ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN XUÂN TUẤN
VAI TRÕ CỦA CÔNG ĐOÀN
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG
TẠI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI (QUA THỰC TIỄN TỈNH THANH
HÓA)
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí úc
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Những vấn đề chung
12
1.1.1. Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài đối với việc phát triển kinh
tế Việt Nam
12
1.1.2. Tình hình lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
14
1.2.
Tranh chấp lao động và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
20
1.2.1. Khái niệm về tranh chấp lao động
20
1.2.2. Phân loại tranh chấp lao động
22
1.2.3. Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
38
động ở Tòa án nhân dân
Chương 2:
THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA CÔNG ĐOÀN
41
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI
KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI QUA THỰC TIỄN Ở THANH HÓA
Thực trạng và những hạn chế sự tham gia của Công đoàn
trong giải quyết tranh chấp lao động
41
2.1.1. Thực trạng và những hạn chế sự tham gia của công đoàn trong
giải quyết tranh chấp lao động tại Hội đồng hòa giải lao động
41
2.1.
cơ sở
2.1.2. Thực trạng và những hạn chế sự tham gia của công đoàn trong
giải quyết tranh chấp lao động tại Hội đồng trọng tài lao động
51
2.2.5. Về công tác cán bộ Công đoàn cơ sở
65
2.2.6. Về nguồn lực tổ chức Công đoàn cơ sở
66
5
2.2.7. Về công tác quản lý nhà nước đối với việc thực hiện các quy
định của pháp luật lao động
Chương 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG VAI TRÕ
68
69
CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG TẠI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
3.1.
Những giải pháp áp dụng chung
69
3.2.1. Tạo nguồn nhân lực Công đoàn cơ sở
73
3.2.2. Tăng số lượng và chất lượng cán bộ Hòa giải viên lao động
74
3.2.3. Nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ Công đoàn cơ sở
74
3.2.4. Nhóm giải pháp công đoàn tham gia giải quyết đình công tự
phát trong giai đoạn hiện nay
76
KẾT LUẬN
79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có hiệu lực,
khởi đầu cho dòng chảy các luồng vốn từ bên ngoài vào nước ta. Lúc đầu,
các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ bất động sản, nhà hàng, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải
trí,... Những năm về sau, thì họ chuyển sang lĩnh vực sản xuất, gia công chế
biến hàng công nghiệp cho tiêu dùng và xuất khẩu. Từ đó, đã hình thành
những khu vực sản xuất công nghiệp tập trung trải dài trên nhiều địa phương
và các vùng trên cả nước. Cùng với dòng chảy của các luồng vốn đầu tư, là
dòng chảy của lực lượng lao động đổ về các khu sản xuất công nghiệp tập
trung: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đặc khu kinh tế,
cụm công nghiệp...
Riêng đối với tỉnh Thanh Hóa, việc tăng nhanh thu hút vốn đầu tư
và nguồn nhân lực vào các khu công nghiệp, Khu kinh tế thời gian qua đã
đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng
kinh tế cao, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa
phương, tăng thu ngân sách, giải quyết hơn 20.000 việc làm, nhất là làm
cho đời sống của người lao động ngày càng phát triển. Vai trò của người
lao động ngày càng được khẳng định, đời sống vật chất và tinh thần được
quan tâm hơn, nhưng những bức xúc giữa họ và chủ doanh nghiệp cũng
xuất hiện. Bộ luật Lao động 1994 và sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006,
2007 đã thúc đẩy và tạo nền tảng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên
khi tham gia vào quan hệ lao động cũng như từng bước hướng các quan hệ
này vào quỹ đạo chế tài từ luật định. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
8
Biểu đồ 1: Tình hình đình công Việt Nam từ 1995-2009.
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2010.
Năm 2006, Việt Nam sửa đổi bổ sung Chương 14 Bộ luật Lao động về
giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công. Đồng thời Chính phủ
điều chỉnh mức lương tối thiểu để giảm đình công nhưng năm 2007, 2008 số
vụ đình công không giảm. Từ năm 1995-2005 số vụ đình công tại Việt Nam
khoảng 2.931 vụ. So với năm 1995, mỗi năm chỉ tăng khoảng gấp 2,5 lần
nhưng năm 2006 đình công lại tăng hơn gấp 6 lần, năm 2007 tăng gấp 9 lần
và năm 2008 tăng 13,3 lần. Riêng năm 2009, các doanh nghiệp chịu tác động
của khủng hoảng kinh tế thế giới nên hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó
khăn hơn, nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp giảm xuống, đồng
thời lương tối thiểu tại khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng bình quân khoảng từ 9 đến 13% nên số vụ
đình công năm 2009 giảm 70% so với năm 2008.
