ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HIỀN TỐ TỤNG TRANH TỤNG VÀ VIỆC TIẾP THU NÓ TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - NĂM 2005 3
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN……………………………………………………………………….
MỤC LỤC……………………………………………………………………………….
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………
Tố tụng tranh tụng không mong đợi sự hợp tác của bị cáo
27
1.2.
Hệ tố tụng tranh tụng trên thế giới…………………
28
1.2.1.
Lịch sử hình thành và sự phát triển của hệ tranh tụng trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự…………………
28
1.2.2.
Một số mô hình tố tụng tranh tụng trên thế
giới………………
35
1.2.2.a.
Mô hình tố tụng tranh tụng ở Vương Quốc Anh………………
35
1.2.2.b.
Mô hình tố tụng tranh tụng ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ………
36
4
1.2.3.
Tố tụng tranh tụng dưới góc độ so sánh với tố tụng thẩm vấn
38
1.2.4.
Lý do sự phát triển của hệ tranh tụng…………………
42
1.2.5.
Tiếp thu tố tụng tranh tụng ở một số nước trên thế
giới………
69
2.2.
Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003
70
2.2.1
Pháp luật về tranh tụng
70
2.2.2.
Đánh giá chung về thực hiện tranh tụng
75
2.3.
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
80
2.3.1.
Những điểm mới về mở rộng tranh tụng trong Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003
80
2.3.2.
Đánh giá chung về thực hiện tranh tụng từ năm 2003 đến
nay
83
5
2.4.
Những vấn đề tồn tại về tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự ở Việt Nam hiện nay
84
Chương 3: SỰ CẦN THIẾT VÀ NỘI DUNG TIẾP THU CỦA TỐ TỤNG
TRANH TỤNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM Ở VIỆT NAM
TRƢỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trước yêu cầu đổi mới đất nước, cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan
trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Được Đảng và Nhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo,
ngày 02.01.2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 08/NQ-TW về "Một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới". Nghị quyết đã đưa
ra những quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp, trong đó nhấn mạnh việc mở rộng tranh tụng tại phiên toà "Nâng cao
chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân
chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ",
"Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm
sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và
những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng
pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định" và "các cơ
quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình
tố tụng: Tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ
tại phiên toà". Bộ luật tố tụng hình sự được thông qua ngày 18.11.2003 tại kỳ
họp thứ 4 Quốc hội khoá XI (có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2004) là một
bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình
sự nước ta. Bộ luật này đã được sửa đổi tương đối đồng bộ và toàn diện, phù
hợp với những đổi mới về kinh tế và pháp luật ở nước ta hiện nay nên về cơ
bản đã đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết
08/NQ-TW. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định đầy đủ và cụ thể
hơn về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà hình sự. Đây là
những cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà ở
7
nghĩa cả trên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu:
Trong thời gian qua, tình hình nghiên cứu về tranh tụng đã được đề cập
song đa số chỉ thể hiện trong các bài viết trên tạp chí pháp lý chuyên ngành.
Những bài viết này chỉ dừng lại ở một số khía cạnh, góc độ nhỏ lẻ, cá biệt.
Luận văn thạc sỹ luật học "Vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự"
năm 1996 của Nguyễn Đức Mai, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật;
luận văn thạc sỹ luật học "Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên toà hình sự sơ
thẩm" năm 2003 của Nguyễn Hải Ninh, Trường đại học luật Hà Nội; đề tài
nghiên cứu khoa học - Tranh tụng tại phiên toà - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn năm 2003 của Trường Đào tạo các chức danh tư pháp đều là những
nghiên cứu có ý nghĩa nhưng được đề cập trong điều kiện nhận thức chung
của chúng ta trước năm 2003, khi đó Bộ luật tố tụng hình sự chưa được sửa
đổi.
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về tranh tụng chưa nhiều và chưa có
sự phân tích từ lý luận đến thực tiễn để rút ra những nội dung cơ bản mà
chúng ta cần tiếp thu từ tố tụng tranh tụng trong công cuộc cải cách tư pháp.
Vì vậy, khi nghiên cứu luận văn, chúng tôi không tham vọng là nghiên
cứu tất cả những vấn đề của tố tụng tranh tụng mà chỉ đặt ra và giải quyết trên
phương diện lý luận và những cơ sở thực tiễn để nhận thấy một số nội dung
của tố tụng tranh tụng có thể được tiếp thu một cách hợp lý vào tố tụng thẩm
vấn của nước ta trước yêu cầu cải cách tư pháp.
3. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu, phạm vi của luận văn:
9
Cơ sở lý luận của luận văn này là: Chủ nghĩa Mác Lê nin - tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước, pháp luật tố tụng của một số
nước trên thế giới và Việt Nam.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp so sánh,
phân tích, tổng hợp, tư duy logic để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học
5. Cơ cấu của luận văn:
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong luận văn cao học với cơ cấu
gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo.
6. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn của luận văn:
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về " Tố tụng
tranh tụng và việc tiếp thu nó trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
ở Việt Nam".
Thông qua đó làm sáng tỏ những cơ sở lý luận trong quan điểm đúng
đắn của Đảng, Nhà nước ta trong việc mở rộng tranh tụng ở Việt Nam.
Dựa trên sự đánh giá thích hợp, phân tích một cách khoa học, luận văn
đã chỉ ra những tồn tại trong quy định về tranh tụng của pháp luật cũng như
việc áp dụng nó trong thực tế để từ đó đưa ra những nội dung phù hợp cần
tiếp thu từ mô hình tố tụng tranh tụng vào giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự ở Việt Nam để có những bước đi tiếp theo trên lĩnh vực tố tụng hình sự
trong công cuộc Cải cách tư pháp.
11
Chương 1
TỐ TỤNG TRANH TỤNG VÀ VIỆC TIẾP THU Ở
MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM TỐ TỤNG TRANH TỤNG.
1.1.1. Khái niệm tố tụng tranh tụng hình sự:
Tố tụng hình sự và các giai đoạn của nó được quy định trong pháp luật
tố tụng hình sự của mỗi nước. Ở Việt Nam, các giai đoạn của tố tụng hình sự
được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự, theo đó quá trình giải quyết vụ
án hình sự gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố , xét xử và thi hành án.
Khác với quan điểm của một số nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ cho
rằng tố tụng hình sự chỉ bao gồm có giai đoạn xét xử vụ án hình sự tại phiên
toà, quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng như Liên xô
phát hiện ra ai là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Sự buộc tội
trong tố tụng hình sự chỉ xuất hiện khi thoả mãn điều kiện là nhằm vào một
đối tượng cụ thể, không thể tồn tại sự buộc tội mà không xác định đối tượng.
Chỉ khi xuất hiện sự buộc tội của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với
một đối tượng là cá nhân cụ thể (ở một số nước có thể là pháp nhân) hoặc khi
có biện pháp áp dụng từ phía Nhà nước làm hạn chế quyền của chủ thể bị áp
dụng (ví dụ: bị tạm giữ), thì kể từ thời điểm này ở phía người bị buộc tội (bên
bị buộc tội) hoặc người bị áp dụng biện pháp hạn chế quyền mới xuất hiện sự
bào chữa để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chống lại sự
buộc tội hoặc hạn chế quyền đó. Như vậy, cuộc tranh tụng chỉ có thể bắt đầu
khi xuất hiện hai bên có quan điểm đối lập nhau trong tố tụng hình sự. Đó là
13
bên buộc tội và bên bào chữa với hai chức năng tương ứng là chức năng buộc
tội và chức năng gỡ tội.
Theo nghĩa đầy đủ thì tranh tụng chính là sự kiện cáo nhau. Đó là
“Tranh luận giữa hai bên có lập trường tương phản với nhau, yêu cầu Toà án
làm trọng tài phân xử” [24, tr.1238]. Như vậy, trong tố tụng hình sự, quá
trình tranh tụng được thể hiện tập trung, rõ nhất trong phiên xét xử vụ án và
gắn liền với chức năng tài phán. Tại phiên toà xét xử vụ án hình sự, dưới sự
điều khiển của Chủ toạ phiên toà, với sự tham gia đầy đủ của tất cả các chủ
thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa, hoạt động buộc tội, bào chữa và xét xử
được thực hiện. Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án là văn
bản pháp lý có giá trị bắt buộc kết thúc quá trình tranh tụng giữa các bên. Tuy
nhiên tuỳ thuộc vào phần quyết định của cấp có thẩm quyền về nội dung huỷ
án mà quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại ở các mức độ khác nhau.
Tranh luận được hiểu là “Bàn cãi để tìm ra lẽ phải” [25, tr.1024].
Tranh luận là một hoạt động có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không
xác định, việc kết thúc tranh luận phụ thuộc vào các chủ thể tham gia tranh
luận, khi lẽ phải được xác định [50, tr.9]. Cuộc tranh luận về vụ án hình sự có
nghĩa chung nhất thì nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng
chỉ đạo cơ bản có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt
và có ý nghĩa bao trùm, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật [8,
tr.245]. Nguyên tắc của tố tụng hình sự là những phương châm, những định
hướng chi phối và quyết định toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự hoặc một
số giai đoạn tố tụng hình sự và mang tính chất định hướng cho mọi hoạt động
và hành vi tố tụng [32, tr.375].
