Khái quát chung về Trọng tài thương mại và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam - Pdf 33

MỤC LỤC

1


A . LỜI MỞ ĐẦU.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ
chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng
thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỉ gần đây. Và
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam là một trong bảy trung tâm được thành
lập để đáp ứng nhu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh đó.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Khái quát chung về Trọng tài thương mại và Trung tâm Trọng tài Quốc
tế Việt Nam.
1. Trọng tài thương mại.
1.1. Khái niệm Trọng tài thương mại.
Trọng tài với tư cách là cơ quan giải quyết tranh chấp, trọng tài được hiểu
là: “Trọng tài bao gồm những cá nhân được các bên lựa chọn để giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ vụ việc dân sự của họ” hay Trọng tài là “cơ quan trung
gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử”.
Theo cuốn Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Trọng tài là một phương thức
giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp. Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện
đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách
công bằng, chính trực xét xử, phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng
buộc với cả hai bên”.
Theo Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ: “Trọng tài là cách giải quyết tranh chấp
bằng cách đệ trình tranh chấp cho một hoặc một số người xem xét, giải quyết và
họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các tranh chấp phái thi
hành”.

phán quyết cuối cùng, phán quyết này mang tính chung thẩm.
Với tư các là một cơ quan giải quyết tranh chấp, Trọng tài thương mại có đặc
điểm:
Thứ nhất: trọng tài là tổ chức xã hội- nghề nghiệp, do các Trọng tài viên
tự nguyện thành lập để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh
doanh thương mại. Do là một cơ quan hoạt động độc lập với các cơ quan do
chính phủ lập ra nên các Trung tâm trọng tài (TTTT) đều có trụ sở, điều lệ hoạt
động và quy tắc tố tụng riêng do chính các TTTT này đặt ra. Việc quản lí, điều
hành lên kế hoạch hoạt động của TTTT đều do các Trọng tài viên trực tiếp đảm
nhiệm mà không chịu sự quản lý, chỉ đạo của bất kỳ cơ quan nào khác.

3


Thứ hai: thẩm quyền của trọng tài chỉ được hình thành khi có sự thỏa
thuận của các bên đương sự. Điều này thể hiện các bên đã tin tưởng trao quyền
phán quyết cho trọng tài. Nếu không có thỏa thuận, trọng tài sẽ không có thẩm
quyền giải quyết.
Thứ ba: khác với cơ quan xét xử nhà nước là Tòa án, các phán quyết
trọng tài đưa ra không mang tính quyền lực nhà nước. Phán quyết trọng tài chỉ
có giá trị bắt buộc với các bên tranh chấp mà không bắt buộc với bên thứ 3.
Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành thì cần có sự hỗ trợ của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cưỡng chế thi hành.
2. Khái quát Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam.
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VIAC) được thành lập theo Quyết định số 204/TTg
ngày 28 tháng 4 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương
(thành lập năm 1963) và Hội đồng Trọng tài Hàng hải (thành lập năm 1964).
Theo Điều lệ, VIAC có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau:

trọng tài kí trước ngày 1/7/2003. Sau gần bốn tháng thành lập VIAC cho ra đời
bộ quy tắc tố tụng đầu tiên đây là một giai đoạn mang tính bước ngoặt lần đầu
tiên có một trung tâm Trọng tài trong cả nước có một bộ quy tắc tố tụng riêng
cho mình. Tuy nhiên, bộ quy tắc tố tụng trọng tài này thực tế vẫn còn nhiều
điểm bất cập chưa hợp lí và giải quyết các vụ tranh chấp bằng Trọng tài là một
hình thức mới nên cũng ít được áp dụng.
Bộ quy tắc thứ hai có hiệu lực từ ngày 15/4/ 1996 (Quy tắc 1996). Quy tắc
này áp dụng cho các tranh chấp trong nước có thỏa thuận trọng tài kí trước ngày
1/7/ 2003. Do những điểm bất cập trong bộ quy tắc trọng tài năm 1993 bộ quy
tắc trọng tài thứ hai của VIAC ra đời cùng song song tồn tại với bộ quy tắc trọng
tài 1993, đồng thời bổ sung những điểm chưa hợp lí trong bộ quy tắc trọng tài
1993.
Bộ quy tắc thứ ba có hiệu lực từ ngày 1/7/ 2004 (Quy tắc 2004). Quy tắc
này được áp dụng để giải quyết cả vụ tranh chấp trong nước và vụ tranh chấp có
yếu tố nước ngoài có thỏa thuận trọng tài kí trước ngày 1/7/ 2003. Vào thời điểm
này, cùng một lúc ba bản Quy tắc tố tụng tồn tại vì theo Điều 61, Khoản 1 Pháp
lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, các Trung tâm Trọng tài được thành lập
trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực phải sửa đổi, bổ sung Điều lệ, Quy tắc tố tụng
trọng tài cho phù hợp với quy định của Pháp lệnh trong thời hạn 12 tháng kể từ
ngày Pháp lệnh có hiệu lực. Quy tắc 2004 được soạn thảo vào thời điểm Pháp
lệnh trọng tài được ban hành đã khắc phục, bổ sung những thiếu sót, bất cập cơ
bản trong các bản Quy tắc 1993 và 1996.