Tuy nhiên, việc tăng lương tối thiểu sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp nên về lâu dài việc tăng lương tối thiểu liên tục sẽ
ảnh hưởng đến tổng đầu tư của nền kinh tế. Do vậy, Nhà nước khuyến khích
các doanh nghiệp tự thương lượng lương nên năng lực của Công đoàn cơ sở
có ý nghĩa then chốt trong việc thương lượng lợi ích cho người lao động.
Đặc điểm các vụ tranh chấp lao động dẫn đến ngừng việc, đình công
tại Việt Nam là tập trung chủ yếu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
10
ngoài sử dụng nhiều lao động. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thường mang đến nhiều vốn, công nghệ, tư duy quản lý hiệu quả hơn so với
các doanh nghiệp trong nước đồng thời yêu cầu năng suất lao động của người
lao động phải cao hơn. Người lao động làm việc tại khu vực có vốn đầu tư
việc, đình công tăng nhanh mà Công đoàn cơ sở không đại diện được cho
người lao động.
Trước tình hình đó việc tìm hiểu, nghiên cứu, xem xét mọi khía cạnh
của tổ chức công đoàn khi thể hiện vai trò của mình trong quá trình giải quyết
tranh chấp lao động là cần thiết và có tính chất rất thực tiễn. Qua đó có thể
đưa ra những mặt hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế đó và
những kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể của pháp luật ảnh
hưởng đến quá trình hoạt động của công đoàn nhằm tạo ra một hành lang
pháp lý giúp cho công đoàn thực hiện tốt chức năng đại diện và bảo vệ trong
giai đoạn mới. Mặc dù hệ thống pháp luật đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung và
vấn đề này cũng đã được sự quan tâm đóng góp của nhiều người nhưng cho
đến nay hoạt động của tổ chức công đoàn vẫn gặp phải những lúng túng, khó
khăn, nhiều vấn đề còn chưa được quan tâm đề cập hoặc còn bỏ ngỏ.
Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan và cấp bách trên, tác giả muốn
tham gia đóng góp vào hoạt động xây dựng, đánh giá và hoàn thiện hệ thống
pháp luật lao động nói chung và trong lĩnh vực đại diện, bảo vệ người lao
động khi xảy ra tranh chấp lao động của tổ chức công đoàn nói riêng, cũng
như để nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của tổ chức công đoàn. Do đó
12
tác giả chọn đề tài "Vai trò của công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp
lao động tại khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (qua thực tiễn tỉnh
Thanh Hóa)" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Diễn biến của quan hệ lao động tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay là
đề tài thu hút rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên cứu của
TS.Chang Hee Lee (2006) cho thấy đình công là hiện tượng tự nhiên của quá
trình chuyển đổi quan hệ lao động khi kinh tế ngày một phát triển hơn và tùy
bản Lao động ấn hành năm 2003. Trong đó có nêu một số giải pháp cơ bản nhằm
cải thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Sổ tay pháp luật lao động (trong khuôn khổ của dự án quan hệ lao
động ILO/ Việt Nam): Giới thiệu những nội dung cơ bản và thiết yếu của
pháp luật lao động Việt Nam, về quyền và nghĩa vụ cơ bản cũng như trách
nhiệm của các bên trong quan hệ lao động.
- "Vài ý kiến về vấn đề cải cách tiền lương Việt Nam hiện nay", của
PGS.TS Trần Văn Thiện, đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 24/2005;
- "Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương", của TS.Lê Hồng Tiến, đăng
trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 86/2006;
- Luận án Tiến sĩ về đề tài: "Một số vấn đề về quan hệ lao động tại các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế (khảo sát ở Thành phố Hồ Chí
Minh)", của Vũ Việt Hằng, năm 2004, nêu lên cơ sở lý thuyết về quan hệ lao
động trong nền kinh tế thị trường. Phân tích thực trạng quan hệ lao động ở các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam. Một số giải pháp thích hợp góp phần hoàn thiện quan hệ lao động
tại hai loại hình doanh nghiệp kể trên.
- Luận án Tiến sĩ về đề tài "Đổi mới quan hệ lao động trong quá trình
hình thành nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", của Lê Văn Minh, năm 1993,
đã xác định các khái niệm, nội dung, tính chất, các chủ thể cấu thành quan hệ
14
lao động. Mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và quan hệ lao động. Phân tích,
đánh giá quá trình hình thành và hiện trạng các mô hình, chính sách quan hệ
lao động ở nước ta hiện nay.
