ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ HƯỜNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các hình MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN
6
47
2.2.2.
Chuẩn bị xét xử
53
2.2.3.
Tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
60
2.3.
Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án cấp phúc thẩm
66
2.4.
Thủ tục xét lại bản án, quyết định lao động đã có hiệu lực
72
pháp luật
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN
81
3.1.
Nhận xét chung về thực trạng giải quyết tranh chấp lao động
tại Tòa án
81
3.1.1.
Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
81
3.1.2.
Những ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp
lao động tại Tòa án
85
3.1.3.
Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
theo thủ tục sơ thẩm từ năm 2005 - 2009
83
3.2
Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
theo thủ tục phúc thẩm từ năm 2005 - 2009
83
3.3
Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm 2005 - 2009
84
3.4
Tổng hợp kết quả xét xử các vụ án lao động tại Tòa án từ
năm 2005 - 2009
84
Danh môc c¸c H×NH
Sè hiÖu
h×nh
Tªn h×nh
Trang
3.1
Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân khi xác định
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động
87
3.2
Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân được hoàn thiện
thì rất hạn chế. Tình trạng này phát sinh do nhiều nguyên nhân nhƣ: thủ tục
hòa giải tại cơ sở còn nhiều vƣớng mắc, sự hiểu biết pháp luật về thủ tục giải
quyết tranh chấp lao động của ngƣời lao động còn hạn chế, các tổ chức tƣ vấn
2
cho ngƣời lao động chƣa phát huy hiệu quả… hiệu quả giải quyết tranh chấp
lao động còn một số mặt hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tế. Tỷ
lệ các vụ án của tòa án cấp sơ thẩm phải cải sửa tƣơng đối cao, một số vụ án
phải kéo dài, có vụ tới ba hoặc bốn năm do phải hủy để xét xử lại; quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên không đƣợc khôi phục kịp thời. Những hạn chế
đó đã gây những tác động tiêu cực đến quan hệ lao động đặc biệt là trong cơ
chế thị trƣờng hiện nay.
Do vậy, nghiên cứu vấn đề "Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa
án theo pháp luật Việt Nam" là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để
hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nƣớc và môi
trƣờng kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một trong những vấn đề cơ bản của pháp luật lao động nói chung và
pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động nói chung vấn đề này đã đƣợc các
nhà khoa học, luật gia quan tâm nghiên cứu ở các mức độ khác nhau. Đã có
những công trình, bài viết khoa học về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
hoặc liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án đã đƣợc công bố
nhƣ: Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Khoa luật, Đại học Xã hội và Nhân
văn quốc gia, 2000; Giáo trình Luật lao động Việt Nam, của Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội, 2010; Thủ tục giải quyết các vụ án lao động theo Bộ luật Tố tụng
dân sự, của Phạm Công Bảy, Nxb Chính trị quốc gia, 2006; Luận văn thạc sĩ
Luật học: Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân - một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, do Vũ Thị Thu Huyền thực hiện năm 2002; Luận án tiến
sĩ Luật học: Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam, do Lƣu
Bình Nhƣỡng thực hiện năm 2002; các bài viết: Những điểm mới về tranh
- Nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án ở
Việt Nam hiện nay.
4
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực
tiến giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết
tranh chấp lao động tại Tòa án dƣới góc độ của luật lao động đồng thời đề cập
đến một số quy phạm của luật tố tụng dân sự nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết
mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng giải
quyết các tranh chấp lao động tại Tòa án trong giai đoạn từ năm 2005-2009.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các
quan điểm của Đảng.
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
từ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các
quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc và pháp luật, về quyền con
ngƣời và quyền công dân trong xã hội, những luận điểm khoa học trong các
công trình nghiên cứu và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa
học Việt Nam.
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể để làm sáng
tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tƣơng ứng, đó là các phƣơng pháp nghiên cứu
nhƣ: phƣơng pháp luận, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, kết hợp giữa
lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu….
6. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Với mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn đƣa ra những vấn đề mới
sau đây:
Trong nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế đã hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày
càng trở nên đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau. Nội dung của quan hệ
pháp luật lao động là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật lao động. Trong quan hệ pháp luật lao động, không có chủ
thể nào chỉ có quyền hoặc chỉ có nghĩa vụ, quyền của chủ thể này bao giờ
cũng tƣơng ứng với nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia và ngƣợc lại tạo thành
mối liên hệ pháp lý thống nhất trong một quan hệ pháp luật lao động. Ngoài
ra, các bên còn phải thực hiện và tôn trọng các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật
đã quy định để đảm bảo trật tự, lợi ích xã hội, bảo đảm môi trƣờng lao động
và môi trƣờng sống.
