Đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Ph-ơng Thủy
Chứng minh trong thủ tục giải quyết
tranh chấp kinh doanh tại tòa án
luận văn thạc sĩ luật học
hà nội Năm 2006
Đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị ph-ơng thủy
Chứng minh trong thủ tục giải quyết
tranh chấp kinh doanh tại tòa án
chuyên ngành : Luật
Mã số
Kinh tế
: 6.01.05
luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Phan chí hiếu
1.2. Các nội dung cấu thành của quá trình chứng minh .........................
17
1.2.1. Nghĩa vụ chứng minh của đương sự .........................................
17
1.2.2. Chứng cứ, nguồn chứng cứ, đối tượng chứng minh và phương
tiện chứng minh trong tranh chấp kinh doanh ...................................
22
1.3. Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài về chứng minh trong thủ
tục tố tụng dân sự ..................................................................................
29
1.3.1. Pháp luật các nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng .........
29
1.3.2. Pháp luật các nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi ...............
Chương 2 - chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành..........
35
38
2.1. Nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự .....................
2.3. Việc đánh giá và sử dụng chứng cứ của Toà án ..............................
61
Chương 3 - thực tiễn chứng minh trong thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh và
một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả các quy định về chứng minh ........................
68
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Toà án .............
68
3.2. Một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả các quy định về
chứng minh trong thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Tòa
án ..............................................................................................
75
3.2.1. Thực hiện triệt để nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về
đương sự ............................................................................................
75
3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm cho đương sự thực
hiện nghĩa vụ chứng minh .................................................................
77
đó toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các tình tiết khác nhau về vụ kiện đều được
xem xét, đánh giá công khai, khách quan và toàn diện, qua đó, làm sáng tỏ các
nội dung của vụ kiện, là cơ sở để Toà án đưa ra phán quyết có căn cứ và đúng
pháp luật, góp phần bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân trong xã hội.
Xuất phát từ tính chất của các quan hệ pháp luật nội dung nên với mỗi
hình thức tố tụng, trách nhiệm chứng minh trong thủ tục giải quyết các vụ án
tại Tòa án là khác nhau. Do đó, việc xác định các nội dung cấu thành của quá
trình chứng minh như: Nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể nào của quan
hệ pháp luật tố tụng, vị trí và vai trò của họ thể hiện ra sao đối với hoạt động
cung cấp, thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ, các cơ chế pháp lý cần
thiết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chứng minh đạt hiệu quả... có ý nghĩa vô
cùng quan trọng, quyết định tới chất lượng của hoạt động chứng minh cũng
như tính đúng đắn của bản án.
Nếu như trong tố tụng hình sự, việc chứng minh tội phạm thuộc trách
nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng thì tố tụng dân sự có đặc trưng là
trách nhiệm chứng minh thuộc về các đương sự. Hoạt động xét xử các vụ án
tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp quan
hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng
về địa vị pháp lý mà trong đó mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh
1
những tình tiết mà mình đã viện dẫn, làm cơ sở cho những yêu cầu của mình,
hay nói một cách giản đơn hơn là: “Ai khẳng định một sự việc gì phải chứng
minh cho sự việc ấy”. Do vậy, quá trình chứng minh trong thủ tục giải quyết
tranh chấp kinh doanh gắn liền với việc các đương sự thực hiện nghĩa vụ cung
cấp các chứng cứ, tài liệu cho Toà án để chứng tỏ cho Toà án và những
người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của
điều kiện BLTTDS mới được thực thi và Việt Nam đang trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế thì việc nghiên cứu đề tài: “Chứng minh trong thủ tục
giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Tòa án” là một yêu cầu cấp thiết có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Đồng thời góp phần vào việc xây dựng cơ
chế và các biện pháp đảm bảo cho các quy định của BLTTDS về giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại được thực thi có hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những quy định về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong BLTTDS
năm 2004 được xem là một trong những điểm mới nổi bật so với
PLTTGQCVAKT 1994 và nó có tác động trực tiếp tới quy trình giải quyết
các tranh chấp của Toà án, làm thay đổi căn bản so với thủ tục tố tụng trước
đây. Do đó, các chế định về chứng minh trong thủ tục tố tụng dân sự luôn
được sự quan tâm không chỉ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ
thể kinh doanh mà còn gây sự chú ý cho các nhà nghiên cứu trước và sau khi
BLTTDS ra đời. Bởi vậy, đã có nhiều bài viết về khía cạnh lý luận và pháp lý
của vấn đề này trên các báo, tạp chí khoa học, kỷ yếu như: Tạp chí kiểm sát
số tháng 01/2005 – Những nguyên tắc tố tụng dân sự đặc trưng trong Bộ luật
Tố tụng dân sự; Tạp chí Toà án số tháng 10, 11/2004 - Một vài suy nghĩ về
vấn đề chứng cứ và chứng minh được quy định trong BLTTDS; Kỷ yếu dự án
VIE/95/017 - Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam của Tòa án nhân dân
3
tối cao; Những vấn đề cơ bản của BLTTDS 2004…. đã cho thấy vị trí và vai
trò quan trọng của chứng minh trong hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự
tại Toà án nói chung và tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng.
Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên mới chỉ từng bước tháo gỡ và giải
quyết những vấn đề riêng biệt, hoặc chỉ tập trung vào nghiên cứu về tố tụng
dân sự nói chung trong khi nhiều nội dung có ý nghĩa quan trọng về lý luận và
hiện nghĩa vụ chứng minh, vai trò của Toà án trong việc đánh giá, sử dụng
chứng cứ.
- Những quy định của pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên
thế giới như: Anh, Mỹ, Trung Quốc, Thuỵ Điển…về quá trình chứng minh
nhằm so sánh và tham khảo.
- Thực tiễn của quá trình chứng minh trong thủ tục giải quyết tranh
chấp kinh doanh tại Toà án thông qua các số liệu thống kê và các vụ án cụ
thể.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Những đặc thù trong hoạt động
chứng minh đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phân tích, chứng minh,
tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học để làm
sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
5
Để minh họa cho những lý luận, tác giả đã tham khảo những bản án,
quyết định của Toà án về giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh cụ thể; các
báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề cuả ngành Toà án nhân dân về công tác
xét xử án kinh doanh trong những năm gần đây.
6. Đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
- Phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên
chấp kinh doanh tại Toà án
1.1.1. Khái niệm chứng minh
Chứng minh trong giải quyết tranh chấp được biết đến ngay từ những
thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu về lịch sử pháp luật
đều thống nhất hoạt động chứng minh thường gắn liền với quá trình tranh
tụng - loại hình tố tụng đầu tiên được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau này được
đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.
Trong thời La Mã, loại hình tố tụng xuất hiện sớm nhất là tố tụng
theo nghi thức (legisactioné). Theo Luật XII bảng, để bắt đầu xét
xử, các bên phải có mặt trước quan chấp chính. Nguyên đơn (chủ
nợ) có quyền dẫn giải bị đơn (người mắc nợ) đến toà. Trước quan
chấp chính, các bên nguyên và bên bị phải phát ngôn theo quy định
về câu chữ và những hành vi tượng trưng. Kết thúc quá trình tự xét
xử này là litis contestatio (thụ lý tranh chấp có người làm chứng)
hoặc là sự khẳng định đối tượng tranh chấp trước các nhân chứng
7
và chuyển tranh chấp cho quan toà giải quyết, sau đó quan toà sẽ
xét xử với sự có mặt của các bên và nhân chứng. Tại đây, các
chứng cứ mà các bên đương sự nêu ra được thẩm định và thông
qua án quyết. [23, tr.235-238]
Tiếp theo, quá trình chứng minh này được thay đổi cùng với sự ra đời
của hình thức tố tụng tranh tụng legisactiones formular (tố tụng công thức)
trong đó hoạt động chứng minh được thực hiện thông qua việc: “Bên nguyên
đơn và bị đơn đưa ra các chứng cứ, sau đó quan toà thu thập lại rồi chuyển
cho toà, chánh án toà là người đưa ra phán quyết cuối cùng” [23, tr.241].
