinh doanh của các thành viên công ty. Người ta xem doanh nghiệp
như một cái áo khoác pháp lý để thực hiện ý tưởng kinh doanh [9, tr. 250].
Nhìn từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật, được tạo nên
bởi một sự kiện pháp lý, có nghề nghiệp kinh doanh và hoạt động với tư cách một
chủ thể độc lập. Thuật ngữ “doanh nghiệp” được dùng để chỉ một chủ thể kinh tế

trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương
ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty”. Có thể thấy ở giai đoạn này, luật
công ty của Việt Nam chỉ nhìn nhận hai loại hình chủ yếu được gọi là công ty đó là
công ty TNHH và công ty cổ phần, trong khi hợp danh là một loại hình công ty đã
tồn tại lâu đời và được ghi nhận ở hầu khắp các quốc gia lại chưa được đề cập đến.
Đây có thể xem là một điểm thiếu sót của các nhà làm luật, dẫn đến khái niệm về
doanh nghiệp bị bó hẹp trong phạm vi các loại hình doanh nghiệp.
Đến Luật doanh nghiệp 2005, mới có cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh” [10, Điều 4]. Định nghĩa này cho thấy chỉ những
chủ thể kinh doanh thoả mãn những điều kiện trên mới có tư cách doanh nghiệp.

7

Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các
văn bản pháp luật khác nhau, và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế.
Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu
chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực
kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu. Thậm chí, lợi nhuận không được
coi là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước. Trong phạm vi đề tài luận văn,
tác giả tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là mô hình
công ty.
1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp
Từ khái niệm doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 4 Luật doanh nghiệp
2005, có thể thấy doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng. Theo đó, doanh
nghiệp trước hết phải là tổ chức kinh tế. Tổ chức kinh tế là một tổ chức được thành
lập ra bởi một người hoặc trên cơ sở liên kết, liên minh của hai hay nhiều người, tổ

kinh doanh các thương nhân cần phải có nhiều vốn, tài sản. Để đáp ứng nhu cầu về
vốn, tài sản cho kinh doanh, buộc các thương nhân phải liên kết với nhau. Mặt khác,
khi sản xuất hàng hóa càng phát triển thì sự cạnh tranh càng khốc liệt hơn, những
doanh nghiệp có vốn ít thường ở vị trí bất lợi. Như vậy, tài sản chính là một trong
những động lực để các thương nhân liên kết với nhau cùng tạo lập doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp có thể được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể là tài
sản trở thành vốn góp kinh doanh, cũng có thể là tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm
quản lý, tổ chức kinh doanh, Tài sản này là cơ sở, nguồn lực để doanh nghiệp hiện
thực hóa, tổ chức việc kinh doanh trong thực tiễn. Khi tiến hành kinh doanh, các
thương nhân sẽ đưa vào một số tài sản, vốn nhất định vào trong quá trình sản xuất.
Một số ngành nghề, lĩnh vực nhất đinh đòi hỏi doanh nghiệp có một lượng tài sản
nhất định để có thể kinh doanh.
Thứ ba, doanh nghiệp có trụ sở giao dịch ổn định. Khoản 1 Điều 35 Luật
Doanh nghiệp 2005 quy định: Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc,
giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác
định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax

9

và thư điện tử (nếu có). Để thực hiện được việc liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp
thì địa chỉ của trụ sở chính phải có tên trên bản đồ hành chính việt Nam, ở trên lãnh
thổ Việt Nam. Trụ sở của doanh nghiệp là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh
nghiệp, nơi tiến hành hoạt động kinh doanh, nơi doanh nghiệp giao dịch với các bên
có liên quan và để xác định các mối quan hệ với cơ quan Nhà nước.
Ngoài ra, trụ sở doanh nghiệp cũng là nơi để các cơ quan quản lý thực hiện
chức năng kiểm tra, giám sát. Thông qua việc kiểm tra, giám sát hoạt động của
doanh nghiệp tại trụ sở, các cơ quan quản lý sẽ biết được thực tế hoạt động của
doanh nghiệp. Tuy vậy, đặc điểm về trụ sở giao dịch cố định, hiện nay không phải
là đặc điểm phổ biến của doanh nghiệp, khi các loại hình, mô hình doanh nghiệp