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa
ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động không phải lúc nào cũng diễn
biến một cách ổn định bình thƣờng theo đúng những thỏa thuận. Giữa họ có
thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động. Có những
bất đồng đƣợc các bên thỏa thuận và giải quyết đƣợc song cũng có thể có
những bất đồng mà sự thƣơng lƣợng của hai bên không thể giải quyết đƣợc.
Những bất đồng, xung đột nếu đƣợc giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu
thuẫn, ngƣợc lại, nếu không đƣợc giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn
gay gắt. Quá trình giải quyết tranh chấp lao động có thể trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau, trong đó giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án là giai đoạn
có tầm quan trọng đặc biệt. Tính đặc biệt đó thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
7
Thứ nhất: Việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án đƣợc thực
hiện bởi tòa án với tƣ cách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nƣớc
và đƣợc tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ.
Tranh chấp lao động có thể đƣợc giải quyết bởi nhiều cơ quan, tổ
chức, các nhân khác nhau nhƣ: Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện, Hội đồng trọng tài lao động hay Tòa án nhân dân.
vực khác nhau của đời sống xã hội nhằm góp phần bảo vệ pháp chế và lẽ phải. Ở
một số nƣớc trên thế giới, tòa án lao động thuộc hệ thống các cơ quan tƣ pháp
nhƣng không hẳn đƣợc đặt trong hệ thống dọc của tòa án thƣờng mà đƣợc tổ
chức nhƣ là một loại tòa án đặc biệt ví dụ nhƣ: Vƣơng quốc Anh, Cộng hòa liên
bang Đức, Thụy Điển, Cộng hòa Pháp, Thái Lan Tuy nhiên, quyền hậu kiểm
tối cao về mặt pháp lý đối với các tòa án lao động vẫn thuộc tòa án tối cao.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa lao động là một hệ thống tòa án độc
lập, có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp lao động các nhân và tranh chấp
lao động tập thể. Tòa án lao động gồm 03 cấp: Tòa án lao động (cấp sơ thẩm),
Tòa án lao động bang (cấp phúc thẩm), Tòa án lao động liên bang (cấp Giám
độc thẩm, tái thẩm). Thẩm phán của Hội đồng xét xử tại Tòa án lao động (cấp
sơ thẩm) và Tòa án lao động bang gồm 01 Thẩm phán chuyên nghiệp và 02
Thẩm phán danh dự (Thẩm phán không chuyên); tại Tòa án liên bang gồm 03
Thẩm phán chuyên nghiệp và 03 Thẩm phán danh dự, trong đó 01 Thẩm phán
danh dự đại diện cho giới chủ và 01 đại diện cho giới thợ.
Nhìn chung mô hình tổ chức của tòa án tƣ pháp ở các nƣớc theo hệ
thống luật châu Âu lục địa thƣờng rất đa dạng. Hệ thống tòa án ở các nƣớc
này đều có các cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cấp tối cao (Tòa phá án).
Tuy nhiên cũng có một số điểm khác. Ví dụ: tùy ở mỗi nƣớc có nhiều dạng
tòa sơ thẩm theo tính chất vụ việc và tầm quan trọng của tranh chấp mà có thể
thành lập hoặc không thành lập tòa dân sự đặc biệt (tòa án thƣơng mại, tòa án
các vấn đề xã hội).
9
Khiếu nại phát sinh từ tranh chấp cá nhân về việc làm và pháp luật lao
động (ví dụ sự tồn tại của điều khoản hoặc chấm dứt hợp đồng lao động) đƣợc
xét xử bởi tòa án lao động chuyên ngành tại Ba Lan, Hungary và Slovenia.
