Trọng tài vụ việc theo pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM THỊ HOA LỆ DIỄM
TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 60 38 50


NGƢỜI CAM ĐOAN Phạm Thị Hoa Lệ Diễm
MỤC LỤC
Trang

Lời cam đoan Mục lục

1.2.
Pháp luật Việt Nam về hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
Trọng tài vụ việc.
28
1.2.1.
Khái niệm, đặc điểm của Trọng tài vụ việc;
28
1.2.2.
Thành lập và hoạt động hội đồng Trọng tài vụ việc;
31
1.2.3.
So sánh hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc với
Trọng tài thường trực.
44
1.2.4.
Vai trò của Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
bằng Trọng tài vụ việc.
49

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA
TRỌNG TÀI VỤ VIỆC Ở VIỆT NAM
59
2.1.
Thực trạng về tình hình giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.
59
2.2.
Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt động trên của Trọng tài
thương mại Việt Nam.
67


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AAA Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ


DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
bảng, đồ
thị, biểu đồ
Tên bảng, đồ thị, biểu đồ
Trang
Bảng 2.1
Thống kê các vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm
Trọng tài quốc tế Việt Nam từ năm 1993 - 2002.
60
Bảng 2.2
Thống kê các vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài tại các
trung tâm Trọng tài ở Việt Nam trong các năm 2004, 2005,
2006.
62
Đồ thị 2.1
Mức độ ưu tiên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
64
Biểu đồ 2.1
Thực trạng sử dụng Trọng tài để giải quyết tranh chấp
64
Biểu đồ 2.2
Nguyên nhân các bên tranh chấp ít sử dụng Trọng tài để giải
quyết tranh chấp.
65


lợi cho sự ra đời và hoạt động của các trung tâm trọng tài. Có thể nói pháp lệnh là một
bước tiến tích cực, đưa pháp luật Việt Nam từng bước xích lại các quy tắc và chuẩn
mực quốc tế. Đây là một điều đáng lẽ là rất vui mừng cho các doanh nghiệp và thương
nhân khi hệ thống Tòa án đã trở nên quá tải với việc giải quyết các loại tranh chấp.
Song sau bảy năm triển khai trên thực tiễn, kể từ khi Pháp lệnh ra đời, kết quả cho thấy
các doanh nghiệp vẫn rất thờ ơ với trọng tài, thậm chí có nhiều doanh nhân còn không
hiểu biết gì về hình thức giải quyết này.
Trọng tài vụ việc (hay còn gọi là Trọng tài ad hoc) là một trong những hình thức
giải quyết tranh chấp của TTTM được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải
quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết. Bản
chất của hình thức Trọng tài này là đề cao thiện chí giải quyết vụ tranh chấp của các
bên đương sự. Do thủ tục tố tụng của Trọng tài vụ việc không bắt buộc phải tiến hành
2
theo quy tắc của một tổ chức Trọng tài nào mà do các bên tự thỏa thuận nên quyền tự
định đoạt của các bên tranh chấp là rất lớn, chỉ cần hai bên có thiện chí thì tranh chấp sẽ
được giải quyết nhanh gọn, thuận tiện. Trọng tài vụ việc có thể nói là phương thức giải
quyết rất thích hợp với các tranh chấp trong hoạt động thương mại.
ở Việt Nam tuy hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đã được hình
thành khá lâu nhưng phải đến khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời, Trọng tài vụ việc mới
chính thức được thừa nhận. Song các quy định trong pháp luật Việt Nam về hình thức
Trọng tài này vẫn còn sơ sài, chưa cụ thể chi tiết, vì vậy chưa thể hiện được hết những
tính năng ưu việt của loại hình này. Dẫn đến hình thức Trọng tài vụ việc vẫn là khá mới
mẻ với các doanh nghiệp và các vụ việc giải quyết bằng hình thức này vẫn còn rất ít ỏi,
chưa tương xứng với những tính năng ưu việt của nó.

