Thủ tục tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THANH GIANG
THỦ TỤC TỐ TỤNG
CỦA TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Hoàng Thanh Giang

1.1.
Khái quát về trọng tài thương mại ở Việt Nam
5
1.1.1.
Trọng tài thương mại - hình thức giải quyết tranh chấp
thương mại
5
1.1.2.
Trọng tài thương mại - cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại
8
1.2.
Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế - một loại hình trọng
tài thương mại ở Việt Mam
10
1.2.1.
Bản chất của Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế
10
1.2.2.
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài thương mại
quốc tế
13
1.3.
Khái quát về tố tụng trọng tài thương mại
19
1.3.1.
Khái niệm tố tụng trọng tài thương mại
19
1.3.2.
Nội dung của pháp luật về tố tụng trọng tài thương mại
22

Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp thương
mại tại VIAC
60
2.2.2.
Những tồn tại, hạn chế trong giải quyết tranh chấp thương
mại tại VIAC
67
2.2.3.
Những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong giải quyết
tranh chấp thương mại tại VIAC
72

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI TẠI VIAC
77
3.1.
Hoàn thiện các quy định pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
77
3.2.
Hoàn thiện các quy định về tố tụng của viac
81
3.3.
Nâng cao năng lực, chất lượng viac và trọng tài viên
85

KẾT LUẬN
90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92

nhiệm và lựa chọn để giải quyết tranh chấp. VIAC có đội ngũ Trọng tài viên
là các chuyên gia có uy tín cao trong các lĩnh vực chuyên môn. Cơ chế giải
quyết tranh chấp tại VIAC nhanh chóng, linh hoạt, thân thiện giúp các bên
tranh chấp tiết kiệm thời gian và chi phí phát sinh.

7
Tuy nhiên, chất lượng giải quyết tranh chấp của VIAC còn nhiều hạn
chế, một số phán quyết không có hiệu lực thi hành do bị Tòa án các cấp hủy
quyết định, các tranh chấp chủ yếu là tranh chấp kinh doanh thương mại trong
nước, chất lượng trọng tài viên chưa theo kịp được yêu cầu của thực tiễn; thời
hạn giải quyết tranh chấp còn chậm; uy tín của Trung tâm chưa đạt đến tầm
quốc tế… Những hạn chế này có nguyên nhân từ sự thiếu hoàn chỉnh trong
các quy định pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam và đặc biệt là sự
thiếu hoàn thiện, chưa khoa học, hợp lý trong các quy định của thủ tục tố tụng
tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam.
Về mặt lý luận, chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn
diện cả về lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng của Trung tâm Trọng tài
quốc tế Việt Nam. Các công trình, sách bình luận, bài báo mới chỉ dừng ở
phân tích một số khía cạnh liên quan đến trình tự giải quyết tranh chấp tại
Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hoặc chỉ đề cập phân tích chung về
giải quyết tranh chấp thương mại tại trung tâm trọng tài trong các chương
giáo trình, sách tham khảo, luận văn thạc sĩ Các kết quả nghiên cứu mới chỉ
dừng ở một khía cạnh pháp lý hoặc vụ việc cụ thể.
Do đó, việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về trọng tài thương
mại, thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại và thực tiễn áp
dụng tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, phát hiện ra những bất cập, hạn
chế, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật trọng tài, hoàn thiện
Quy tắc tố tụng, nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp của Trung tâm
Trọng tài quốc tế Việt Nam là một đòi hỏi khách quan, mang tính cấp thiết về
lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ lý do này, tác giả lựa chọn vấn đề: "Thủ tục

quan điểm của các nhà khoa học, các học giả về vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu thủ tục tố tụng của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt
Nam dưới góc độ Luật kinh tế, nghiên cứu có hệ thống các vấn đề thuộc về cơ
sở lý luận về trọng tài thương mại và thủ tục tố tụng trọng tài thương mại,
phân tích những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại

9
tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh
chấp tại Trung tâm từ khi thành lập đến nay, từ đó kiến nghị các giải pháp
nâng cấp hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại tại Trung tâm Trọng tài
quốc tế Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật. Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học chuyên ngành như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn
giải, suy diễn logic… Đồng thời, việc nghiên cứu còn dựa vào số liệu thống
kê hàng năm của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và các vụ việc trong
thực tiễn xét xử, cũng như thông tin trên mạng Internet để tổng hợp và làm
sáng tỏ các tri thức khoa học luật kinh tế và luận chứng các vấn đề tương ứng
được nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Trọng tài thương mại và thủ tục
tố tụng trọng tài thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
và thực tiễn áp dụng tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh

và được các nhà kinh doanh ưa chuộng. Hình thức giải quyết tranh chấp này

11
ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trên thương trường quốc tế. Ưu
điểm giải quyết bằng phương thức trọng tài thương mại là đảm bảo sự khách
quan của phương thức giải quyết tranh chấp, tính bí mật của hoạt động sản
xuất kinh doanh và sự giải quyết nhanh chóng, dứt điểm linh hoạt và tự chủ.
Định nghĩa về trọng tài, Từ điển Kinh tế thị trường giải thích trọng tài
với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp:
Trọng tài là một phương pháp giải quyết hòa bình các vụ
tranh chấp, là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc,
những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công
bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu
lực ràng buộc với cả hai bên. Người thứ ba này là người trọng tài
do hai bên chọn hoặc là cơ quan trọng tài [58, tr. 34].
Theo Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ: "Trọng tài là cách thức giải quyết
tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách
quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt
buộc các bên tranh chấp phải thi hành" [Dẫn theo: 38, tr. 34].
Theo Giáo sư Philipe Fouchar: "Trọng tài là một phương thức giải
quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuận giao cho một cá nhân (Trọng tài
viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau" [26, tr. 23].
Cùng quan điểm coi trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp,
cuốn "Đạo đức và kỹ năng hành nghề của luật sư trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa" đã định nghĩa về trọng tài như sau: "Trọng tài là
phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó, hai hoặc nhiều bên đưa vụ tranh
chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này tiến hành giải quyết
tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó" [12, tr. 183]. Giáo
trình Luật kinh tế (dùng cho hệ trung cấp) của Trường Đại học Luật Hà Nội
đưa ra định nghĩa: "Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua

động thương mại" được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 đã tiếp

13
cận được với pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước trên thế giới, cho
phép mở rộng phạm vi các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng
tài thương mại ở nước ta.
Qua phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa Trọng tài thương mại như
sau: Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó
các bên thỏa thuận đưa vụ việc ra trước một bên thứ ba trung lập (Trọng tài
viên hoặc Hội đồng trọng tài) để xem xét và ra phán quyết. Phán quyết của
bên thứ ba có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.
1.1.2. Trọng tài thƣơng mại - cơ quan giải quyết tranh chấp thƣơng mại
Xuất phát từ quan điểm coi trọng tài là một thiết chế tài phán, một số
quan điểm khoa học đã đưa ra định nghĩa về trọng tài thương mại:
1. Trọng tài bao gồm những cá nhân được các bên lựa chọn
để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các vụ việc dân sự của họ;
2. Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên
đương sự giao tranh chấp cho để xét xử [51, tr. 348].
Ngoài ra, Từ điển Luật học Anh - Mỹ của Black đã đưa ra khái niệm
về trọng tài dưới góc độ tố tụng, theo đó, trọng tài được nhìn nhận như một
quá trình: "Trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện
lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập (Trọng tài viên) sau khi nghe các bên
trình bày, sẽ ra quyết định có tính chất bắt buộc đối với các bên trong tranh
chấp ấy" [61, tr. 105].
Qua các định nghĩa về trọng tài nêu trên, có thể thấy rằng, quan điểm
coi trọng tài là một cơ quan để giải quyết tranh chấp thiên về mặt hình thức
nhiều hơn, nhìn nhận sự tồn tại thực tế của tổ chức trọng tài dưới dạng các
Trung tâm trọng tài - cơ quan tài phán độc lập, tồn tại song song với Tòa án.
Các định nghĩa về trọng tài nêu trên đều có cơ sở lý luận và thực tiễn,
chỉ khác ở góc độ xem xét và mức độ khái quát vấn đề. Tuy nhiên, Tất cả đều