Cùng với thời gian, quá trình chứng minh được kế thừa và phát triển
với nội dung và mức độ khác nhau trong khoa học luật tố tụng kinh tế và dân
phán sẽ là người thứ ba đứng trung gian và ra quyết định và có thái
độ vô tư, họ là trọng tài. [46, tr.5-6]
Ở Việt Nam, khái niệm chứng minh có thể được nhận xét dưới các
bình diện dưới đây:
Về mặt ngôn ngữ:
Theo từ điển tiếng Việt năm 2003 thì “Chứng minh là làm cho thấy
rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ” [30, tr.192]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995: “Chứng minh là một
kiểu lập luận. Đó là quá trình tư duy sử dụng nhiều lý lẽ khác nhau, gọi là
luận cứ để bảo vệ sự đúng đắn của một hoặc nhiều tư tưởng khác nhau, gọi là
luận đề”. [29, tr.547]
Theo cách giải thích này thì chứng minh là quá trình giải quyết vụ
kiện theo đó đương sự làm rõ sự thật khách quan của vụ kiện thông qua việc
đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
9
Về mặt pháp lý: Khái niệm chứng minh đã chính thức được ghi nhận
trong các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án lao động năm 1996. Trong đó tại Điều 3 PLTTGQCVAKT quy
định: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ
quyền lợi của mình”. Trong việc giải quyết vụ án kinh tế, đương sự có nghĩa
vụ cung cấp, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Tòa án
không có nghĩa vụ điều tra, xác minh về sự thật của vụ án.
Các quy định liên quan đến chứng minh và chứng cứ tiếp tục được kế
thừa và phát triển trong BLTTDS, theo đó: “Các đương sự có quyền và nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có
căn cứ và hợp pháp” (Điều 6).
luật trên cơ sở các thủ tục được quy định bởi pháp luật tố tụng. Để có thể tìm
ra chân lý, xác định sự thật khách quan mà từ đó phát sinh tranh chấp thì các
chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng phải:
- Phát huy tính chủ động tích cực trong cung cấp, thu thập, nghiên cứu
và đánh giá chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác,
khách quan và đầy đủ;
- Đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định
của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quan hệ pháp luật mà từ
đó phát sinh tranh chấp.
Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến
việc làm rõ quyền và nghĩa vụ đích thực của các bên theo đúng quy định của
pháp luật. Tất cả các hoạt động như: thu thập, cung cấp, nghiên cứu, đánh giá
và sử dụng chứng cứ …đều có thể hiểu là một trong những công đoạn của quá
trình chứng minh.
11
Từ những phân tích kể trên có thể đi đến kết luận: Chứng minh trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh là quá trình xác định sự thật khách quan về
vụ kiện được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, theo đó các các chủ thể tố tụng sử
dụng chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để làm rõ các sự kiện, tình tiết cuả vụ
án.
Khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, Toà án chủ yếu căn cứ vào các
chứng cứ do đương sự đưa ra. Đương sự phải cung cấp cho Toà án những
chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình. Mỗi vụ án kinh
doanh, thương mại phát sinh tại Toà án thường chứa đựng những mâu thuẫn
nhất định giữa các bên đương sự, nên rất phức tạp. Các tranh chấp này được
phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh và đều có mục
đó…để mỗi bên tiếp tục củng cố các chứng cứ, lập luận, lý lẽ của mình.
Trong trường hợp Thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình
chưa đầy đủ để giải quyết vụ kiện thì Thẩm phán yêu cầu các bên đương sự
cung cấp thêm chứng cứ hoặc triệu tập các bên để họ đối chất với nhau.
