Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
PHẦN MỘT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm trở lại đây, xã hội nước ta ngày càng phát triển
kéo theo những quan hệ xã hội nảy sinh và ngày càng phức tạp. Đó cũng là
một trong những nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp, các mâu thuẫn, các
sự việc xảy ra trong xã hội gia tăng dẫn đến vi phạm pháp luật ngày càng
phổ biến. Trong đó phải kể đến các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự. Sự
phức tạp của các vụ án dân sự thể hiện ở chỗ các tranh chấp dân sự không
chỉ đơn thuần trong một lĩnh vực nhất định mà ở trong các lĩnh vực khác
nhau như tranh chấp về kinh doanh, thương mại; tranh chấp về lao động;
tranh chấp về đất đai; tranh chấp về hôn nhân gia đình,…đã gây ra không ít
khó khăn, vướng mắc cho cơ quan có chức năng trong quá trình giải quyết.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, sau Hiến pháp 1992, Bộ luật
dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 ra đời đã góp phần giải quyết những
vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự trong
những năm gần đây. Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định rõ thẩm quyền,
cách thức giải quyết các vụ án dân sự thuộc tất cả các lĩnh vực dân sự khác
nhau, khắc phục được một phần lớn những vướng mắc đã gặp phải khi giải
quyết các vụ án dân sự.
Như đã đề cập ở trên, các vụ án dân sự ngày càng có chiều hướng
gia tăng, chính vì vậy cần phải áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án
này. Một trong những giai đoạn giải quyết đó thì giai đoạn xét xử là giai
đoạn rất quan trọng trong thủ tục giả quyết án dân sự. Giải quyết đúng pháp
luật là đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự. Trong hoạt
động tư pháp thì Tòa án giữ vai trò trung tâm và là cơ quan duy nhất có
quyền nhân danh Nhà nước tiến hành xét xử các vụ án nói chung và sơ
thẩm các vụ án dân sự theo pháp luật nói riêng. Trong những năm qua việc
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
1
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
2
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Nghiên cứu lý luận về giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo
pháp luật Việt Nam.
+Xem xét và đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án dân sự tại Tòa án
nhân dân huyện Nghĩa Đàn.
+ Tìm ra những vướng mắc và bất cập trong quá trình vận dụng pháp
luật vào thực tiễn xét xử để từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao
chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân huyện
Nghĩa Đàn nói riêng, đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp của nước nhà.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được những mục đích nêu trên, khóa luận cần phải thực
hiện một số nhiệm vụ sau:
+ Đưa ra khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, nêu đặc
diểm, nội dung và các giai đoạn khác nhau của cả quá trình xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự theo pháp luật hiện hành.
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động
xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự theo pháp luật của Tòa án nhân dân huyện
Nghĩa Đàn và chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của hạn
chế nêu trên.
+ Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ
án dân sự đối với Tòa án nói chung và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn
nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu:
+ Là việc xét xử các vụ án dân sự theo pháp luật và thực tiễn xét xử
của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
4
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
các vụ án dân sự theo pháp luật tại các Tòa án nói chung và Tòa án nhân
dân huyện Nghĩa Đàn nói riêng.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khóa
luận gồm 2 chương.
Chương 1: Pháp luật Việt Nam về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 2: Thực tiễn xét xư sơ thẩm vụ án dân sự tại TAND huyện
Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2011.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
5
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
PHẦN HAI
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vụ án dân sự.
Vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có tranh chấp và yêu
cầu Tòa án là có căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác.
Vụ án dân sự có những đặc điểm sau đây:
Một là, chỉ là vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu
được giải quyết. Nghĩa là, khi các bên phát sinh tranh chấp sau đó gửi đơn
lên Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ xem xét đơn kiện đó và chỉ
khi Tòa án thụ lý thì tranh chấp đó mới được coi là một vụ án dân sự.
Hai là, khi có tranh chấp xảy ra mà các bên không thể tự thỏa thuận
được và đều có mong muốn khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi ích
hiện hành.
1.2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
1.2.1.1. Khởi kiện vụ án dân sự.
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các
chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu
Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của
người khác.