15
trước khi giải quyết tranh chấp xảy ra, tồn tại độc lập, hoạt động một cách
thường xuyên, sắn sàng giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực
thương mại khi các đương sự yêu cầu. Trọng tài thường trực được tổ chức với
mô hình đa dạng, có thể là các trung tâm trọng tài đặt bên cạnh một cơ quan,
tổ chức khác hoặc có thể là các trung tâm trọng tài độc lập, thành lập dưới
hình thức công ty hoặc hiệp hội có đăng ký. Mỗi trung tâm trọng tài đều xây
dựng một bản điều lệ hoạt động và quy tắc tố tụng riêng trên cơ sở những quy
định của pháp luật trọng tài.
Tóm lại, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài tồn tại độc lập,
song song với Tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được
các bên đương sự lựa chọn.
1.2. TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ - MỘT LOẠI
HÌNH TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.2.1. Bản chất của Trung tâm Trọng tài thƣơng mại quốc tế
Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế là một loại hình trọng tài
thương mại, vì vậy, Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế mang đầy đủ bản
chất của trọng tài thương mại.
Trọng tài thương mại là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường và sự
phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp này chịu sự tác động lớn từ
trình độ phát triển của nền kinh tế. Khác với tòa án, trọng tài thương mại là tổ
chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân. Trọng tài không phải là một cơ
quan nhà nước, quyền lực của nó được hình thành trên cơ sở ý chí của các bên
tranh chấp. Quyền lực của trọng tài là "quyền lực hợp đồng" hay "quyền lực
đại diện", do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm; phán quyết của trọng tài
không mang tính quyền lực nhà nước mà mang tính đại diện cho ý chí của các
bên tranh chấp. Bản chất của trọng tài đã thể hiện sự độc lập của nó trong hệ
thống các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. Bản chất của trọng
tài được thể hiện qua những yếu tố chủ yếu sau:

giải quyết tranh chấp và tự nguyện thực hiện phương án đã đạt được, không

17
có bất cứ một phán quyết nào được đưa ra, kể cả trong trường hợp hòa giải
với sự tham gia của hòa giải viên. Ở một số nước, phán quyết của trọng tài
nếu không được tự nguyện thi hành thì một bên có quyền yêu cầu Tòa án
công nhận phán quyết và sau đó được thi hành như bản án của Tòa án. Luật
Trọng tài thương mại của Việt Nam quy định phán quyết trọng tài được thi
hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, không phải qua thủ
tục công nhận của Tòa án (Điều 67)
Có thể thấy sự hoàn thiện của các thuộc tính của trọng tài trong lịch sử
hình thành và phát triển của nó. Khi có tranh chấp các bên không thể tự giải
quyết được phải đưa vụ việc ra bên thứ ba trung lập. Trong giai đoạn đầu,
việc giải quyết của người thứ ba chỉ dừng lại ở việc xem xét nội dung tranh
chấp hướng các bên tới cách hiểu chung nhất và đưa ra ý kiến tham khảo cho
các bên. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của giải quyết tranh chấp là dứt
điểm, nhanh chóng nên các bên đã chấp nhận lựa chọn quyết định của bên thứ
ba là phán quyết cuối cùng nhằm kết thúc vụ tranh chấp. Phán quyết này phải
không trái với quy định pháp luật song quan trọng hơn nó phải đảm bảo sự
công bằng cho các bên dưới khía cạnh thương mại. Một phán quyết mang tính
thương mại sẽ có giá trị tự nguyện thi hành cao hơn phán quyết đơn thuần
tuân theo quy định của pháp luật vì các bên tranh chấp là những nhà kinh
doanh dễ dàng chấp nhận nó hơn.
Như vậy, bản chất của trọng tài thương mại, cũng như Trung tâm
trọng tài quốc tế, có sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Thỏa
thuận làm tiền đề cho phán quyết và phán quyết phải được đưa ra trên cơ sở
những vấn đề đã được thỏa thuận. Với bản chất "là sự thỏa thuận" và mang
tính "tài phán", trọng tài còn được coi là một "Tòa án tư". Tính "tòa án" thể
hiện ở chỗ trọng tài là cơ quan xét xử, có quyền đưa ra quyết định cuối cùng
có giá trị bắt buộc các bên phải thực hiện. Còn tính "tư" thể hiện ở chỗ trọng

Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu
và tài khoản riêng, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Trung tâm Trọng

19
tài quốc tế Việt Nam không phải là doanh nghiệp. Trung tâm có tài sản, ngân
sách riêng và hoạt động theo chế độ tự chủ về tài chính. Nguồn hình thành ngân
sách của Trung tâm bao gồm: Phí trọng tài; Phí hòa giải; Phí chỉ định Trọng tài
viên; Các khoản thu từ hoạt động hội thảo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nghiên cứu,
các dịch vụ hành chính, văn phòng; Các khoản tài trợ, đóng góp của các tổ
chức cá nhân trong và ngoài nước và các khoản thu khác từ các hoạt động của
Trung tâm. Phí trọng tài quy định tại Luật không phải là phí được điều chỉnh
bởi Pháp lệnh phí và lệ phí. Thực chất phí Trọng tài là khoản thu từ việc cung
cấp dịch vụ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm. Hoạt động
của Trung tâm Trọng tài không vì mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, thông qua
những hoạt động cung cấp dịch vụ Trọng tài nên Trung tâm Trọng tài có một
khoản thu nhất định từ phí Trọng tài nhưng khoản thu này rất nhỏ bên cạnh
khoản thu khác là thù lao cho các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài,
không có tính chất lợi nhuận như đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Khi mới thành lập, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như
các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và
bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế v.v
khi một trong các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài và các
bên có thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm Trọng tài quốc tế
Việt Nam hoặc có một điều ước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh
chấp ra trước Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (Điều 2, Điều 3 Điều lệ
tổ chức Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam).
Với đội ngũ Trọng tài viên là những người có kiến thức và kinh
nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật, ngoại thương, đầu tư, tài chính, ngân
hàng, vận tải, bảo hiểm các doanh nghiệp trong nước cũng có nhu cầu muốn

mặt. Trong trường hợp cả Chủ tịch và Phó Chủ tịch thường trực đều vắng mặt
thì một Phó Chủ tịch có thời gian làm Trọng tài viên lâu năm nhất tại Trung
tâm, thay mặt Chủ tịch điều hành và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền
của Chủ tịch.

21
Tổng thư ký là người được Chủ tịch cử, giúp Ban điều hành điều phối
hoạt động của Ban thư ký. Khi cần thiết, Chủ tịch Trung tâm có thể quyết
định thành lập các đơn vị trực thuộc và quy định chức năng, tổ chức của các
đơn vị.
Hội đồng khoa học pháp lý là đơn vị trực thuộc Trung tâm Trọng tài
quốc tế Việt Nam, có nhiệm vụ giúp Ban điều hành tổ chức nghiên cứu, tổng
kết, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Trung tâm; góp ý kiến xây
dựng chính sách, pháp luật khi được đề nghị hoặc có yêu cầu; cung cấp ý kiến
pháp lý khi có yêu cầu.
Viện nghiên cứu trọng tài là đơn vị trực thuộc của Trung tâm Trọng
tài quốc tế Việt Nam, có nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu, bồi dưỡng nghiệp vụ
về trọng tài, hòa giải và các phương thức giải quyết tranh chấp khác; tham gia
các đề tài nghiên cứu khoa học; biên dịch tài liệu; tổ chức hội nghị; hội thảo,
diễn đàn khoa học.
Trung tâm hòa giải cũng là đơn vị trực thuộc của Trung tâm Trọng tài
quốc tế Việt Nam, có nhiệm vụ tổ chức hoạt động giải quyết tranh chấp bằng
hòa giải theo quy định pháp luật.
Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam là những cá
nhân được Ban điều hành của Trung tâm xem xét, quyết định kết nạp Trọng
tài viên, khi có đủ điều kiện sau đây:
- Điều kiện chung: a) Tuổi từ 30 đến 70; b) Tốt nghiệp đại học và đã
qua thực tế công tác theo ngành đã học từ tám năm trở lên, trừ trường hợp
chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm; c) Cam kết
giải quyết vụ kiện một cách độc lập, khách quan, công bằng và nhanh chóng;