15
Theo các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ thì nguyên tắc
tranh tụng được coi là cơ sở của tố tụng hình sự; còn theo quan điểm Ba Lan
thì nó là nguyên tắc tổ chức và là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự; và
được xác định là nguyên tắc của tố tụng theo quan điểm của các nước thuộc
Liên Xô cũ và Đông Đức trước đây [46, tr.46]. Mặc dù được thừa nhận ở
nhiều góc độ khác nhau nhưng tranh tụng chính là phương tiện để đạt được
mục đích và nhiệm vụ đặt ra của tố tụng hình sự là nhằm giải quyết vụ án
hình sự khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật. Nó
bảo đảm cho các chủ thể có thể thực hiện có hiệu quả chức năng của mình
trong tố tụng hình sự, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử vụ án. Ta có thể thấy rõ,
không những tranh tụng thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo của tố tụng
hình sự mà còn là cơ sở để xác định địa vị tố tụng, vị trí, vai trò và chức
năng của các chủ thể tiến hành tố tụng cũng như các chủ thể tham gia tố tụng.
Như vậy nếu chỉ coi tranh tụng là một phương pháp nhằm thực hiện
mục đích xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự mà không coi
tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự là một thiếu sót. Việc khẳng
định tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự có ý nghĩa to lớn trong
việc bảo vệ các quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Chính vì
vậy, nguyên tắc tranh tụng đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu. Tại
Điều 10 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày
10.12.1948 ghi nhận: "Mọi người đều có quyền hoàn toàn ngang nhau được
vậy, đặc điểm, tính chất của tranh tụng chỉ có đủ trong phiên toà xét xử. Về
hình thức, tranh tụng tại phiên toà là hình thức tiến hành các hoạt động tố
tụng theo quy định pháp luật của bên buộc tội và bên bào chữa trước Toà án.
Về nội dung tranh tụng là quá trình chứng minh hoặc phủ nhận tính hợp pháp
của nội dung quyết định buộc tội. Tất cả mọi hoạt động của các chủ thể ở
17
phiên toà đều tập trung kiểm tra tính xác thực và hợp pháp của từng nội dung
trong cáo trạng truy tố. Trong tố tụng hình sự giai đoạn xét xử được coi là
giai đoạn trung tâm, và trong các cấp xét xử thì cấp sơ thẩm lại có vai trò
quan trọng nhất bởi vì toàn bộ vụ án và mọi vấn đề liên quan đến vụ án được
xem xét và quyết định tại giai đoạn này. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một
giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. Trong đó, “Toà án có thẩm quyền,
sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử
bằng phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người
có phải là người phạm tội để từ đó đưa ra phán quyết bằng bản án, quyết
định” [38, tr.310].
Việc xét xử vụ án hình sự có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
(xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái
thẩm…). Tuy nhiên đây không phải là các giai đoạn mà mỗi vụ án hình sự
đều phải trải qua một cách đầy đủ và đúng trình tự. Duy nhất chỉ có giai đoạn
xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với quá trình giải quyết các vụ án
hình sự.
Tại các phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có sự tham gia đầy đủ
nhất của tất cả các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa cũng như các chủ
thể khác tham gia vào quá trình tố tụng. Tại phiên xét xử này các chức năng tố
tụng cơ bản được phân định rạch ròi: Buộc tội, gỡ tội, và tài phán. Cũng chỉ tại
phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vai trò của bên buộc tội, bên bào chữa
được xác định là các bên có quyền ngang nhau trong việc sử dụng các phương
tiện mà pháp luật cho phép để thực hiện chức năng của mình khi tranh tụng
động và tích cực khi tham gia giải quyết vụ án hình sự. Là chủ thể chính trong
việc đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên các chứng cứ của các chủ thể khác
xuất trình tại phiên toà, ở một mức độ cần thiết Toà án phải tham gia vào quá
19
trình tranh tụng để góp phần làm rõ các chứng cứ và tình tiết về vụ án. Tuy
nhiên, Toà án không được để chủ thể nào bị động khi tham gia tranh tụng
bằng cách làm thay chức năng của họ và ngược lại không được để quá trình
tranh tụng diễn ra theo hướng một chiều theo ý chí chủ quan của bất kỳ chủ
thể tham gia phiên toà nào khác.