triển, ổn định, mở rộng, suy thoái và cuối cùng là tan rã. Trong đó, “tan rã” là giai
đoạn mà việc kinh doanh không thể tiếp tục thực hiện, đã đi đến thoái trào, buộc
chủ thể doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Đây chính là thời
điểm “chấm dứt” sự tồn tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không thể thích ứng
được với các yêu cầu của thị trường hoặc khi các chủ doanh nghiệp không có nhu
cầu tiếp tục kinh doanh. Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường
là một vấn đề quan trọng thể hiện những nội dung pháp lý cơ bản của doanh nghiệp.
Trong khoa học pháp lý, việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp thông thường
được thực hiện dưới nhiều cách thức khác nhau và giải thể doanh nghiệp là một
cách thức như vậy.
Theo từ điển tiếng Việt, giải thể có nghĩa là không còn hoặc làm cho không
còn đủ điều kiện tồn tại như một tổ chức nữa, các thành viên phân tán đi. Theo đó,
giải thể doanh nghiệp có nghĩa là doanh nghiệp không còn hoặc bị làm cho không
còn đủ điều kiện tồn tại, các thành viên trong doanh nghiệp phân tán đi, không còn
liên kết với nhau nữa. Xuất phát từ đặc điểm doanh nghiệp được tạo nên chủ yếu
bởi sự liên kết thì ngược lại giải thể doanh nghiệp chính là việc làm mất, phá vỡ sự
liên kết này. Giải thể doanh nghiệp là một cách “khai tử” cho doanh nghiệp. Việc
chủ sở hữu doanh nghiệp không muốn tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh nữa
có thể bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau như tỷ suất lợi nhuận không cao, mâu
thuẫn nội bộ doanh nghiệp, triển vọng kinh tế trong lĩnh vực ngành nghề kinh doanh

11

của doanh nghiệp không có nhiều hứa hẹn trong tương lai. Trong trường hợp này
chủ sở hữu doanh nghiệp có thể đi đến quyết định giải thể để thu hồi vốn hoặc
chuyển sang kinh doanh những loại hình doanh nghiệp khác, kinh doanh với những
chủ thể khác. Đây hoàn toàn là quyết định mang tính cá nhân của các chủ sở hữu
doanh nghiệp (giải thể tự nguyện). Bên cạnh đó, cũng có trường hợp doanh nghiệp
buộc phải giải thể theo một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền (giải thể bắt buộc).

rơi vào một trong các trường hợp pháp luật quy định, cơ quan Nhà nước sẽ yêu cầu
chủ sở hữu doanh nghiệp phải ra quyết định giải thể. Như vậy, việc chấm dứt sự tồn
tại của doanh nghiệp là phụ thuộc vào ý chí của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thông qua việc yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp thực hiện thủ tục giải thể.
Như vậy, xét về bản chất, giải thể doanh nghiệp chính là hợp đồng cộng
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương trước pháp luật và nhà nước, phụ thuộc vào
ý chí của bản thân doanh nghiệp hoặc ý chí của cơ quan có thẩm quyền.
1.1.2.3 Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
Như đã phân tích ở trên, giải thể doanh nghiệp, xét về bản chất là hành vi
pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng cộng đồng. Do vậy, nó mang đầy đủ đặc điểm
của hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đồng cộng đồng mang tính tổ chức. Thủ
tục giải thể là một thủ tục mang tính chất hành chính nhằm chấm dứt hoạt động (tư
cách pháp nhân) của một doanh nghiệp. Giải thể trước hết là công việc nội bộ của
doanh nghiệp, nhưng để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, các cổ đông hoặc thành
viên của công ty mà nhà nước phải quy định và can thiệp vào các quyết định giải
thể của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Việc giải thể có thể do những nguyên nhân
khách quan hoặc chủ quan về cơ bản thuộc quyền tự do của các chủ doanh nghiệp.
Giải thể doanh nghiệp mang những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, nguyên nhân dẫn đến giải thể doanh nghiệp rất đa dạng song về cơ
bản những nguyên nhân này phụ thuộc ý chí chủ quan của chủ doanh nghiệp. Các
nguyên nhân này được thể hiện thông qua quy định về các trường hợp doanh nghiệp
giải thể.
Thứ hai, điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh
nghiệp: một doanh nghiệp chỉ được phép giải thể khi doanh nghiệp đó bảo đảm và

13

thực sự thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý hết mọi hợp đồng đã ký kết. Điều
này có nghĩa là, doanh nghiệp giải thể trước khi tiến hành chấm dứt sự tồn tại của
mình trên thị trường phải hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính, khoản nợ mà bên này