Về thủ tục tố tụng trọng tài, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
ban đầu có hai bản Quy tắc tố tụng: Quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế dùng để
giải quyết các tranh chấp quốc tế và Quy tắc tố tụng trọng tài trong nước dùng
để giải quyết các tranh chấp nội địa. Về cơ bản, hai bản quy tắc này giống
nhau. Sau khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại ra đời, Trung tâm đã xây dựng

23
một Quy tắc tố tụng thống nhất và bắt đầu áp dụng từ ngày 1/7/2004. Thực
hiện Luật Trọng tài thương mại 2010, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
ban hành Quy tắc tố tụng trọng tài mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2012.
Với việc Pháp lệnh Trọng tài thương mại được ban hành vào năm
2003, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt
Nam cũng như các Trung tâm Trọng tài linh tế thành lập theo Nghị định số
116/CP đều hoạt động theo quy định của Pháp lệnh và Luật này. Đến nay, cả
nước có 08 Trung tâm trọng tài đang hoạt động, trong đó có 05 Trung tâm
được thành lập từ trước khi Pháp lệnh được ban hành gồm: Trung tâm Trọng
tài quốc tế Việt Nam, Trung tâm Trọng tài thương mại Hà Nội, Trung tâm
Trọng tài thương mại Á Châu, Trung tâm Trọng tài thương mại Thành phố
Hồ Chí Minh, Trung tâm Trọng tài thương mại Cần Thơ và 01 Trung tâm
trọng tài mới được thành lập trong tháng 8 năm 2006 là Trung tâm Trọng tài
Quốc tế Thái Bình Dương, có trụ sở đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đối
với Trung tâm Trọng tài linh tế Bắc Giang, được thành lập theo Nghị định
116/CP nhưng sau khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại có hiệu lực thì Trung
tâm này đã chấm dứt hoạt động. Sau khi Luật Trọng tài thương mại có hiệu
lực, có thêm 02 Trung tâm trọng tài được thành lập là Trung tâm trọng tài
thương mại Tài chính Ngân hàng Việt Nam và Trung tâm trọng tài thương
mại Tài chính đều có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, kể từ khi Pháp lệnh Trọngtài thương mại có hiệu lực từ
1/7/2003 được ban hành và sau này là Luật Trọng tài thương mại năm 2010
thì chỉ có 03 Trung tâm trọng tài mới được thành lập. Trong khi đó, ngoài

tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với đặc thù của mỗi Trung
tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên. Chỉ khi nào các bên không có
thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng trọng tài của trung tâm trọng tài không có quy
định khác, lúc đó mới áp dụng Luật. Như vậy, đối với tố tụng trọng tài, pháp
luật cho phép các bên tranh chấp được cụ thể hóa, chi tiết hóa trong các quy
tắc tố tụng của mỗi cơ quan trọng tài, thậm chí trong các thỏa thuận giữa các

25
bên để giải quyết tranh chấp. Nếu các thỏa thuận này được các bên ưng thuận
thì cũng có giá trị ràng buộc và là "luật" đối với các bên tranh chấp.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng dân sự
trong việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Quy
định trình tự, thủ tục trong pháp luật tố tụng dân sự là những quy định có tính
chất bắt buộc, mệnh lệnh, yêu cầu các chủ thể tham gia phải nghiêm túc thực
hiện và không cho phép thỏa thuận mở rộng hay thu hẹp các bước trong quá
trình tố tụng. Những quy định này chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp
luật do Nhà nước ban hành.
Tố tụng trọng tài thương mại cũng giống như các loại hình tố tụng
khác, đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thủ tục tố tụng.
Điều 31 Luật Trọng tài thương mại quy định thời điểm bắt đầu tố tụng
trọng tài. Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài, nếu
các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được
tính từ khi trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Trong trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, nếu các
bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được
tính từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn. Luật Trọng tài
thương mại không nêu rõ thời điểm bị đơn được coi là nhận được đơn khởi
kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp các bên có tranh chấp về thời điểm
nhận đơn khởi kiện thì trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn. Thời
điểm bắt đầu tố tụng trọng tài có ý nghĩa pháp lý quan trọng, nhất là để xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status