Tìm hiểu quy tắc tố tụng của Trung tâm Trong tài quốc tế Việt Nam - Pdf 34


MỞ ĐẦU
Sự phát triển của các hoạt động thương mại cũng đồng nghĩa với sự gia tăng
của các tranh chấp thương mại. Các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thh khả
năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung pháp lư có hoàn chỉnh đến
đâu - bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm
chỉnh. Khi đó, điều các doanh nghiệp quan tâm là những hình thức giải quyết tranh
chấp nào có thể vừa đảm bảo lợi ích của họ vừa tiết kiệm được thời gian, công sức
và tiền bạc cũng như giữ được các mối quan hệ kinh doanh quan trọng. Với cơ chế
mềm dẻo, linh hoạt trong xét xử, cơ chế trọng tài và các trung tâm trọng tài ngày
càng được giới DN tin cậy hơn. Phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn so với các
phương pháp khác: như tính bảo mật, độ tin cậy cao…. khiến nó trở thành một biện
pháp giải quyết tranh chấp phổ biến nhất trên thế giới. Và vì vậy có thể nói hoạt
động của các trung tâm trong tài đă và đang từng bước góp phần vào việc hoàn
thiện môi trường kinh doanh, đảm bảo cho việc kinh doanh được ổn đinh.Để có thể
hiểu rõ hơn về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, em lựa chọn đề tài:
“Tìm hiểu quy tắc tố tụng của Trung tâm Trong tài quốc tế Việt Nam”.
I.

Giới thiệu trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam và thẩm quyền giải quyết

của trung tâm.
1. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
VIAC là tên viết tắt của cụm từ “Vietnam International Arbitration Centre at
the Vietnam Chamber of Commerce and Industry” - “Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam”. VIAC được
thành lập ngày 28 tháng 4 năm 1993 theo Quyết định số 204/TTg ngày 28 tháng 4
năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngọai
thương (thành lập năm 1963) và Hội đồng Trọng tài Hàng hải (thành lập năm
1964).
2

1.

Phạm vi áp dụng

1 Báo kinh tế - Ngọc Lan

3


Theo điều 1, Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt
Nam (“Quy tắc”) được áp dụng để giải quyết các vụ tranh chấp tại Trung tâm
Trọng tài Quốc tế Việt Nam.
2.

Thủ tục giải quyết tranh chấp tại VIAC
2.1. Đơn khởi kiện.
Thủ tục tố tụng trọng tài bắt đầu bằng việc Nguyên đơn nộp đơn kiện ra

VIAC khi phát sinh tranh chấp giữa Nguyên đơn và Bị đơn.Theo Điều 6, đơn kiện
sẽ gồm các nội dung sau:
a) Ngày, tháng, năm làm Đơn khởi kiện;
b) Tên, địa chỉ của các bên;
c) Tóm tắt nội dung của vụ tranh chấp;
d) Cơ sở khởi kiện;
đ) Trị giá của vụ tranh chấp và các yêu cầu khác của Nguyên đơn;
e) Tên của người được Nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc yêu cầu
Trung tâm chỉ định Trọng tài.
g) Chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc của người đại diện theo ủy
quyền trong trường hợp Nguyên đơn là tổ chức; chữ ký của cá nhân hoặc của
người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp Nguyên đơn là cá nhân.

người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp Bị đơn là cá nhân.
Nếu Bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của VIAC,
không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận
trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu điều đó trong Bản tự vệ.
Ngoài ra, bị đơn có thể yêu cầu gia hạn thời hạn nộp Bản tự bảo vệ tối da
không quá 75 ngày kể từ ngày nhận được Đơn kiện. Việc bị đơn không nộp Bản tự
bảo vệ sẽ không ngăn cản các bước tố tụng trọng tài. Quá trình tố tụng trọng tài
vẫn được tiến hành. Nếu Bị đơn không nộp Bản tự bảo vệ, hoặc Bản tự bảo vệ
không đề cập đến việc chỉ định trọng tài viên, Chủ tịch VIAC sẽ chỉ định trọng tài
viên cho Bị đơn.
Theo quy định tài Điều 9, Bị đơn có thể nộp Đơn kiện lại, đơn kiện lại phải
được nộp cùng thời điểm nộp Bản tự bảo vệ. Trong trường hợp có Đơn kiện lại, Bị
đơn có thể sửa đổi, bổ sung hoặc rút Đơn kiện lại trước khi Hội đồng Trọng tài ra
5