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, những vấn đề pháp lý của TTTM
Việt nam theo Pháp luật về TTTM Việt nam, dựa trên những cơ sở sau đây:
1) Nghiên cứu, khái quát lý luận về Trọng tài thương mại.
2) Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành điều chỉnh về các hình thức Trọng tài nói chung và Trọng tài vụ
việc nói riêng.
3) Phân tích thực trạng của việc sử dụng Trọng tài vụ việc trong giải quyết các
tranh chấp thương mại của các doanh nghiệp và thương nhân Việt Nam.
4) Đưa ra những mặt hạn chế và tích cực của pháp luật hiện hành, qua đó đề ra
giải pháp khắc phục những hạn chế đó góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung những quy
định pháp lý liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ
việc nói riêng và Trọng tài nói chung.
3. Tình hình nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam và ý nghĩa lý luận của đề tài.
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu bao gồm: Luận văn tốt nghiệp đại
học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ về vấn đề Trọng tài thương mại. Ví dụ một vài
công trình nghiên cứu như: Luận án thạc sỹ luật học “Giải quyết tranh chấp thương mại
có yếu tố nước ngoài bằng TTTM Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, của Vũ
Thị Ngân Hà, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006); Luận án thạc sỹ luật học “Giải quyết
tranh chấp đầu tư nước ngoài bằng Trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập
quốc tế” của Nguyễn Thị Hường, Đại học Quốc Gia Hà Nội (2008); Luận án tiến sỹ
luật học, “Hoàn thiện pháp luật về tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, của Nguyễn
Thị Hoài Phương, Viện Nhà nước và Pháp luật (2007); Luận án tiến sỹ luật học. Hoàn
thiện pháp luật về TTTM của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, của Nguyễn
4
5
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG
MẠI

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm Trọng tài và Trọng tài thƣơng mại.
Dưới góc độ ngữ nghĩa, theo Từ điển Tiếng Việt “Trọng tài” là người được cử,
đề ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp.[39] Còn theo Từ điển Hán Việt thì
“Khi hai bên tranh chấp đứng ở giữa để phân xử gọi là trọng tài”.
Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy Trọng tài là phương thức giải quyết tranh
chấp “tư” lâu đời và thậm chí ra đời trước cả Tòa án (có thông tin về sự tồn tại của
Trọng tài từ thời Ai Cập, Hy Lạp cổ đại). Trọng tài được sử dụng rộng rãi nhất trong
quan hệ kinh doanh, thương mại nhưng cũng được sử dụng nhiều trong giải quyết các
tranh chấp khác như: lao động, dân sự, bảo vệ người tiêu dùng, gia đình và thậm chí
giải quyết các các tranh chấp giữa các quốc gia với nhà đầu tư nước ngoài. Hiện tại thì
Trọng tài được khuyến khích sử dụng tại hầu hết các nước trên thế giới vì những ưu
điểm của nó.
Theo WTO, Trọng tài là một trong những dịch vụ thương mại giống như nhiều
dịch vụ thương mại khác, tức là có yếu tố cạnh tranh và thị trường.[18]
Theo pháp lệnh TTTM Việt nam 2003 Trọng tài là phương thức giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến
hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh quy định.
Như vậy dù được xem xét ở góc độ nào đi nữa, Trọng tài trước hết được hiểu là
một phương thức để phân xử các tranh chấp. ở đây Trọng tài đóng vai trò người trung
gian (thứ ba) để dàn xếp giải quyết mâu thuẫn một cách hợp lý và công tâm. Người thứ

phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các hành vi liên
quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như vận chuyển hàng, thanh toán tiền mua hàng
qua hệ thống ngân hàng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997.
Việc xác định phạm vi điều chỉnh theo diện hẹp của Luật Thương mại 1997 trên thực tế
đã phát sinh nhiều vấn đề, không chỉ trong quá trình thực hiện các giao dịch thương
mại mà còn ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp thương mại, tiếp sau đó là
việc công nhận và cho thi hành các bản án, phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Thực
tế cho thấy nhiều bản án của toà án và phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đặc biệt là
các vụ tranh chấp liên quan đến đầu tư, xây dựng đã không được thực thi ở Việt Nam
do nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại.
Trong khi đó, ở các nước trên thế giới, khái niệm thương mại ngày càng được
mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm
7
kiếm lợi nhuận. Chẳng hạn như, Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản ngày
9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục
đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện
hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng. Luật Thương mại của Philippin tuy không
đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh là các hoạt động
nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận. Bộ luật
thương mại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệm thương mại khá rộng không chỉ bao
gồm việc mua bán hàng hoá mà cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín
dụng, thế chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh Cách hiểu khái niệm
thương mại nêu trên cũng tương đồng với cách hiểu trong một số Hiệp định quan trọng
của ASEAN, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại quốc tế gồm nhiều Hiệp định

Theo Pháp lệnh TTTM 2003 thì Trọng tài là “phương thức giải quyết tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại” và hoạt động thương mại được hiểu là “Việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi;
thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân
hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường
hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy
định của pháp luật”. Như vậy theo quy định của Pháp lệnh thì TTTM chỉ giải quyết các
tranh chấp trong lĩnh vực thương mại, giữa các chủ thể là cá nhân và tổ chức kinh
doanh. Tuy nhiên trong quá trình triển khai trên thực tế khái niệm này đã bộc lộ nhiều
điểm bất cập với thực tế cũng như với các quy định pháp luật hiện hành như: khó phân
biệt tranh chấp dân sự với tranh chấp thương mại dẫn đến phán quyết của Trọng tài dễ
bị Tòa án tuyên hủy, nhiều tranh chấp không được giải quyết vì không xuất phát từ
hành vi thương mại hay các bên không phải là “cá nhân, tổ chức kinh doanh”
Khắc phục hạn chế trên, Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời thay thế Pháp
lệnh đã có cách nhìn nhận mở rộng về khái niệm này, theo đó Trọng tài thương được
hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành
theo quy định của Luật này”, và mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của
TTTM không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thương mại mà cả các tranh chấp khác mà
pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. (Điều 2).
Có thể nói Luật TTTM hiện hành đã xây dựng được khái niệm “Trọng tài
thương mại” một cách hoàn chỉnh nhất, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn giải quyết
tranh chấp kinh doanh hiện nay và tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành của
trong nước cũng như trên thế giới.
9
10
lý đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Điều đó có nghĩa, bất cứ
hoạt động thương mại nào theo quy định của pháp luật chung, các bên có thể bắt đầu
định hướng việc giải quyết tranh chấp bằng việc ký kết hợp đồng có điều khoản về thỏa
thuận trọng tài. Tuy nhiên qua 6 năm áp dụng và thi hành trên thực tế đã bộc lộ một số
hạn chế nhất định về vấn đề này.
Thứ nhất, đã có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Thương mại” trong Pháp
lệnh. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của
trọng tài. Đó là các tranh chấp phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp liên quan đến việc
góp vốn, cổ phần, cổ phiếu liệu có được giải quyết bằng Trọng tài khi trong Điều 3
khoản 2 không liệt kê. Có ý kiến cho rằng các loại tranh chấp này đương nhiên thuộc
thẩm quyền của Trọng tài bởi vì việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu cũng như việc góp
vốn chính là hoạt động đầu tư, tài chính vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận. Hơn
nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương mại trong Pháp lệnh.
Theo đó, ngoài việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định “các hành
vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. Do vậy, bất kỳ quy định nào của
pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì Trọng tài đều có thẩm quyền
giải quyết.
Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết
các loại tranh chấp trên bởi vì các tranh chấp này không được liệt kê cụ thể tại Khoản 3
Điều 2 của Pháp lệnh. Do vậy, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp này theo quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Từ sự hiểu khác nhau về thuật ngữ “Thương mại” trong Pháp lệnh dẫn đến sự
khác nhau về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án và Trọng tài. Cụ thể, dựa

