Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật việt nam - Pdf 10

Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng
trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam

Trần Thị Ngọc Liên

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Dũng
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc. Phân tích các quy định hiện hành của pháp
luật về trọng tài vụ việc; đánh giá thực trạng sử dụng phương thức trọng tài vụ việc
trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp thương mại tại Việt Nam từ đó chỉ ra các khó
khăn, vướng mắc đang và sẽ gặp phải và các nguyên nhân liên quan đến việc sử dụng
trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên
thế giới về việc áp dụng và điều chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng nhằm lựa chọn những kinh
nghiệp hay, phù hợp cho việc áp dụng vào Việt Nam. Đưa ra những giải pháp nhằm
thực tiễn hóa một cách hiệu quả các quy định của pháp luật nhằm khuyến khích các
bên tranh chấp sử dụng phương thức trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng
khi cần giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại.

Keywords: Tranh chấp thương mại; Trọng tài; Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thế giới hiện nay là xu
hướng toàn cầu hóa, trong đó quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế luôn được củng cố và phát triển.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều

TTTM với nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế góp phần
tạo niềm tin cho các cá nhân, tổ chức khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài. Một trong những điểm mới đáng ghi nhận là Luật TTTM chính thức quy định hai
hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc và có các quy định nhằm
hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơ hội phát triển ngang bằng nhau và khuyến khích
các bên tranh chấp sử dụng cả hai hình thức này. Tuy nhiên để các quy định này không chỉ có
hiệu lực trên giấy thì cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc ban hành các quy định về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc
để thực tiễn hóa các quy định này vào đời sống kinh tế của các cá nhân, tổ chức. Với mong
muốn được luận bàn chuyên sâu, góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, tác giả
chọn đề tài: "Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật
Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tiễn và trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết và một số công trình nghiên
cứu ở cấp độ khác nhau về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, có thể nêu một
số công trình như: "Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều
kiện hội nhập quốc tế", Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Đình Thơ, Trường Đại học Luật
Hà Nội, 2007; "Pháp luật giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài", Luận văn thạc sĩ
luật học của Phạm Thị Phương Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; "Những vấn đề
pháp lý về thỏa thuận trọng tài và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của
Trần Thị Kim Liên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; "Trọng tài thương mại Việt Nam trong
tiến trình đổi mới", của Dương Văn Hậu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999; và một số bài
viết trên các tạp chí chuyên ngành… Tuy nhiên các công trình trên chỉ đề cập một cách khái
quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung mà chưa có công trình
nào đề cập một cách chuyên sâu về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc.
Từ đó có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên
cứu chuyên biệt về vấn đề này.

3
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

bằng trọng tài vụ việc, luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất: Luận văn giải quyết những vấn đề lý luận về tranh chấp trong hoạt động thương
mại và các hình thức giải quyết tranh chấp, nghiên cứu một cách khái quát về phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc với những phân tích về đặc điểm của trọng tài vụ
việc, ưu và nhược điểm của trọng tài vụ việc và khi nào thì nên dùng trọng tài vụ việc để giải
quyết tranh chấp.
Thứ hai: Luận văn đã phân tích một cách sâu sắc những quy định pháp luật hiện hành về
trọng tài vụ việc, bắt đầu từ việc đánh giá khái quát hiệu quả của pháp luật đối với hoạt động
trọng tài và trọng tài vụ việc, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc,
thẩm quyền của trọng tài vụ việc và thủ tục của trọng tài vụ việc. Bên cạnh đó, luận văn còn
phân tích chi tiết thực trạng sử dụng trọng tài vụ việc trong giải quyết tranh chấp tại Việt
Nam, các bất cập và các nguyên nhân cụ thể của các bất cập đó.

4
Thứ ba: Luận văn bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
phương thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương
mại bao gồm những giải pháp về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật; các giải pháp từ phía các
trọng tài viên, từ phía doanh nghiệp, từ phía tòa án và cơ quan thi hành án…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài
vụ việc.
Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài
vụ việc tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài vụ việc giải quyết
tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam.