Sở dĩ Toà án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì Toà án
là cơ quan xét xử, Thẩm phán là người trung gian khách quan đứng giữa hai
bên đương sự. Nếu để Thẩm phán tiến hành các công việc như tìm kiếm, thu
thập chứng cứ thì có thể dẫn đến không đảm bảo khách quan trong quá trình
giải quyết vụ kiện, không tôn trọng quyền tự định đoạt, đồng thời không phát
huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các
đương sự đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.
1.1.1.2 Chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh gắn liền
với hoạt động thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ
13
Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ
thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ án mà còn thể hiện ở chỗ
phải làm cho mọi người “thấy rõ là có thật, là đúng”. Do vậy, các phương
thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh cũng rất đa dạng. Nhưng để thực hiện được mục đích,
nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra
được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến tranh chấp.
Các hoạt động chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết
vụ án và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng. Trong
đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ là chủ yếu
và mang tính quyết định. Vì vậy quá trình giải quyết vụ án là quá trình thực
hiện các hoạt động chứng minh gồm cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh
giá chứng cứ của các chủ thể chứng minh và chủ thể có nghĩa vụ chứng minh
nghĩa vụ chứng minh tốt hơn đương sự trong tranh chấp dân sự. Điều này
cũng lý giải vì sao, đa phần các chứng cứ trong các vụ án kinh doanh thương
mại đều là chứng cứ viết, trong đó chủ yếu thể hiện ở bản tự khai. Còn chứng
cứ viết trong tranh chấp dân sự chủ yếu và phổ biến là biên bản ghi lời khai và
biên bản đối chất. Do vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ của Toà án trong thủ
tục giải quyết tranh chấp kinh doanh phần nhiều dựa vào những tài liệu,
chứng cứ do đương sự xuất trình.
Đánh giá chứng cứ là việc xem xét, tìm hiểu chứng cứ nhằm xác định giá
trị chứng minh của chứng cứ. Hoạt động này được Tòa án tiến hành và được
coi là hoạt động cuối cùng của quá trình chứng minh nhưng lại mang tính
quyết định vì Tòa án đưa ra nhận định về việc giải quyết vụ án .
1.1.2 Vai trò của chứng minh trong thủ tục giải quyết tranh chấp
kinh doanh
15
Tranh chấp kinh doanh thương mại được coi là dạng đặc biệt của tranh
chấp dân sự. Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản của các chủ thể tố tụng.
Kết quả giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào kết quả của hoạt động chứng
minh. Xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì chứng minh vẫn là biện pháp
duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ án. Vì vậy, chứng minh có
những vai trò cụ thể sau:
Chứng minh là biện pháp rất quan trọng để các đương sự làm rõ được
cơ sở quyền, lợi ích hợp pháp của họ trên cơ sở đó thuyết phục Toà án bảo vệ.
Trước Toà án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền và lợi
ích hợp pháp của họ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ có thể sẽ không
được Toà án bảo vệ. Vì trên thực tế, các Toà án cũng có thể có sai lầm trong
việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ tranh chấp. Điều này, một mặt dẫn
đến việc giải quyết án không đúng với sự thật, mặt khác làm cho đương sự
xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp luật mà các bên tham gia, từ đó xác
định đúng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Thông
qua chứng minh Tòa án có đường lối xét xử chính xác và thực hiện tốt vai trò
là “người trọng tài” trong vụ án, là người điều chỉnh cán cân công lý trên tinh
thần bảo vệ người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, bảo đảm sự
công bằng trong xã hội.
Hoạt động chứng minh còn bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng
quyền bình đẳng, tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các
đương sự nói riêng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án,
vì bản chất của chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh là quá
trình tranh tụng của các chủ thể tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật
nội dung mà từ đó phát sinh tranh chấp, xác định đúng các quyền và nghĩa vụ
của mỗi bên trong quan hệ đó. Quá trình này chỉ đạt được mục đích khi các
chủ thể tham gia chứng minh bình đẳng với nhau trước Toà án.