chối giải quyết vì các chủ thể này không phải là tổ chức kinh doanh. Điều này không
phù hợp với pháp luật và thực tiễn Trọng tài quốc tế vốn chỉ nhấn mạnh tiêu chí thoả
thuận, nghĩa là khi có thoả thuận của các bên chọn Trọng tài thì Trọng tài sẽ có thẩm
quyền. Còn tiêu chí chủ thể ký thoả thuận Trọng tài không có ý nghĩa quan trọng, thậm
chí trong một số trường hợp chủ thể ký thoả thuận Trọng tài là Nhà nước thì thoả thuận
Trọng tài vẫn có giá trị bởi vì bằng việc tự nguyện ký kết thoả thuận trọng tài, Nhà
nước đã “từ bỏ” quyền miễn trừ của mình. [40]
Do những bất cập trên Luật TTTM 2010 đã mở rộng phạm vi thẩm quyền của
Trọng tài cả về lĩnh vực tranh chấp và các bên tranh chấp. Về lĩnh vực tranh chấp:
Trọng tài được quyền giải quyết tranh chấp không chỉ trong thương mại mà cả các
12
tranh chấp khác. Vì trên thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài ở Việt
nam cho thấy việc phân biệt các vụ việc tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh
thương mại là rất khó, dẫn đến nhiều vụ việc không được thụ lý, nhiều phán quyết
Trọng tài dễ dàng bị Tòa án tuyên hủy vô hiệu do không đúng thẩm quyền vì cho rằng
vụ tranh chấp không xuất phát từ hành vi thương mại, cũng như khó khăn của Tòa án
và Trọng tài trong việc xác định thế nào là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Về các
bên tranh chấp: TTTM được giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên mà ít nhất
một trong các bên có hoạt động thương mại mà không nhất thiết phải là các tổ chức, cá
nhân kinh doanh như phân tích ở trên. Quy định này của Luật TTTM góp phần bảo
đảm cho thỏa thuận Trọng tài không bị vô hiệu, phán quyết Trọng tài không có nhiều
nguy cơ bị Tòa án tuyên hủy, tạo hành lang pháp lý rộng rãi, an toàn, vững chắc hơn
cho cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
- Thẩm quyền theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên tranh chấp

nhận”.[40]
Như vậy so với luật Trọng tài ở một số nước tiên tiến trên thế giới và Luật mẫu
UNCITRAL thì khái niệm “văn bản” của Luật TTTM nước ta đã có sự tương thích.
Theo Luật Mẫu thỏa thuận được coi là bằng văn bản nếu nó nằm trong một văn bản
được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc các hình thức
trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do
một bên đưa ra và bên kia không phản đối.
Luật Trọng tài Anh còn tiến một bước rất xa trong việc quy định phạm vi thỏa
thuận bằng văn bản. Theo đó, có một thỏa thuận bằng văn bản khi: thỏa thuận được lập
bằng văn bản (cho dù nó có được các bên ký hay không); thỏa thuận được lập thông
qua việc trao đổi các thông tin bằng văn bản, hoặc thỏa thuận được chứng minh bằng
văn bản. Thậm chí, trong quá trình tố tụng Trọng tài hoặc tố tụng tư pháp, nếu nếu một
thoả thuận không được xác lập bằng văn bản nhưng được một bên viện dẫn và bên kia
không phủ nhận thì việc trao đổi đó tạo thành một thỏa thuận bằng văn bản có giá trị
pháp lý. [35]
Và so với Pháp lệnh 2003 thì quy định về hình thức “văn bản” của Trọng tài
cũng có rất nhiều tiến bộ. Theo quy định của Pháp lệnh, nội hàm của khái niệm “văn
bản” còn khá chung chung, chưa cụ thể, chi tiết. Các hình thức được coi là thỏa thuận
bằng văn bản gồm: “thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc các hình thức văn bản
khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài” (Điều 9 khoản
1). Như vậy, quy định của Pháp lệnh về hình thức của thỏa thuận Trọng tài chưa tương
thích với Luật Mẫu và Luật Trọng tài các nước.
14
Từ sự đổi mới đó Luật TTTM đang xích lại gần pháp luật Trọng tài các nước