Tất cả những phân tích trên đây cho thấy: Chỉ có ở giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, nguyên tắc tranh tụng mới được thể hiện một cách đầy đủ
và toàn diện nhất.
1.1.2. Đặc điểm của tố tụng tranh tụng trong giải quyết vụ án hình sự:
Về bản chất, Tranh tụng trong tố tụng hình sự là một quá trình thể hiện
sự cọ sát các quan điểm lập luận của các bên có lợi ích đối lập nhau khi tham
gia vào quá trình tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án
[46, tr.20]. Tố tụng tranh tụng có những đặc điểm sau:
1.1.2.a. Sự tham gia tích cực và ngang quyền của bên buộc tội và bên
bào chữa trước Toà.
Tranh tụng bắt đầu khi có sự xuất hiện chức năng buộc tội và đối lập
với nó là chức năng gỡ tội. Bên buộc tội gồm: Công tố viên, người bị hại,
nguyên đơn dân sự và những người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. Bên bào chữa gồm: Người bị buộc tội, người bào chữa, bị
đơn dân sự và người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những người này. Trong suốt quá trình tranh tụng, bên buộc tội và bên
bào chữa liên tục trao đổi với nhau những lập luận, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. “Tố tụng tranh tụng dành một vị trí đặc biệt cho
lợi ích các bên. Lợi ích của xã hội được đặt xuống hàng thứ yếu” [18, tr.3].
Có thể coi tố tụng tranh tụng là một dạng tố tụng đặc biệt diễn ra tại Toà án
21
Viện công tố ở các nước theo hệ tranh tụng sẽ làm nhiệm vụ truy tố kẻ
bị tình nghi là phạm tội ra trước Toà. Người giữ quyền công tố - đại diện cho
cơ quan này trước Toà án được gọi là Công tố viên hoặc là Luật sư buộc tội.
Trước khi phiên toà diễn ra, Công tố viên có quyền tiến hành điều tra thu thập
chứng cứ. Vai trò của Công tố viên trong một phiên toà hình sự là lựa chọn và
trình bày tất cả những chứng cứ mà Nhà nước sẽ lấy làm căn cứ buộc tội.
Công việc buộc tội không chỉ đơn giản là với quyết định truy tố nhằm mục
đích buộc tội ai đó ra trước Toà, mà với tư cách là đại diện cho cơ quan công
quyền, Công tố viên còn phải chứng minh sự đúng đắn và hợp pháp của nội
dung truy tố bằng cách đưa ra các chứng cứ, và các lập luận để bảo vệ quan
điểm của mình về sự buộc tội đối với bị cáo đồng thời bác bỏ các chứng cứ và
lập luận của bên bào chữa.
Bào chữa là toàn bộ các hành vi, hoạt động tố tụng của người bị tình
nghi; bị can; bị cáo; người bào chữa; đại diện hợp pháp của người bị tình
nghi, bị can, bị cáo là vị thành niên nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho người bị tình nghi, gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
người bị buộc tội. Luật sư bào chữa là một chức danh dùng để chỉ người là
người đại diện cho người bị buộc tội trong việc phủ nhận những lý lẽ của
công tố viên nhằm mục đích gỡ tội cho người bị buộc tội. Vai trò của Luật sư
bào chữa là “Hành động không sợ hãi trong việc bào chữa cho khách hàng”
[18, tr.44]. “Mặc dù Luật sư có nghĩa vụ với Toà án nhưng nghĩa vụ chính
của họ là đối với khách hàng” [44, tr.13]. Pháp luật tố tụng của các nước theo
hệ tranh tụng dành cho Luật sư bào chữa một địa vị tố tụng và những quyền
năng ngang bằng, không hề thua kém các công tố viên. Sự ngang bằng này
thể hiện ở chỗ, nếu pháp luật dành cho một công tố viên những quyền gì thì
một Luật sư bào chữa cũng được pháp luật dành cho những quyền năng tương
ứng như thế. Trong quá trình giải quyết vụ án, Luật sư cũng được điều tra, thu
liệu nào về vụ án. Thẩm phán trong phiên toà tranh tụng là người làm nhiệm
vụ điều khiển phiên toà, để cho phiên toà diễn ra theo đúng trình tự quy định
của luật tố tụng, đảm bảo rằng không có sự dẫm đạp lên sự tôn nghiêm của
Toà án. Quy tắc chứng cứ hạn chế đối với những nhận xét đánh giá của Thẩm
phán về vụ án trước khi Bồi thẩm đoàn nghị án. Sau khi Bồi thẩm đoàn ra
phán quyết một bị cáo là có tội thì nhiệm vụ của quan toà là phải xem xét rõ
hành vi của bị cáo đã thoả mãn cấu thành tội phạm nào? tội phạm đã hoàn
thành chưa? trên cơ sở đó quan toà sẽ ra phán quyết bị cáo phạm tội gì, mức
hình phạt đối với bị cáo về tội đó và cách thức thi hành hình phạt trong tương
lai. Tính chuyên nghiệp và nhiệm kỳ ổn định giúp đội ngũ Thẩm phán tài
năng thoát khỏi ảnh hưởng của chính quyền hành pháp. Căn bệnh quan liêu
của nền hành chính đồ sộ thực sự bị loại bỏ trong hệ thống Toà án. Toà án
không được phép định kiến đối với bất cứ bên nào và cũng không thể bị ràng
buộc bởi bất cứ một yêu cầu, đề nghị hoặc ý kiến của bất kỳ ai.