- Nổi bật có Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Quân với đề tài: "Hoàn
thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở
có biện pháp xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, hiệu quả, là động lực
quan trọng trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ trong khu vực
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và
thu hút đầu tư nước ngoài, hạn chế tranh chấp lao động và đình công xảy ra.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là công nhân viên chức
lao động, đoàn viên công đoàn và hoạt động của công đoàn các cấp.
Nghiên cứu quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người
lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua thực tiễn
tại Thanh Hóa.
Đối tượng khảo sát là công nhân lao động, người sử dụng lao động và
Công đoàn cơ sở một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thanh Hóa.
Đề tài tiếp cận nghiên cứu vấn đề từ nhiều phía trong quan hệ lao động
như: Người sử dụng lao động, người lao động, Công đoàn cơ sở các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan quản lý lao động ở Thanh Hóa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
Cơ sở lý luận là tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương đường
lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hồi cứu, sưu tầm, tra cứu thu thập và chọn lọc thông tin
có liên quan. Các văn bản pháp luật quy định về quan hệ lao động nói chung
và quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng;
các báo cáo về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thanh Hóa, về quan
17
hệ lao động, hoạt động công đoàn trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.1. Vai trò của vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đối với việc phát triển
kinh tế Việt Nam
Vốn và lao động là hai yếu tố quan trọng tạo nguồn tăng trưởng kinh
tế của các quốc gia. Các nước đang phát triển thường thiếu vốn để tạo việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng nên vốn đầu tư nước ngoài
là đối tượng thu hút đầu tư của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các nhà
đầu tư nước ngoài thường chọn đầu tư vào các nước có nguồn lao động rẻ,
giàu tài nguyên và chính trị ổn định. Vào cuối những năm 80 và đầu những
năm 90, Việt Nam là nước có nền kinh tế xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu, có
lực lượng lao động phổ thông dồi dào, giá cả sức lao động thấp và môi trường
chính trị ổn định, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài liên tục cải thiện theo
hướng có lợi cho các nhà đầu tư nên rất nhiều yếu tố thuận lợi thu hút vốn đầu
tư nước ngoài giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy kinh tế
phát triển.
Trước năm 1986, Việt Nam quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch, tập
trung, tỷ lệ lạm phát cao (700% vào năm 1986). Nền sản xuất trong nước bị
đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu, nền kinh tế thiếu vốn trầm trọng. Năm 1986,
Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần trong đó có kinh tế nước, kinh tế tư nhân. Năm 1988, Luật đầu tư nước
ngoài có hiệu lực đánh dấu sự thừa nhận chính thức đầu tư nước ngoài trong
19
nền kinh tế Việt Nam và từ đó các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quan tâm
đến cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Đến năm 1995, Bộ luật Lao động được ban
hành tạo cơ sở pháp lý thống nhất điều chỉnh các quan hệ lao động trong nền
kinh tế nhiều thành phần. Tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư nước ngoài trong
Năm 2007, tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
cao nhất. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều trong năm 2007, 2008 đã
dẫn đến nguồn vốn rẻ hơn. Các ngân hàng cho vay với lãi suất thấp nên tín
dụng trong nước tăng đồng thời tăng cung tiền trong nền kinh tế dẫn đến lạm
phát tăng nhanh vào năm 2008 nhưng lương tối thiểu không điều chỉnh kịp
dẫn đến số vụ đình công cao nhất từ trước đến nay (800 vụ).
Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thực hiện
và tốc độ tăng số vụ đình công
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2008), Niên giám thống kê, Nxb Thống
kê, Hà Nội, (tr. 103) và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
1.1.2. Tình hình lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài
Sự phát triển của vốn đầu tư nước ngoài cũng kéo theo tỷ lệ lao động
làm việc tại khu vực này tăng lên. Năm 2008, tỷ lệ lao động làm việc tại khu
21
vực có vốn đầu tư nước ngoài là 3,73% tăng gấp 4 lần so với năm 2000. Tỷ lệ
lao động nữ trung bình tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng cao
hơn các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân trên 60%. Do vậy, các cuộc đình
công thường xảy ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sử dụng
nhiều lao động nữ.
Bộ luật Lao động qui định tại khoản 2, Điều 110 về việc ưu đãi, xét
giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Đây là chính
sách khuyến khích các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,
các ngành có sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động nữ.