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam,
tại chương V đã quy định rằng: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội
được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
7
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
pháp và luật” [1]. Trong các quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận,
quyền dân sự của công dân có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, công dân
được phép xử sự theo một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác
thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình. Quyền
năng này được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Sử dụng quyền
dân sự, cá nhân và các chủ thể khác được thực hiện quyền tự do kinh doanh
và các hoạt động hợp pháp khác làm ra của cải, tài sản và các thu nhập hợp
pháp khác để đáp ứng tốt hơn các lợi ích vật chất và văn hóa tinh thần ngày
càng cao của mỗi người. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bảo hộ quyền dân sự chính đáng ấy. Vì vậy, BLDS 2005 chính thức ghi
nhận quyền này và cho phép cá nhân và các chủ thể khác được chủ động
thực hiện biện pháp để tự bảo vệ mình. Để bảo hộ cho các quyền dân sự
của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách bảo vệ khác
nhau như bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, bảo vệ bằng biện pháp hành
chính... Đặc biệt hơn trong số các biện pháp bảo vệ quyền dân sự là biện
pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự. Thực hiện phương
pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Không có hoạt
động khởi kiện thì cũng không có quá trình tố tụng dân sự cho các giai
đoạn tiếp theo. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn khởi
kiện của các chủ thể. Đặc trưng của phương thức khởi kiện là trao cho
đương sự quyền tự do hành động cùng với quyền tự định đoạt của các chủ
thể khởi kiện làm cơ sở tố tụng. Theo đó, khởi kiện là phương thức để các
chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền dân sự của
mình tránh nguy cơ xâm phạm xảy ra, như khởi kiện đòi lại tài sản... Với
hành vi khởi kiện kịp thời như vậy, các cơ quan tố tụng sẽ có hành động
can thiệp kịp thời, các quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ, thiệt hại sớm
được khắc phục, ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi
phục lại mối quan hệ thiện chí, cởi mở giao hòa giữa các bên trong đời
sống dân sự.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
9
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
• Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự
Một là, về chủ thể khởi kiện.
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp
luật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Các chủ thể này
bao gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do
pháp luật quy định.
Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có
quyền lợi cần phải được bảo vệ thì họ không thể tự mình khởi kiện vụ án
được mà phải do người đại diện thay mặt để thực hiện việc khởi kiện vụ án.
Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự thì pháp luật cũng đòi hỏi cá
nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt
trong tố tụng dân sự, nó không cho phép người không phải là chủ thể của
quan hệ pháp luật lợi dụng quyền khởi kiện để rồi lại xâm phạm đến quyền,
quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân không bị xâm phạm vừa bảo
đảm giải quyết vụ án dân sự được thuận lợi. Vì vậy, việc khởi kiện vụ án
phải được tiến hành trong thời hiệu khởi kiện. Việc xác định đúng thời hiệu khởi
kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án.
Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất
cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng
không ít đến quyền lợi của đương sự.
Điều 159 BLTTDS quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ
thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất
quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, thời
hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan Tòa
án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị
xâm phạm. Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức
được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện tuỳ hứng.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
11
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu
khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự
là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Như vậy, để
xác định đúng thời hiệu khởi kiện, phải xác định được quan hệ tranh chấp
đó có được văn bản pháp luật nào khác quy định về thời hiệu khởi kiện hay
không. Điều quan trọng thứ hai là phải xác định đúng ngày nào được coi là
ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để bắt đầu tính thời hiệu khởi
kiện.Tuy nhiên việc xác định thời hiệu khởi kiện của một vụ án trên thực tế
không phải dễ dàng. Mỗi vụ án thuộc những lĩnh vực khác nhau lại mang
những đặc thù riêng của thời hiệu khởi kiện vụ án. Chính vì vậy mà gặp rất
trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án qua bưu điện. Ngày khởi kiện
được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện
nơi gửi. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi
kiện, Toà án phải xem xét và quyết định vụ án có thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình hay không, vụ án còn thời hiệu khởi kiện hay không.
- Việc gửi đơn khởi kiện vụ án dân sự
Theo quy định tại Điều 166 BLTTDS, người khởi kiện vụ án gửi đơn
khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa
án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng phương thức nộp trực tiếp tại Tòa
án hoặc gửi đến Tòa án qua bưu điện.
Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án hoặc
ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
1.2.1.2. Thụ lý vụ án dân sự.
• Thứ nhất, khái niệm thụ lý vụ án dân sự
Thụ lý vụ án là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện
và vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết.
• Thời hạn thụ lý vụ án
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
13
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
- Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền
tạm ứng án phí, án phí thì Toà án phải thụ lý sau khi nhận được đơn khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (khoản 4 Điều 171 BLTTDS).
Việc thụ lý trong trường hợp này cũng không phải là ngay sau khi nhận
đơn và tài liệu, cũng không phải bắt buộc trong thời hạn 5 ngày theo quy
định tại khoản 1 Điều 167 BLTTDS. Vì nó còn phụ thuộc vào quy định tại
khoản 1 Điều 169 BLTTDS.
Như vậy, thời hạn tối đa trong trường hợp này là 35 ngày (5 ngày
của K1Đ167 + 30 ngày của K1Đ169). Nếu cần phải gia hạn thì thời hạn là
50 ngày.
Một là, nhận đơn khởi kiện.
Theo quy định tại điều 167 BLTTDS, Tòa án phải nhận đơn khởi
kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải
ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét tính hợp lệ của đơn khởi kiện để
có thể đưa ra quyết định có thụ lý hay là trả lại đơn khởi kiện cho người
khởi kiện.
Hai là, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.
Theo quy định tại điều 169 BLTTDS, trong trường hợp đơn khởi
kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS thì
Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong
một thời hạn do Tòa án ấn định nhưng không được quá 30 ngày; trong
trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày.
Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo
đúng quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật này thì Tòa án tiếp tục thụ
lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án
trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
15
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
Ba là, xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện.
Án phí là khoản phí mà đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người liên
quan) trong một vụ án phải đóng theo phán quyết của Tòa án (được ghi
trong bản án). Mức án phí như thế nào căn cứ theo qui định tại Pháp lệnh
án phí, lệ phí Tòa án và phụ thuộc vào việc Tòa có chấp nhận yêu cầu của
đương sự hay không.
Có các loại án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá
ngạch, không có giá ngạch, án phí dân sự phúc thẩm.
Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của
đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị
72 triệu đồng + 2% của phần giá
trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2
tỷ đồng
Trên 4 tỷ đồng
112 triệu đồng + 0,1% của phần
giá trị tài sản có tranh chấp vượt
quá 4 tỷ đồng.
[21]. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng, ghi vào phiếu báo và giao cho
người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí,
người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Về nơi đóng tạm ứng án phí
(và cả án phí) : đó là tại cơ quan thi hành án nơi Tòa án thụ lý giải quyết sơ
thẩm vụ án ( Hiện nay gọi là Chi cục thi hành án dân sự) . Tòa án sau khi
nhận đơn sẽ hướng dẫn và viết giấy giới thiệu để đương sự qua cơ quan thi
hành án đóng tạm ứng án phí.
• Vào sổ thụ lý vụ án dân sự
Khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí
thì Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án dân sự.
Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp
tiền tạm ứng án phí, án phí thì Tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn
khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
17
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
1.2.2. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
• Thời hạn chuẩn bị xét xử
Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án vào sổ thụ lý vụ
án đến ngày Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tùy theo tính
chất của từng loại vụ án mà thời hạn chuẩn bị xét xử được tính khác nhau.
vụ án dân sự.
b. “Trở ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan
tác động như: thiên tai, địch hoạ, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu…
làm cho Toà án không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định.