1.1.2.c. Chứng cứ do các bên thu thập và đề xuất.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự của các nước thuộc hệ
thống pháp luật Anh - Mỹ thì nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự
được phân đều cho cả hai bên tham gia tranh tụng. Bên buộc tội, mà chủ yếu
là cơ quan điều tra và Viện công tố chỉ có trách nhiệm thu thập các chứng cứ
buộc tội, tức là các chứng cứ chứng minh bị can, bị cáo là người đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội và là tội phạm mà không có nhiệm vụ phải thu
thập các chứng cứ có tính chất gỡ tội hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
can, bị cáo. Việc thu thập chứng cứ phản bác lại sự buộc tội, chứng minh sự
vô tội, giảm nhẹ tội hoặc trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo là nhiệm vụ
của bên bào chữa. Người bị tình nghi hoặc bị can phải tự mình hoặc thuê Luật
sư bào chữa tiến hành cuộc điều tra độc lập để thu thập các chứng cứ đó. Tại
24
phiên toà các bên buộc tội và bào chữa đều có quyền như nhau về việc đưa ra
chứng cứ, được quyền kiểm tra chéo để xác định độ tin cậy các chứng cứ của bên
bằng cho một trong các bên tham gia tố tụng. Ví dụ như: Trước khi Bồi thẩm
đoàn đưa ra phán quyết có tội hay không có tội, Công tố viên không được đưa
ra những thông tin hay ám chỉ về nhân thân bị cáo (chẳng hạn như tiền án,
tiền sự). Thông hiểu các quy tắc như chứng cứ tốt nhất (chứng cứ trực tiếp),
chứng cứ nghe nói lại (chứng cứ gián tiếp), các Luật sư hay Công tố viên đều
phải lựa chọn, dự tính chứng cứ nào sẽ được mình xuất trình trước toà, tránh
những rủi ro có thể xảy ra từ việc xuất trình những chứng cứ ít giá trị chứng
minh và thiếu tính xác thực. Đây cũng là điều kiện ràng buộc Luật sư (Luật sư
của các bên - và của cơ quan công tố) để họ biết được những chứng cứ nào sẽ
được Toà án chấp thuận. Với những quy định trong quy tắc về chứng cứ, hệ
tranh tụng đảm bảo sự trung lập và thụ động của Toà án trong khi xét xử. Mặc
dù là Chủ toạ phiên toà nhưng Thẩm phán cũng phải tuân theo các quy tắc
chứng cứ đã được xác định trước.
Do tính cạnh tranh, đối đầu của hệ tranh tụng có thể dẫn tới tình trạng
cần phải thắng trong cuộc đấu với bất cứ giá nào kể cả sử dụng các thủ đoạn,
hệ tranh tụng sử dụng một loạt các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để kiểm
soát đội ngũ Luật sư của cả hai bên. Những hành động thủ đoạn nhằm đe doạ
đối phương, che dấu, làm sai lệch giá trị chứng minh của thông tin có thể làm
cho Toà án bị lạc hướng hoặc có định kiến hoàn toàn bị cấm và loại trừ. Hơn
nữa, quy tắc về đạo đức đòi hỏi Luật sư phải hành sự và trung thành tuyệt đối
với quyền lợi của thân chủ của mình như chính quyền lợi của họ.
Các thủ tục tố tụng sau khi xét xử (sơ thẩm) với hàng loạt các quy định
về quyền kháng cáo, kháng nghị là căn cứ để xem xét lại bản án sơ thẩm.
Thẩm phán (phúc thẩm hay giám đốc thẩm) sẽ nghe lại (ghi âm, ghi hình),