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƢƠNG MẠI

tranh chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bên trung gian thứ ba (trọng tài
viên) do các bên lựa chọn sẽ đưa ra một quyết định sau khi hai bên tranh chấp đã có cơ hội
bình đẳng để trình bày các vấn đề liên quan đến tranh chấp. Nếu quá trình trọng tài bảo đảm
nguyên tắc tự nguyện, công bằng thì quyết định của trọng tài viên có hiệu lực bắt buộc thi hành
đối với các bên. Khoản 1, Điều 3, Luật TTTM năm 2010 quy định: "Trọng tài thương mại là
phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của
Luật này".
1.1.3. Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
i) Đặc điểm của trọng tài thương mại
Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết
tranh chấp.
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục.
Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho
các bên.
Thứ năm, tiết kiệm thời gian
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi chính phủ,
nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án.
(ii) Các hình thức tổ chức trọng tài thương mại
Trọng tài vụ việc
Trong trọng tài vụ việc, các bên tự chịu trách nhiệm thành lập hội đồng trọng tài để giải
quyết tranh chấp và phải quy định các quy tắc sẽ điều chỉnh cách thức tiến hành tố tụng trọng
tài. Khi gặp khó khăn, đôi khi các bên có thể nhờ một tòa án quốc gia có thẩm quyền can
thiệp. Bởi các bên tự tiến hành trọng tài vụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù
lao và chi phí với trọng tài viên.
Trọng tài quy chế
Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặc một tổ chức trọng tài

tụng không cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp.
ii) Nhược điểm:
Nhược điểm lớn nhất của trọng tài vụ việc (có thể là yếu tố bất lợi nghiêm trọng) đó là
phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên.
Tiếp theo trong trọng tài vụ việc, không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài
và giám sát các Trọng tài viên.
1.2.4. Khi nào nên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc
- Doanh nghiệp đó hoặc tranh chấp đó không cần đến một tổ chức đứng ra giải quyết;
- Doanh nghiệp có chuyên gia tư vấn pháp lý thông thái;
- Các tranh chấp nhỏ, ít phức tạp;
- Doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí.
1.3. Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của một số nước
1.3.1. Trọng tài là một loại cơ quan tài phán tư
Tố tụng trọng tài thể hiện rõ nhất tính chất tài phán tư của hình thức giải quyết tranh chấp
này
1.3.2. Thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt
động thương mại
Theo xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì trọng tài được thành lập
chủ yếu để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Tùy theo quan điểm
của mỗi nước, mà thẩm quyền của trọng tài có thể được quy định khác nhau, nhưng có một
điểm chung nhất là pháp luật trọng tài các nước đều thừa nhận trọng tài là một phương thức
phổ biến và hữu hiệu trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại.
1.3.3. Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài giải
quyết theo một quy tắc của tổ chức trọng tài nhất định đưa ra. Đây là cơ sở cho các bên tiến
hành giải quyết bằng trọng tài cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình trọng

7
tài.
1.3.4. Về sự giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc

TẠI VIỆT NAM
2.1. Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài
2.1.1. Lịch sử phát triển và hình thành pháp luật về trọng tài thương mại
i) Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại trên thế giới.
Người ta không biết chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có
thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này. Tòa
Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với
người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương
thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa
cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà
nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới

8
lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu
khắp lục địa Châu Âu.
ii) Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu
của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là "trọng tài kinh tế".
Theo quy luật phát triển và cùng với đòi hỏi của nền kinh tế đất nước, đã có nhiều văn
bản pháp luật về TTTM được ban hành nhằm tạo thêm một phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại có hiệu quả. Văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất hiện nay là Luật TTTM năm
2010 được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010 và được đánh giá là "đã tiến gần đến các chuẩn
mực quốc tế".
2.1.2. Pháp luật hiện hành về Trọng tài thương mại và trọng tài vụ việc
i) Pháp luật hiện hành về trọng tài thương mại
Qua 5 năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã thể hiện những ưu điểm cơ bản sau
đây:
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt điều chỉnh pháp luật.
Thứ hai, về mô hình, cơ cấu tổ chức của Trọng tài.
Thứ ba, về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài.

Thứ tư, cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp
với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối
với các bên tranh chấp.
Thứ năm, cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
Thứ sáu, nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng tài được
thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều
47, 48, 49 và 50).
Thứ bảy, hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định
không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên
Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu "không đồng ý với quyết định trọng tài", bởi vì
các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi
tính chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
Thứ tám, Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là
nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát
triển.
Thứ chín, thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình
giải quyết vụ tranh chấp của các bên.
Thứ mười, quy định phù hợp hơn về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài.
2.1.4. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và trọng tài vụ
việc
(i) Nguyên tắc "Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó
không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội"
(ii) Nguyên tắc "Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của
pháp luật"
(iii) Nguyên tắc "Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng
tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình"
(iv) Nguyên tắc "Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai,