Hầu hết các chi phí thủ tục tòa án đó lao động đƣợc trả bởi nhà nƣớc, ngoại
trừ trong trƣờng hợp một số nơi sử dụng lao động phải bảo đảm một phần chi
phí, ví dụ Slovakia là một ngoại lệ tranh chấp lao động cá nhân đƣợc coi là vụ
về tiền - money claims) và ra quyết định về các cuộc đình công. Chính vì có
cơ chế giải quyết đơn giản và dễ vận dụng nêu trên nên việc thụ lý giải quyết
các tranh chấp lao động ở Philippin thƣờng đạt đƣợc hiệu quả cao. Quá trình
tố tụng đƣợc tiến hành từ khi thụ lý đến khi thi hành án đƣợc khép kín theo
quy tắc tố tụng thống nhất. Giúp việc cho các thẩm phán, các phân ban và
toàn thể ủy ban là các nhân viên thuộc các bộ phận pháp lý về thụ lý, tƣ vấn
pháp luật, phòng máy tính, phòng thi hành án.
Bên cạnh đó một số nƣớc vẫn sử dụng mô hình tòa lao động nằm
trong hệ thống tòa án thƣờng, ví dụ: Trung Quốc, Việt Nam…
Tại Trung Quốc, các hình thức sử dụng lao động đƣợc thực hiện thông
qua hợp đồng lao động. Ngƣời lao động trên cơ sở hợp đồng lao động có
quyền và nghĩa vụ riêng, các tranh chấp lao động ở doanh nghiệp đƣợc giải
quyết thông qua Ủy ban hòa giải, thành phần gồm đại diện của công nhân,
ngƣời lao động, ban quản lý doanh nghiệp và đại diện công nhân. Ở huyện,
thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng thành lập Ủy ban
trọng tài để giải quyết tranh chấp lao động địa phƣơng. Các tranh chấp lao động
trƣớc hết đƣợc giải quyết bởi Ủy ban hòa giải. Trƣờng hợp một trong hai bên
không muốn Ủy ban hòa giải giải quyết, hoặc việc thƣơng lƣợng giữa các bên ở
Ủy ban hòa giải không thành thì có thể yêu cầu Ủy ban trọng tài địa phƣơng xem
xét. Trƣờng hợp đạt đƣợc thỏa hiệp, Ủy ban trọng tài lập biên bản hòa giải,
nếu một trong các bên không tuân thủ quyết định của Ủy ban trọng tài thì
tranh chấp sẽ đƣợc chuyển sang cho Tòa án giải quyết.
11
Hệ thống tòa án Trung Quốc gồm Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án
nhân dân địa phƣơng, các tòa án quân sự và các tòa án đặc biệt khác. Tòa án
nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, giám đốc việc xét xử của các tòa
án địa phƣơng và các tòa án đặc biệt khác. Tòa lao động thuộc Tòa án nhân
dân trực tiếp giải quyết các vụ án lao động.
Tại Việt Nam, từ chỗ mới chỉ tồn tại trong các quy định của Sắc lệnh
quyết sơ thẩm các vụ việc lao động theo thẩm quyền và phúc thẩm các vụ án
lao động do Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị; Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm, tái thẩm
quyết định, bản án lao động Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm đã có
hiệu lực pháp luật. Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao giải quyết phúc
thẩm các vụ án lao động Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị; Tòa lao động Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và của Tòa lao động Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, bản án phúc thẩm của Tòa lao động Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm
quyền giám đốc thẩm, tái thẩm tất cả các bản án, quyết định của Tòa án các cấp.
Hiện nay, cùng với việc quy định chức năng giải quyết các tranh chấp
lao động, các cuộc đình công, tòa án còn đƣợc cải tiến về tổ chức, hoạt động.
Việc thành lập các tòa lao động ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và
tòa lao động thuộc Tòa án nhân dân tối cao với tƣ cách một phân tòa độc lập
đã thể hiện một bƣớc đổi mới trong hoạt động cải cách nền tƣ pháp theo quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 15/6/2004 Quốc hội thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu
lực ngày 01/01/2005; ngày 29/3/2011 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu lực ngày 01/01/2012. Theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án giải quyết các vụ án lao động theo thủ
13
tục chung quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau nhiều năm thực hiện việc xét
xử các vụ án lao động và giải quyết các cuộc đình công tại tòa án cho thấy những
đóng góp quan trọng của tòa án đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ lao động, góp phần ổn định và
làm lành mạnh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trƣờng, thúc đẩy sản xuất,
ổn định đời sống xã hội, giữ gìn trật tự quản lý trong lĩnh vực lao động - xã
pháp của đƣơng sự nhanh chóng nhằm tiếp tục quan hệ lao động, các bên chủ
thể có thể khởi kiện thẳng ra tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động dù
chƣa qua thủ tục thƣơng lƣợng, hòa giải.