15
trường hợp, khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài, pháp luật Trọng tài các nước đều ưu
tiên giải quyết bằng Trọng tài. Luật Mẫu và luật Trọng tài các nước không đưa ra tiêu
chí phải xác định tên tổ chức Trọng tài cụ thể và không có quy định về trường hợp thỏa
thuận Trọng tài bị coi là vô hiệu nếu không chỉ rõ tên tổ chức Trọng tài có thẩm quyền
giải quyết vụ tranh chấp.
Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức Trọng tài uy tín trên thế giới đều không đưa
tên tổ chức mà chủ yếu là đưa Quy tắc tố tụng của mình vào điều khoản Trọng tài mẫu.
Ví dụ, Tòa án Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đưa ra điều khoản Trọng
tài mẫu như sau: “Tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới hợp đồng này
được giải quyết chung thẩm theo Quy tắc tố tụng Trọng tài của Phòng thương mại quốc
tế bởi một hoặc nhiều Trọng tài viên được chỉ định theo Quy tắc nêu trên”.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho
thấy, số lượng các Thỏa thuận Trọng tài không diễn đạt chính xác tên gọi của tổ chức
Trọng tài chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Việc Pháp lệnh TTTM đưa ra yêu cầu các bên phải
thỏa thuận bổ sung để xác định tên tổ chức Trọng tài cụ thể là điều không khả thi, vì
khi tranh chấp đã phát sinh thì các bên rất khó có cơ hội để thỏa thuận lại, đặc biệt là
bên vi phạm hợp đồng sẽ tìm mọi cách để lẩn tránh nghĩa vụ của mình.
Ngoài ra, việc đưa ra điều kiện coi Thỏa thuận Trọng tài vô hiệu khi không xác
định rõ tổ chức Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lại mâu thuẫn với quy
định của Điều 4 Pháp lệnh. Điều 4 cho phép tồn tại hai hình thức Trọng tài là Trọng tài
quy chế (do các Trung tâm Trọng tài tổ chức) và Trọng tài vụ việc (do các bên thành
lập). Trên thực tế, không bao giờ có tên một tổ chức Trọng tài cụ thể nếu các bên lựa
chọn hình thức Trọng tài vụ việc.
Các quy định trên của Luật TTTM đã dần tương thích với tinh thần Luật mẫu
của UNCITRAL và luật Trọng tài của các nước trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu

Trọng tài để giải quyết tranh chấp. Hội đồng Trọng tài gồm một hoặc một số lẻ Trọng
tài viên. Khi chỉ định Trọng tài viên các bên tranh chấp không bị ràng buộc bởi bất kỳ
danh sách Trọng tài viên nào. Các bên tranh chấp phải thỏa thuận với nhau về thủ tục
giải quyết tranh chấp mà họ cho là có thể phù hợp với diễn biến và sự việc của vụ tranh
chấp. Để tránh phức tạp các bên có thể lựa chọn quy tắc tố tụng sẵn có nào đó, ví dụ:
Bản Quy tắc Trọng tài của ủy ban Pháp luật thương mại Quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc
(UNCITRAL) hay quy tắc tố tụng của các tổ chức Trọng tài thường trực ở quốc gia sở
tại. Giải quyết bằng Trọng tài vụ việc các bên tranh chấp có quyền tự định đoạt rất lớn,
từ việc chọn Trọng tài viên, chọn thủ tục tố tụng, chọn thời gian và địa điểm giải quyết
tranh chấp tất cả do hai bên tự thỏa thuận với nhau còn các Trọng tài viên chỉ việc
tuân theo.[31]
17
- Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế)
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thường
xuyên tồn tại để giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình khi được các bên
tranh chấp có yêu cầu. Thông thường Trọng tài thường trực có điều lệ hoạt động riêng,
có trụ sở, bộ máy giúp việc, danh sách Trọng tài viên và quy tắc tố tụng riêng của mình.
Hoạt động của Trọng tài thường trực thể hiện tính chuyên nghiệp cao, rất được tin cậy
trong việc giải quyết tranh chấp. Trên thế giới Trọng tài thường trực thường tồn tại
dưới dạng các trung tâm Trọng tài (arbitration centre) hoặc hội đồng Trọng tài
(arbitration committee).
Phần lớn các tổ chức Trọng tài có uy tín trên thế giới đều được thành lập theo
mô hình này. Ví dụ: Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông (HKIAC), Trung tâm
Trọng tài quốc tế Kualalămpua, Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore Đặc điểm của