c. “Lý do chính đáng” quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTDS
được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước
được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có
tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử
được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều
lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến
hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử
hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà án khác đến… nên cản trở Toà
án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định. [7]
• Việc chuẩn bị xét xử
Từ khi thụ lý vụ án dân sự, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền
và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự. Nếu hòa giải
không thành, Tòa án phải củng cố hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra
xét xử ở tại phiên tòa. Các hoạt động này của Tòa án được gọi là chuẩn bị
xét xử. Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: phân
công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; quyết định
đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia
phiên tòa.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
19
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
• Phân công thẩm phán giải quyết vụ án
Thẩm phán là người có vai trò đặc biệt quan trọng trong phiên tòa,
chính vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án có thẩm quyền đã thụ
lý vụ án phải phân công một thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án. Việc
phân công này là cơ sở để thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ án đã được
ngày nữa. Người được thông báo có quyền thể hiện quan điểm của mình về
yêu cầu của người khởi kiện trước Tòa án là đồng ý hay bác bỏ yêu cẩu
này; có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện
và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối
với yêu cầu của người khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, theo
Điều 176 BLTTDS bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, vì
vậy có thể xem xét để giải quyết trong cùng một vụ án để sớm kết thúc việc
giải quyết tranh chấp. Việc Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nhằm đảm bảo cho việc giải
quyết các tranh chấp dân sự được nhanh chóng triệt để, tránh được việc Tòa
án phải mở phiên tòa riêng để giải quyết yêu cầu đó trong một vụ án khác.
• Lập hồ sơ vụ án dân sự
Để lập hồ sơ vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của người khởi
kiện, Tòa án xác định các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án yêu cầu
các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện cung cấp. Khi nhận được
các chứng cứ, tài liệu do các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp,
Tòa án phải đưa chúng vào hồ sơ vụ án. Thủ tục giao nhận các chứng cứ tài
liệu phải được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 84 BLTTDS. Các tài
liệu có trong vụ án dân sự phải được sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận
tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng và phải có danh mục ghi lại các tài liệu
trong hồ sơ vụ án.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
21
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu của mình.
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm
hoạt động của Tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng
trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ
hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên
cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh giá
chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có
đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc
cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không. Bốn giai đoạn
này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời
điểm nào đến thời điểm nào là giai đoạn cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay
đánh giá chứng cứ. Nhưng có thể nhận thấy rằng những giai đoạn này kéo
dài suyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, nó chỉ kết thúc khi Tòa án
ra phán quyết. Mặc dù có thể tòa án cấp dưới đã ra quyết định giải quyết vụ
án nhưng bản án này lại được giải quyết tiếp theo trình tự phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm thì lại phát sinh hoạt động chứng minh mới độc lập với
hoạt động chứng minh trước đây.
Tuy vậy, trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu
thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án và có yêu cầu thì Tòa án có thể
áp dụng các biện pháp thu thập cứng cứ do pháp luật quy định để đảm bảo
cho việc giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn. Việc thu thập chứng cứ
của Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều, từ Điều 85 đến Điều
94 BLTTDS, tòa án chỉ tham gia thu thập trong một số ít trường hợp như
như lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều
87 BLTTDS), đối chất khi thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các
đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 88 BLTTDS), định giá tài sản
trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
23
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án…
hoặc giảm mức đóng án phí (điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS ). Còn lại,
các biện pháp thu thập chứng cứ khác được quy định tại chương VII
BLTTDS – chứng cứ và chứng minh, đều thuộc về đương sự như: đương
sự có quyền được khai báo (Điều 86), yêu cầu lấy lời khai của người làm
trưởng viện kiểm sát sẽ xem xét quyết định.
• Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định
để tạm ngừng giải quyết vụ án dân sự thì Tòa án sẽ quyết định tạm ngừng
giải quyết vụ án dân sự - Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tòa án quyết định tạm ngừng
việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.
Đặc điểm việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là cơ quan tiến
hành tố tụng chỉ tạm thời cho ngừng việc giải quyết vụ án dân sự chứ
không phải cho ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự.Tính chất gián đoạn
tạm thời này sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục
khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa. Các căn cứ tạm đình
chỉ việc giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Điều 189 BLTTDS.
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án không phải là chấm dứt việc giải
quyết vụ án và đình chỉ tố tụng mà bản than quá trình giải quyết vụ án chỉ
tạm thời bị gián đoán trong một thời gian nhất định. Vì vây, sau khi có
quyết định tạm dình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án không xóa sổ thụ lý đói
với vụ án này mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số, ngày, tháng, năm của quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.
Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, pháp luật không quy
định cụ thể. Tuy nhiên sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án,
nếu thấy lý do hay căn cứ tạm đình chỉ không còn thì Tòa án lại tiếp tục
giải quyết vụ án.
Người thực hiện: Sv. Trần Thị Thùy Linh.
25