Tại Việt Nam, từ năm 1945 đến cuối những năm 1980 các phƣơng
thức giải quyết tranh chấp lao động nhƣ thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài hầu
nhƣ bị xem nhẹ, việc giải quyết tranh chấp lao động bằng con đƣờng hành
chính và sử dụng tòa án đƣợc coi trọng hơn cả. Sở dĩ có tình trạng này là do
thời kỳ đó phát triển hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Việc thƣơng lƣợng, hòa giải giải quyết tranh chấp lao động giữa nhà nƣớc và
công nhân, viên chức nhà nƣớc đƣợc coi là vấn đề không thể tồn tại vì nhà
nƣớc là ngƣời có quyền tuyển chọn, sử dụng, đảm bảo quyền lợi của công
dân. Nhà nƣớc sẽ can thiệp vào các vụ việc do công nhân, viên chức khiếu
nại, tố cáo để đảm bảo các quyền lợi cho họ chứ không thể là một bên tranh
chấp đối với ngƣời lao động. Điều này đƣợc chứng minh bằng việc đề cao
nguyên tắc thỏa thuận để giải quyết tranh chấp lao động giữa ngƣời lao động
Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam
và tranh chấp lao động giữa ngƣời lao động làm việc theo hợp đồng lao động
với các đơn vị sử dụng lao động trong nƣớc.
Nhìn chung, quy định về việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
cũng nhƣ tranh chấp lao động tập thể giai đoạn từ 1945 đến trƣớc khi có Bộ
luật Lao động năm 1994 thì các phƣơng thức giải quyết tranh chấp lao động
nhƣ thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài rất hạn chế. Việc giải quyết tranh chấp
15
lao động thông qua phƣơng thức giải quyết khiếu nại, tố cáo và cuối cùng là
tòa án nhân dân vẫn là chủ yếu. Tuy nhiên, từ khi có Pháp lệnh Hợp đồng lao
động năm 1990 thì việc giải quyết tranh chấp lao động quy định trƣớc hết
phải thông qua thƣơng lƣợng. Bộ luật Lao động đƣợc ban hành và sửa đổi, bổ
sung quy định các phƣơng thức để giải quyết tranh chấp lao động đó là
thƣợng lƣợng, hòa giải, trọng tài và tòa án, theo đó tranh chấp lao động đƣợc
Khi đƣơng sự không tự giác thi hành bản án, quyết định của tòa án, cơ quan
thi hành án có quyền tổ chức cƣỡng chế buộc đƣơng sự phải thực hiện nghĩa
vụ của mình theo quyết định của tòa án. Với đặc điểm này, hiệu lực thi hành
phán quyết của tòa án sẽ cao hơn phán quyết của Hội đồng hòa giải lao động
cơ sở và Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.
Do đó các tranh chấp lao động khởi kiện tại tòa án đƣợc giải quyết dứt
điểm và có khả năng bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên. Khi các biện pháp hòa giải, trọng tài không đạt kết quả thì các chủ thể có
quyền khởi kiện ra tòa án. Quyết định, bản án của tòa án là quyết định giải
quyết cuối cùng. Mục đích của việc giải quyết tranh chấp lao động là dàn xếp
những mâu thuẫn trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể và trong một số trƣờng hợp còn nhằm mục đích để quan hệ
lao động tiếp tục duy trì. Do đó việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án
đƣợc tiến hành khi các biện pháp ôn hòa, mềm dẻo ở các giai đoạn trƣớc đã
sử dụng nhƣng không đạt kết quả.