Hình thức đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu
là 100% vốn nước ngoài. "Các nước đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các quốc
quyền lợi như: tiền lương, tiền thưởng, điều kiện lao động... Mặt khác, đời
sống người lao động còn nhiều khó khăn nên họ cần làm việc bằng mọi giá,
chấp nhận cả tăng ca, tăng giờ quá quy định trong khi chỉ hưởng mức thù lao
thấp, không tương xứng với mức lao động mà họ bỏ ra.
Bên cạnh đó, giá cả sinh hoạt (lương thực, thực phẩm, tiền thuê nhà
trọ, các dịch vụ thiết yếu khác) tăng nhanh hơn so với mức tăng tiền lương,
nên thu nhập thực tế của người lao động bị giảm sút, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động; đời sống tinh thần của
người lao động cũng hết sức khó khăn, nhất là khu công nghiệp, khu kinh tế
tập trung đông công nhân lao động. Tình trạng không có khu vui chơi, giải trí
sau giờ làm việc, thiếu các thiết chế văn hóa, nơi giữ trẻ... Điều này đã dẫn
đến tình trạng các cuộc ngừng việc tập thể gần đây đều có yêu sách tăng
lương, tăng thưởng và các chế độ phúc lợi khác.
- Về phía quản lý nhà nước:
+ Hệ thống chính sách, pháp luật đối với công nhân trong các thành
phần kinh tế chưa đồng bộ, vai trò điều tiết của Nhà nước đối với chính sách
xã hội, nhất là chính sách đối với công nhân lao động, như tiền lương, phúc
lợi xã hội và các chính sách xã hội khác còn chậm, chưa hiệu quả, chưa hợp
lý, điển hình như các quy định về mức tiền lương tối thiểu còn quá thấp,
không đảm bảo được mức sống tối thiểu của người lao động.
24
+ Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên
môn nghề nghiệp, công tác giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống cách mạng,
giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho công nhân lao động, nhất là công nhân lao
động khu vực ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được
chú trọng, còn nhiều hạn chế, chưa tạo ra được sự phối hợp đồng bộ giữa các
cấp, các ngành nên chất lượng, hiệu quả không cao.
xưởng Công ty họp ngoài trời nắng nóng trên 370C với lý do công nhân làm
không đạt chỉ tiêu sản phẩm giao, trước sự việc như vậy công nhân của các tổ
sản xuất khác bắt đầu phản ứng lại hành vi đối xử của các chủ quản người
Trung Quốc và đến sáng ngày 9/6/2011 thì toàn bộ gần 3.000 công nhân công
ty ngừng việc đưa ra các yêu sách đòi công ty phải lập tức xử lý kỷ luật các
chủ quản có hành vi bắt công nhân họp ngoài trời nắng, đồng thời yêu cầu
công ty phải tăng lương, tăng các chế độ phúc lợi như tiền chuyên cần, tiền
ăn, tiền xăng xe…Vấn đề ở đây chính là tiền lương và các chế độ phúc lợi cho
công nhân lao động.
Thực tế các bức xúc này đã được Công đoàn cơ sở tập hợp đề nghị
doanh nghiệp giải quyết, lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận thấy nhưng lại đánh
giá không đúng về mức độ nghiêm trọng của sự việc vì nghĩ rằng mình làm
đúng quy định của pháp luật. Vì thế lãnh đạo doanh nghiệp đã phản ứng quá
chậm, đồng thời cách giải quyết cũng mang tính áp đặt hơn là tìm hiểu sâu xa
nguyên nhân để từ đó có một giải pháp toàn diện. Chính điều này đã dẫn đến
tình trạng người lao động không tin tưởng vào công đoàn (vì cho rằng công
đoàn đã tập hợp các kiến nghị của người lao động đưa lên đề nghị lãnh đạo
doanh nghiệp giải quyết nhưng chờ mãi doanh nghiệp vẫn không giải quyết),
và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến ngừng
việc tự phát của người lao động.
Tóm lại, vốn đầu tư nước ngoài, tiền lương và quan hệ lao động có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau thúc đẩy kinh tế phát triển. Do vậy,
song song với các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có
các chính sách tương ứng để hỗ trợ quan hệ lao động phát triển hài hòa, giảm
26
đình công tự phát thông qua việc thương lượng tiền lương và các lợi ích của
người lao động một cách có trình tự. Một trong những chính sách đó là hỗ trợ