mà việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp là sẽ có lợi hơn. Giải thể doanh
nghiệp cũng có thể xuất phát từ ý chí của cơ quan quản lý nhà nước theo yêu cầu
quản lý nhà nước khi mà doanh nghiệp không còn đủ điều kiện tồn tại hay có vi
phạm pháp luật. Trong khi đó, phá sản doanh nghiệp chỉ một lý do duy nhất là khi
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đó là khi doanh nghiệp không có khả năng
thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.
Thứ hai, khác nhau về chủ thể quyết định áp dụng thủ tục. Giải thể doanh
nghiệp về cơ bản là theo quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp rơi vào các trường hợp giải thể thì chủ sở hữu doanh nghiệp trực tiếp hoặc
thông qua cơ quan đại diện của doanh nghiệp ra quyết định giải thể. Trên cơ sở
quyết định giải thể này doanh nghiệp sẽ tiến hành các thủ tục để giải thể. Đối với
hình thức giải thể bắt buộc theo ý chí của nhà nước thì sau đó doanh nghiệp vẫn là
chủ thể ra quyết định giải thể và tiến hành thủ tục giải thể. Trong khi đối với phá
sản doanh nghiệp thì chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định
tuyên bố phá sản và tiến hành các thủ tục phá sản.
Thứ ba, khác nhau về trình tự thủ tục thực hiện. Giải thể doanh nghiệp là thủ
tục mang tính hành chính, chủ yếu do cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện. Đối
với phá sản doanh nghiệp là áp dụng theo trình tự, thủ thục tư pháp, chủ yếu do Tòa
án thực hiện.
Thứ tư, khác nhau về điều kiện tiến hành. Doanh nghiệp chỉ được tiến hành
giải thể khi đã thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp. Trong khi đó, đối với
phá sản, doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục phá sản mất khả năng thanh toán nợ. Cụ
thể, khi doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp
phải được thanh toán đầy đủ. Trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản, Tòa án có
thể áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh, khi thủ tục phục hồi kinh doanh không
hiệu quả Tòa án ra quyết định thanh lý tài sản và quyết định tuyên bố doanh nghiệp
bị phá sản. Do mất khả năng năng toán nợ nên các khoản nợ chỉ được thanh toán

15

16

1.1.3.2 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp tổ chức lại doanh
nghiệp
Trước tiên, cần phải xác định các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp như
sau:
Chia doanh nghiệp, là trường hợp một doanh nghiệp (công ty TNHH hoặc
công ty cổ phần) được chia thành một số doanh nghiệp cùng loại. Khi chia doanh
nghiệp, công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được đăng ký kinh
doanh. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa
thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc
thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số các công ty
đó thực hiện các nghĩa vụ này.
Tách doanh nghiệp, là trường hợp một doanh nghiệp (công ty trách nhiệm
hữu hạn hoặc công ty cổ phần) thành lập một hoặc một số doanh nghiệp mới cùng
loại (bằng cách chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp hiện có hoặc chuyển một
phần quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị tách sang doanh nghiệp được tách).
Khi tách doanh nghiệp thì một hoặc một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng
không chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp bị tách. Doanh nghiệp bị tách và doanh
nghiệp được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh
toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị tách.
Hợp nhất doanh nghiệp, là trường hợp hai hoặc một số doanh nghiệp (công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) cùng loại hợp nhất
thành một doanh nghiệp mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp hợp nhất. Khi hợp nhất doanh nghiệp thì một
doanh nghiệp mới được thành lập, đồng thời chấm dứt tồn tại của các doanh nghiệp
bị hợp nhất. Doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp,
chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị hợp nhất.
Sáp nhập doanh nghiệp, là trường hợp một hoặc một số doanh nghiệp (công

Thứ hai, khác nhau về nguyên nhân quyết định. Nguyên nhân của giải thể
doanh nghiệp có thể là xuất phát từ ý chí chủ quan của chủ sở hữu doanh nghiệp khi
mà mục đích của doanh nghiệp không đạt được và cũng có thể xuất pháp từ ý chí

18

của nhà nước khi mà điều kiện tồn tại của doanh nghiệp không còn hoặc do doanh
nghiệp có sự vi phạm pháp luật. Trong khi việc tổ chức lại doanh nghiệp chỉ có thể
xuất phát từ nguyên nhân duy nhất là do ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp. Nhà
nước với vai trò quản lý không thể can thiệp vào để buộc doanh nghiệp phải tổ chức
lại mà nó phụ thuộc hoàn toàn vào chính doanh nghiệp.
Thứ ba, khác nhau ở mục đích khi tiến hành thủ tục. Đối với giải thể doanh
nghiệp mục đích nhằm chấm dứt hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp do việc
kinh doanh không đạt mục đích hay do hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Việc
chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ có lợi hơn đối với những chủ sở hữu của
doanh nghiệp. Đối với tổ chức lại doanh nghiệp, mục đích là nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp hoặc chuyển đổi cơ cấu quản lý
của doanh nghiệp nhưng không làm chấm dứt sự tồn tại các quyền và nghĩa vụ của
doanh nghiệp.
Thứ tư, khác nhau ở thời điểm hoàn thành thủ tục. Đối với giải thể doanh
nghiệp thì thủ tục giải thể được xem là hoàn thành khi mà cơ quan đăng ký kinh
doanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh. Khi đó các quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp xem như chấm dứt. Đối với tổ chức lại doanh nghiệp, có
thể doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh như khi chuyển đổi,
hợp nhất, chia doanh nghiệp nhưng không thể xem đây là thời điểm hoàn thành thủ
tục. Thủ tục chỉ được hoàn thành khi doanh nghiệp mới được thành lập (được ghi
nhận trong sổ đăng ký kinh doanh).
Thứ năm, khác nhau ở hậu quả pháp lý. Đối với giải thể doanh nghiệp, sau
khi hoàn thành thủ tục thì doanh nghiệp được xem là giải thể nghĩa là chấm dứt sự
tồn tại của doanh nghiệp, các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp không được kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status