thực tế so với trọng tài quy chế, trọng tài vụ việc ít hoặc không được sử dụng đến tại Việt
Nam.
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động trọng tài vụ việc
(i) Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp
Hiểu biết của các doanh nghiệp, thương nhân, cũng như người dân về vai trò của trọng tài
vụ việc còn chưa đầy đủ. Nhìn chung, trọng tài vụ việc hoạt động chưa hiệu quả vì trọng tài
nói chung và trọng tài vụ việc tuy không phải là một chế định quá mới mẻ nhưng doanh
nghiệp của Việt Nam chưa có thói quen, tâm lý chưa có niềm tin rằng các phán quyết của
trọng tài vụ việc sẽ được thực thi. Do vậy, chưa sử dụng trọng tài vụ việc như một trong
những phương thức giải quyết các tranh chấp ưu thế so với các phương thức khác.
(ii) Nguyên nhân từ phía đội ngũ trọng tài
Trong những năm qua, chưa có sự gia tăng đột biến về số lượng cũng như chất lượng đội
ngũ trọng tài viên. Sau khi có Pháp lệnh TTTM năm 2003. Trình độ trọng tài viên, chất lượng
dịch vụ trọng tài nói chung cũng còn nhiều vấn đề phải bàn: Thiếu trình độ ngoại ngữ, kiến
thức pháp luật, kỹ năng hành nghề. Số lượng những người có đủ điều kiện để trở thành trọng
tài viên theo Pháp lệnh TTTM năm 2003 thì không ít, tuy nhiên, người hành nghề trọng tài
viên chuyên nghiệp lại không nhiều.
(iii) Nguyên nhân từ hạn chế của pháp luật
Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã được thay thế bằng Luật TTTM năm 2010 với những tiến
bộ được nhận định là đã "tiến gần đến các chuẩn mực quốc tế về trọng tài". Tuy nhiên, theo
nhận định của cá nhân, pháp lệnh TTTM năm 2003 và Luật TTTM năm 2010 chưa có nhiều
quy định nhằm hỗ trợ hoạt động của trọng tài vụ việc phát triển mà đa phần các quy định dành
cho trọng tài quy chế hoặc là trọng tài nói chung.
Kết luận chương 2
Từ kết quả nghiên cứu của Chương 2, có thể đưa ra một số nhận xét sau:

11
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam về TTTM nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng đã phát
triển tương đối đầy đủ, giải quyết khá hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn hoạt
động kinh doanh, thương mại. Trước năm 2010, văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao

Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang là một phương thức giải quyết rất
hiệu quả và được ưa chuộng trên thế giới nhưng tại Việt Nam trọng tài và đặc biệt là trọng tài
vụ việc chưa thực sự khẳng định được vị trí của mình trong các phương thức giải quyết tranh
chấp.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết
khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới thì cũng phát sinh rất nhiều những tranh chấp
thương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phức tạp của các tranh chấp
cũng ngày một nâng cao. Mặt khác, theo thống kê của Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam, hiện cả nước có hơn 300.000 doanh nghiệp, đặc biệt là số doanh nghiệp vừa và nhỏ
ngày càng gia tăng và đóng góp vai trò ngày càng quan trọng vào đời sống kinh tế của đất
nước. Theo đó, số các vụ việc tranh chấp sẽ ngày càng nhiều hơn, nhu cầu giải quyết các

12
tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng được đặt ra ngày càng bức xúc hơn.
Trọng tài vụ việc với các ưu thế nổi bật so với các phương thức giải quyết tranh chấp
khác sẽ thực sự tạo được sức hút không chỉ đối với các cá nhân, tổ chức trong nước mà còn
với cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài khi các quy định về pháp luật trọng tài nói chung và
pháp luật về trọng tài nói riêng được thực thi hiệu quả trong đời sống kinh tế.
3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tài
vụ việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam
Thứ nhất: Quá trình thực thi pháp luật TTTM phải thể chế hóa kịp thời và đầy đủ đường
lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ hai: Quá trình thực tiễn hóa pháp luật TTTM nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng
phải phục vụ đắc lực cho việc thực hiện các cam kết của Việt Nam khi trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại Thế giới, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ ba: Hiệu quả quá trình thực thi pháp luật TTTM nói chung và trọng tài vụ việc nói
riêng làm cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thật sự có hiệu quả.
Thứ tư: Đảm bảo tính đồng bộ của cả hệ thống pháp luật. Hoạt động giải quyết tranh chấp