Quyết định Trọng tài (Điều 13). Đơn kiện lại và bản tự bảo vệ phải được gửi đủ số
bản theo quy định tại Khoản 1, Điều 3.
2.4. Thành

lập Hội đồng trọng tài.

Các bên có thể thỏa thuận về số lượng Trọng tài viên giải quyết tranh chấp
gồm 1 Trọng vài viên duy nhất hoặc 3 Trọng tài viên. Nếu các bên không có thỏa
thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Hội đồng Trọng tài gồm 3 Trọng tài viên.
Trọng tài viên được lựa chọn có thể nằm trong danh sách trọng tài viên hoặc ngoài
danh sách mà VIAC gửi. Trong trường hợp tên của người được chọn làm Trọng
tài viên không có trong Danh sách Trọng tài viên thì Nguyên đơn hoặc Bị đơn phải
thông báo cho Trung tâm địa chỉ của Trọng tài viên này.
Chủ tịch Hội đồng Trọng tài sẽ được hai Trọng tài viên của Nguyên đơn và

chứng minh sự việc mà mình nêu ra. Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu các bên
bổ sung chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp, có quyền tự mình thu thập chứng
cứ. Hội đồng Trọng tài có thể mời giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các
bên và phải thông báo cho các bên biết. Bên yêu cầu giám định phải nộp tạm ứng
phí giám định, trường hợp các bên mời giám định thì cùng phải nộp tạm ứng phí
giám định. (Điều 17)
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Theo đó, Hội đồng trọng tài xem
xét thỏa thuận trọng tài có tồn tại hay có hiệu lực hay không và xem xét thẩm
quyền của mình dù có hay không có khiếu nại (Điều 26). Bên khiếu nại đã được
triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì được coi là đã rút khiếu
nại. Hội đồng Trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp.
Thời gian mở phiên họp: Các bên sẽ thỏa thuận về thời gian, nếu các bên
không đưa ra được thời gian cụ thể hoặc không có thỏa thuận, Chủ tịch Hội đồng
Trọng tài sẽ quyết định. Giấy triệu tập phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải
được gửi cho các bên chậm nhất là 30 ngày trước ngày mở phiên họp, nếu các bên
không có thoả thuận khác. Các bên có quyền mời nhân chứng, người bào chữa để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và thông báo cho Hội đồng Trọng tài
trước ngày mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp.

7


Địa điểm giải quyết vụ tranh chấp: VIAC tôn trọng sự thỏa thuận của các
bên liên quan, theo đó các bên có quyền lựa chọn địa điểm. Hội đồng trọng tài sẽ
chỉ định chỉ khi các bên không có thỏa thuận và địa điểm sẽ được quyết định dựa
trên hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhằm tạo sự thuận tiện cho các bên. (Điều 20)
Căn cứ pháp lý để giải quyết nội dung vụ tranh chấp: Đối với vụ tranh chấp
không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài giải quyết nội dung vụ tranh chấp
căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng và luật áp dụng (pháp luật Việt Nam). Đối
với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ngoài căn cứ là các điều khoản của hợp