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án cũng có
nhƣng nhƣợc điểm nhất định nhƣ:
- Việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án đƣợc thực hiện bởi cơ
quan tài phán mang tính quyền lực Nhà nƣớc, đƣợc tiến hành theo quy trình,
thủ tục chặt chẽ không khỏi khiến cho ngƣời sử dụng lao động cũng nhƣ
ngƣời lao động cảm thấy bị gò bó và đôi khi quá cứng nhắc. Bên cạnh đó tâm
lý của ngƣời Á châu thích sự hòa giải ổn thỏa giữa các bên hơn là phải bắt
17
buộc chấp nhận một bản án của tòa án. Thực tế đã chứng minh, ngay cả khi
ngƣời lao động có đƣợc xử thắng kiện trong một tranh chấp tại tòa, họ cũng
khó có thể đƣợc chấp nhận vào làm lại công việc cũ mà không có bất kỳ sự
phân biệt nào so với giai đoạn trƣớc. Các bên tranh chấp đều mong muốn sớm
kết thúc tranh tụng để tập trung vào công việc của riêng mình trong khi đó
thời gian giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án giải quyết thƣờng kéo dài
Những nguyên tắc cơ bản là những tƣ tƣởng chỉ đạo xuyên suốt quá
trình giải quyết các tranh chấp lao động, bao gồm cả quá trình tố tụng tại Tòa
án nhân dân để giải quyết các tranh chấp lao động đó.
Bộ luật Lao động Việt Nam quy định việc giải quyết các tranh chấp
lao động đƣợc tiến hành theo những nguyên tắc sau:
1- Thƣơng lƣợng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh
chấp tại nơi phát sinh tranh chấp; 2- Thông qua hòa giải, Trọng tài
trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích
chung của xã hội và tuân theo pháp luật; 3- Giải quyết công khai,
khách quan, kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật; 4- Có sự tham
gia của đại diện công đoàn và của đại diện ngƣời sử dụng lao động
trong quá trình giải quyết tranh chấp [24, Điều 158].
Nguyên tắc thương lượng, hòa giải, trọng tài:
Việc giải quyết tranh chấp lao động phải chú trọng và đƣa lên hàng
đầu các phƣơng thức thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài. Trong trƣờng hợp
thông qua các phƣơng thức đó mà tranh chấp giữa các bên không thể giải
quyết đƣợc hoặc các bên không đồng ý với kết quả giải quyết thì có quyền sử
dụng phƣơng thức tiếp theo, đó là kiện ra tòa án hoặc tiến hành đình công (đối
với tập thể lao động).
Đặc điểm của quan hệ lao động là các bên có quyền tự do thỏa thuận
hợp đồng lao động, thỏa ƣớc lao động tập thể trong khuôn khổ của pháp luật
19
lao động. Vì vậy khi tranh chấp lao động xảy ra việc các bên thƣơng lƣợng,
dàn xếp để thỏa thuận đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp
với điều kiện của từng bên vừa ngăn ngừa hậu quả xấu xảy ra do tranh chấp
lao động. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, cần phải tuyên truyền giáo dục ý thức
pháp luật cho ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, đặc biệt cần phải tạo
ra cơ chế để đại diện của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động thƣờng
xuyên gặp nhau, trao đổi với nhau những vấn đề nảy sinh trong quá trình sản
tranh chấp chính xác hơn, từ đó đƣa ra đƣợc các phƣơng án giải quyết phù
hợp. Tuy nhiên, hiện nay sự tham gia của đại diện ngƣời sử dụng lao động
chƣa thực sự rõ nét, khi xảy ra tranh chấp ngƣời lao động thƣờng phải tự
mình tham gia quá trình giải quyết tranh chấp lao động.
Những nguyên tắc trên là những nguyên tắc chung nhất có tính định
hƣớng cho việc giải quyết tranh chấp lao động mà việc giải quyết tranh chấp
lao động ở các phƣơng thức hòa giải, trọng tài, xét xử đều phải tuân thủ
những nguyên tắc đó. Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án
là một giai đoạn tố tụng khác với các phƣơng thức giải quyết tranh chấp lao
động khác nên ngoài việc tuân theo các nguyên tắc chung của việc giải quyết
tranh chấp lao động thì còn phải tuân theo các nguyên tắc chung của hoạt
động tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong tố tụng dân sự, việc
thực hiện đúng các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự tạo điều kiện cho việc
giải quyết vụ án và thi hành án đƣợc thuận lợi, ngăn chặn đƣợc những tiêu cực
nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đƣơng sự có thể bảo vệ đƣợc
quyền, lợi ích hợp pháp của họ trƣớc tòa án. Những nguyên tắc cụ thể điều
chỉnh các hoạt động tố tụng giải quyết các tranh chấp lao động tại tòa án gồm:
Nguyên tắc pháp chế
Bảo đảm pháp chế là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nƣớc, đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nƣớc nhịp
nhàng, đồng bộ, đảm bảo công bằng xã hội. Đảm bảo pháp chế xã hội chủ