17
Chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh là một bảo đảm
cơ bản cho một nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng. Nó không
chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức
mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đẳng, công bằng về thực tế
của các các nhân, tổ chức đó, bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời để
hạn chế tối đa thiệt hại lợi ích của các chủ thể kinh doanh, góp phần bảo đảm
sự an toàn cho các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh, thương mại.
1.2 Các nội dung cấu thành của quá trình chứng minh
1.2.1 Nghĩa vụ chứng minh của đương sự
Tranh chấp kinh doanh được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về
quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ
pháp luật dân sự. Như vậy, sự vi phạm nghĩa vụ của một bên là nguyên nhân
dẫn đến tranh chấp giữa các bên.
phản yêu cầu của đương sự mà còn phải làm rõ được tất cả các vấn đề liên
quan đến vụ tranh chấp mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Khi đưa ra yêu
cầu, đương sự phải chỉ ra những căn cứ pháp lý của các yêu cầu. Khi quyết
định giải quyết vụ án kinh doanh của mình, Toà án cũng phải chỉ rõ quyết
định được dựa trên những căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý nào. Vì thế, nếu
xem xét ở góc độ cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi chủ thể tố
tụng trong phạm vi nhất định thì các chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ chứng
minh. Chẳng hạn, các đương sự phải chỉ ra quyền, lợi ích của họ phát sinh,
tồn tại trên cơ sở những tình tiết, sự kiện pháp lý nào; người làm chứng phải
chỉ ra thông tin họ cung cấp có nguồn gốc từ đâu…Vì vậy, nếu xem xét một
cách đầy đủ, biện chứng các hoạt động tố tụng của các chủ thể trong việc thực
hiện mục đích, nhiệm vụ chung của tố tụng thì chủ thể chứng minh trong
tranh chấp kinh doanh không chỉ là đương sự.
19
Các chủ thể chứng minh đều có quyền, nghĩa vụ chứng minh. Tuy
vậy, mỗi chủ thể tham gia tố tụng dân sự đều xuất phát từ những mục đích,
nhiệm vụ khác nhau nên quyền, nghĩa vụ chứng minh thể hiện ở những mức
độ khác nhau. Do đó, để bảo đảm hoạt động chứng minh trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh tiến hành có hiệu quả thì vấn đề đặt ra là phải xác định
được nghĩa vụ chứng minh của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự và Toà án trong việc làm rõ các tình tiết của vụ án.
Trong vụ tranh chấp kinh doanh, nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc
về đương sự. Mỗi một bên đương sự khi tham gia tố tụng đều cần phải chứng
minh tất cả các tình tiết, sự kiện của vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại mà
trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của người khác. Trong
mối tương quan giữa các đương sự thì nguyên đơn phải chứng minh trước vì
chính nguyên đơn là người chủ động làm phát sinh vụ kiện nên phải chứng
hiện khá tốt nghĩa vụ chứng mình. Ngay khi vụ án được Tòa án thụ lý, các
đương sự đã nắm bắt ngay mình phải xuất trình những tài liệu, chứng cứ gì để
chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình.
Khi tham gia tố tụng, các đương sự phải tích cực thực hiện nghĩa vụ
chứng minh của mình mà không được ỷ lại cho chủ thể khác thực hiện. Nếu
đương sự không tích cực thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình mà ỷ lại
cho chủ thể khác thực hiện thay thì có thể dẫn đến tình trạng có tình tiết của
vụ án không được làm sáng tỏ vì những người thực hiện thay có thể không
biết hết được sự việc và sẽ đem đến hậu quả bất lợi cho đương sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố
tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (thường là
các luật sư). Chứng minh là hoạt động khoa học mang tính pháp lý. Hiệu quả
của hoạt động chứng minh không chỉ phụ thuộc vào các chứng cứ, tình tiết, sự
kiện mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết luật pháp và tư duy lập luận của
21