càng phổ biến và cũng thừa nhận cả hai hình thức: Trọng tài vụ việc và Trọng tài quy
chế do các trung tâm Trọng tài thực hiện. Ví dụ: ở Nhật Bản có Hiệp hội trọng tài, ở
Hàn Quốc có ủy ban Trọng tài thương mại, ở Thái Lan có Vụ Trọng tài thuộc Bộ Tư
Pháp Nhưng Luật Trọng tài của mỗi nước đều có những điểm khác nhau, phụ thuộc
vào tính chất của các quan hệ kinh tế và phương pháp giải quyết của Trọng tài mỗi
nước.[30].
1.1.3.2. Các hình thức Trọng tài ở Việt Nam
Các văn bản pháp luật trước đây về Trọng tài của Việt Nam chỉ quy định một
hình thức Trọng tài duy nhất là Trọng tài thường trực, được tổ chức dưới hình thức các
trung tâm Trọng tài như: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và các Trung tâm
Trọng tài kinh tế theo Nghị định 116/CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động của Trọng tài kinh tế.
Pháp lệnh TTTM 2003 quy định hai hình thức Trọng tài là các Trung tâm Trọng
tài (giống như Trọng tài thường trực ở nước ngoài) và Hội đồng Trọng tài do các bên
thành lập (giống Trọng tài vụ việc/ Trọng tài adhoc). Luật TTTM 2010 quy định hai
hình thức Trọng tài là Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc.
- Các trung tâm trọng tài/ Trọng tài quy chế:
Các Trung tâm Trọng tài là các tổ chức Trọng tài thường xuyên tồn tại để giải
quyết nhiều tranh chấp khác nhau. Hình thức trọng tài này có các đặc trưng sau:
- Thường xuyên tồn tại để giải quyết nhiều tranh chấp khác nhau.
- Có cơ cấu tổ chức thống nhất, chặt chẽ. Theo Luật TTTM 2010, Pháp lệnh
TTTM 2003 thì Trọng tài thường trực được tổ chức dưới hình thức Trung tâm trọng tài.
Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, hoạt động trên cơ
sở điều lệ riêng. Các Trung tâm Trọng tài có Ban điều hành và các Trọng tài viên. Ban
điều hành gồm có: Chủ tịch Trung tâm trọng tài, một hoặc các Phó Chủ tịch. Ban điều
hành có thể có Tổng thư ký, do Chủ tịch Trung tâm Trọng tài cử. Các Trọng tài viên
phải có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm.

bị hạn chế trong bất kỳ danh sách Trọng tài viên nào, thủ tục giải quyết kinh hoạt mềm
dẻo phù hợp với đặc thù và yêu cầu của từng tranh chấp cụ thể; phí Trọng tài thấp
nhưng trong điều kiện thực tế của Việt nam hiện nay thì hình thức Trọng tài này chưa
phát huy được hiệu quả.

Trích đoạn Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Quy định này được ghi nhận tại khoản 3 Điều 99 BLTTDS, Điều 48 Luật TTTM với mục đích tạo Tòa án hỗ trợ Trọng tài vụ việc trong việc đăng ký phán quyết: Đây là quy Thực trạng về tình hình giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng trọng tài 1 Đối với Trọng tài quy chế. Đối với Trọng tài vụ việc: Chế độ chính trị kinh tế của quốc gia.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status