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài
3.3.4. Giải pháp về phía các doanh nghiệp
Khi hội nhập kinh tế quốc tế thì các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ngày
càng nhiều và phức tạp, doanh nghiệp Việt Nam cần phải tiếp cận với thức trọng tài như là
điều khoản cần có trong luật chơi trong nước và quốc tế.
Thiết nghĩ, việc các doanh nghiệp Việt Nam cần nhận thức lại phương thức giải quyết
tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài và cần nhận thức một cách đầy đủ những ưu
thế khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thời gian giải quyết tranh chấp
nhanh, ít tốn kém chi phí, hiệu lực quyết định trọng tài là chung thẩm rút ngắn được các trình
tự giải quyết hai cấp, giữ được bí mật kinh doanh, được lựa chọn người có chuyên môn tương
ứng với vụ tranh chấp để giải quyết tranh chấp, quyết định trọng tài được cơ quan thi hành án
thi hành theo Luật thi hành án dân sự… Đồng thời trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp
Việt Nam phải đối mặt với nhiều vụ tranh chấp thương mại, đầu tư, nội dung tranh chấp ngày
càng phức tạp mà các nước trên thế giới đều chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài là hiệu quả và hợp lý nhất.
3.3.5. Tăng cường hợp tác quốc tế
Tăng cường quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế về trọng tài là một biện pháp quan trọng để
nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Kết luận chương 3
Từ kết quả nghiên cứu của Chương 3 có thể có một số nhận xét sau:
Thứ nhất, việc nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranh chấp
thương mại là hết sức cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế trong
nước đang phát triển như hiện nay.
Thứ hai, Luật TTTM năm 2010 đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 với mục tiêu quan trọng nhất
là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận lợi cho các bên đặc biệt là các bên tham
gia các hoạt động thương mại, đầu tư thì việc thực tiễn hóa các quy định của Luật sao cho đạt hiệu
quả trên thực tế, góp phần quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
đang là một thách thức đặt ra trong quá trình thực thi pháp luật. Yêu cầu đối với việc nâng cao
hiệu quả sử dụng trọng tài nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại cần bám sát các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực tiễn hoá các cam kết của Việt Nam trong WTO

đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản là tất yếu,
khách quan và cần thiết. Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật đất đai và
các văn bản có liên quan trong lĩnh vực tài chính ngân hàng sẽ là tiền đề cho việc hoàn thiện một
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất tạo điều kiện tốt nhất cho các hoạt động dân sự và các
hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng đây là một đề tài chuyên sâu, việc nghiên cứu
liên quan đến nhiều khía cạnh trong lĩnh vực pháp lý cũng như cơ chế chính sách của Nhà
nước về vấn đề xử lý tài sản đảm bảo tiền vay là bất động sản. Do đó, đề tài đòi hỏi nhiều
công sức và thời gian để có thể nêu bật được hết nội dung của các vấn đề. Trong khuôn khổ của
một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ có thể trình bài các vấn đề một cách khái quát mà chưa có điều
kiện giải quyết thấu đáo các nội dung đưa ra. Ngoài ra, với thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn
chế, chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được các ý
kiến phản biện, đóng góp của các chuyên gia, các thầy cô và tất cả các bạn để đề tài này được
nghiên cứu chuyên sâu hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng hi vọng rằng những ý kiến nêu ra trong
luận văn này sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật về xử
lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản nói riêng và xử lý tài sản bảo đảm nói chung.

References
1. Chính phủ (1994), Nghị định số 116/CP ngày 05/9 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài
kinh tế, Hà Nội.
2. Chính phủ (2004), Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01 quy định chi tiết và thi hành

15
một số điều của Pháp lệnh trọng tài thương mại, Hà Nội.
3. "Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước
ngoài" (2010), Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề: Pháp luật về trọng tài thương mại).
4. Vũ Ánh Dương (2010), "Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam", Tài liệu Hội thảo: Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế thi
hành phán quyết trọng tài, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án
DANIDA tổ chức, Hà Nội.

1964, (Bản dịch tiếng Việt), Hà Nội.
19. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2008), Luật trọng tài thương mại Trung
Quốc năm 1994, (Bản dịch tiếng Việt), Hà Nội.
20. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội.
21. Quốc hội (2004), Luật Doanh nghiệp, Hà Nội.
22. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội.
23. Quốc hội (2005), Luật đầu tư, Hà Nội.
24. Quốc hội (2005), Luật thương mại, Hà Nội.
25. Quốc hội (2010), Luật trọng tài thương mại, Hà Nội.
26. Dương Anh Sơn (2009), "Những luận cứ để mở rộng thẩm quyền của trọng tài", Nhà
nước và pháp luật, (11), tr.36-41.
27. Nguyễn Đình Thơ (2007), Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội.
28. Phạm Thị Phương Thủy (2004), Pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình
thức trọng tài, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
29. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp
lệnh trọng tài thương mại, Hà Nội.
30. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2005), Báo cáo hoạt động của Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt Nam năm 2005, Hà Nội.
31. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2003), Trọng tài và các phương thức giải quyết
tranh chấp lựa chọn, (Bản dịch tiếng Việt), Hà Nội.
32. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2006), Báo cáo hoạt động của Trung tâm trọng

17
tài quốc tế Việt Nam năm 2006, Hà Nội.
33. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2007), Báo cáo hoạt động của Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt Nam năm 2007, Hà Nội.
34. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2008), Báo cáo hoạt động của Trung tâm trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status