đồng Trọng tài cũng có thể ra quyết định hoãn phiên họp trong một số trường hợp
cần thiết và phải có thông báo cho các bên.(Điều 24)
Trường hợp các bên vắng mặt: Nguyên đơn vắng mặt dù đã được nhận giấy
triệu tập hợp lệ hoặc rời khỏi phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội
đồng Trọng tài chấp thuận thì bị coi là đã rút Đơn khởi kiện. Vụ tranh chấp chỉ tiếp
tục được giải quyết khi Bị đơn có yêu cầu hoặc có Đơn kiện lại. Trong trường hợp
có đơn kiện lại nếu Bị đơn vắng mặt dù đã được nhận giấy triệu tập hợp lệ hoặc rời
khỏi phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng Trọng tài chấp
thuận thì bị coi là đã rút Đơn kiện lại, Hội đồng Trọng tài chỉ tiếp tục giải quyết
Đơn kiện lại khi Nguyên đơn có yêu cầu. Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng
Trọng tài có thể căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có để tiến hành phiên họp giải
quyết vụ tranh chấp mà không cần sự có mặt của các bên. (Điều 25)
Phán quyết trọng tài

2.7.

Phán quyết của trọng tài là kết luận cuối cùng của trọng tài về nội dung vụ
kiện, được đưa ra trên cơ sở sự nhất trí của đa số trọng tài viên trong Hội đồng
trọng tài.
Sau khi phiên họp giải quyết vụ tranh chấp và quá trình tố tụng trọng tài kết
thúc, Hội đồng Trọng tài soạn thảo phán quyết trọng tài. Phán quyết Trọng tài phải
được lập bằng văn bản và có các nội dung được quy định tại Điều 30. Phán quyết
Trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp giải quyết vụ tranh chấp hoặc sau
9


đó nhưng chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng. Phán
quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và ràng buộc đối với các bên. Nghĩa là khi đã
có quyết định của trọng tài các bên không có quyền “phản đối” với quyết định của
trọng tài (hội đồng trọng tài đó). Do các bên xuất phát từ quyền tự định đoạt về

phí tại khoản 3, khoản 4 Điều 32 có thể được tạm ứng sau khi Hội đồng Trọng tài
được thành lập theo quy định tại Điều 33.
Bên cạnh đó, bộ Quy tắc cũng có quy định về giải thích từ ngữ (Điều 2);
giải thích rõ về việc gửi thông báo, tài liệu và cách tính thời hạn (Điều 3). Đồng
thời, bộ Quy tắc cũng quy định rõ về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài trong quá
III.

trình giải quyết tranh chấp.
Nhận xét về Quy tắc tố tụng của VIAC
Quy tắc đã đáp ứng và thể hiện được các tiêu chí cơ bản của Luật trọng tài
thương mại 2010. Quy tắc được áp dụng chung để giải quyết cả các vụ tranh chấp
có yếu tố nước ngoài và tranh chấp trong nước. Các thủ tục tố tụng được quy định
chi tiết nhưng rõ ràng và không phức tạp, đảm bảo tính đồng bộ, công khai và công
bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên, quy định rõ ràng về các thẩm quyền và các
hoạt động trong quá trình tố tụng của Trung tâm.
Quy tắc cũng thể hiện được các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của Luật
trọng tài thương mại 2010 trong đó nguyên tắc tôn trọng ý chí tự do thỏa thuận của
các bên là nguyên tắc xuyên suốt và quan trọng nhất. Các bên được tự do thỏa
thuận các vấn đề liên quan tới tố tụng như thời gian, ngôn ngữ, địa điểm, luật áp
dụng v.v...
Nếu như Quy tắc 2004 chỉ cho phép các bên lựa chọn trọng tài viên ngoài
danh sách trọng tài viên của VIAC trong những vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài
thì đến Quy tắc 2012, quy định này đã được sửa đổi và bổ sung thêm. Theo đó, cá
bên có thể lựa chọn trọng tài viên ngoài danh sách trong mọi vụ tranh chấp mà
VIAC thụ lý không kể có yếu tố nước ngoài hay không. Vấn đề này đã giải tỏa
được những băn khoăn, ngần ngại của các bên, nhất là bên nước ngoài khi lựa chọn
VIAC để giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, Quy tắc tố tụng này cũng có hạn chế nhất định. Thứ nhất, Quy tắc
cho phép các bên lựa chọn thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp, nếu các bên
11


12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status