5


Bộ quy tắc thứ tư có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 (Quy tắc 2012). Bộ quy
tắc này ra đời sau khi Luật Trọng tài Thương mại 2010 ra đời và có hiệu lực
được một năm. Bộ quy tắc này đã cụ thể hóa và chi tiết các quy định về tố tụng
Trọng tài trong Luật Trọng tài Thương mại; đồng thời, bộ quy tắc này đã hoàn

Quy tắc này.
g) Chữ kí của người đại diện theo pháp luật hoặc của người đại diện theo ủy
quyền trong trường hợp Nguyên đơn là tổ chức; chữ kí của cá nhân hoặc của
người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp Nguyên đơn là cá nhân.
3. Kèm theo Đơn khởi kiện phải có thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có
liên quan.
4. Đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có liên quan phải
được gửi đủ số bản theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Quy tắc này”.
Trong Đơn khởi kiện phải có thỏa thuận trọng tài, vậy thỏa thuận Trọng
tài là gì? Và được thể hiện dưới hình thức nào? Tại Khoản 2, Điều 3 Luật Trọng
tài Thương mại 2010 (LTTTM) quy định “thỏa thuận Trọng tài là thoả thuận
giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc
đã phát sinh”. Về hình thức của thỏa thuận Trọng tài được xác lập dưới hai hình
thức điều khoản trọng tài hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng (Khoản
1, Điều 16, LTTTM). Tại Khoản 2, Điều 16, LTTTM có quy định thỏa thuận
trọng tài phải được thể hiện bằng văn bản.
Đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có liên quan phải
được thành lập thành 5 bản nếu Hội đồng Trọng tài có 3 Trọng tài viên hoặc 3
bản nếu Hội đồng Trọng tài có 1 Trọng tài viên. Và trước khi Hội đồng Trọng
tài ra phán quyết Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung và rút đơn kiện được quy
định tại Điều 13, quy tắc tố tụng của VIAC.
Khi nộp đơn khởi kiện, Nguyên đơn đồng thời nộp phí trọng tài. Theo quy
định tài Điều 32, quy tắc tố tụng của VIAC thì phí trọng tài bao gồm:
“1. Chi phí để trả thù lao cho các Trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp;
2. Chi phí hành chính của Trung tâm liên quan đến việc giải quyết tranh chấp;
3. Chi phí đi lại, ở và các chi phí có liên quan khác của các Trọng tài viên giải
quyết vụ tranh chấp được quy định tại Văn bản hướng dẫn của Trung tâm có hiệu
lực tại thời điểm lập dự tính chi phí;

7

chỉ định trọng tài viên theo quy định tại Khoản 2, Điều 11 hoặc Điều 12 quy tắc
tố tụng của VIAC; chữ kí của người đại diện theo pháp luật hoặc của người đại
diện theo ủy quyền của Bị đơn là tổ chức; chữ kí của cá nhân hoặc người đại

8


diện theo ủy quyền của Bị đơn là cá nhân. (Khoản 1, Điều 8 quy tắc tố tụng của
VIAC).
Bản tự bảo vệ và các tài liệu có liên quan của Bị đơn phải gửi đúng số
lượng được quy định tại Điều 3 quy tắc tố tụng, tức là phải được thành lập thành
5 bản nếu Hội đồng Trọng tài có 3 Trọng tài viên hoặc 3 bản nếu Hội đồng
Trọng tài có 1 Trọng tài viên. Trong trường hợp, Bị đơn không gửi Bản tự bảo
vệ lên Trung tâm thì tố tụng trọng tài vẫn sẽ được tiến hành.
Ngoài ra, Bị đơn có thể nộp Đơn kiện lại Nguyên đơn. Đơn kiện lại căn
cứ vào thỏa thuận trọng tài mà Nguyên đơn đã dựa vào đó khởi kiện, Đơn kiện
lại gửi đến Trung tâm trọng tài vào cùng thời điểm gửi Bản tự bảo vệ. Đơn kiện
lại bao gồm những nội dung sau: ngày, tháng, năm làm đơn; tên, địa chỉ của các
bên; tóm tắt lại nội dung của vụ kiện lại; cơ sở kiện lại; giá trị của vụ kiện lại và
yêu cầu khác của Bị đơn; chữ kí của người đại diện theo pháp luật hoặc của
người ủy quyền trong trường hợp Bị đơn là tổ chức, chữ kí của cá nhân hoặc
người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp Bị đơn là cá nhân (Khoản 2,
Điều 9 quy tắc tố tụng của VIAC).
Đơn kiện lại và các tài liệu liên quan, Bị đơn gửi lên Trung tâm phải đủ số
bản như quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Quy tắc. Mặt khác, Bị đơn có thể sửa
đổi, bổ sung, rút Đơn kiện lại trước theo quy định tại Điều 13, quy tắc tố tụng
của VIAC trước khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết.
Trong trường hợp, Đơn kiện lại của Bị đơn được gửi lên Trung tâm mà
các bên không có thỏa thuận khác về thời hạn thì 30 ngày kể từ ngày nhận được
Thông báo, Đơn kiện lại và các tài liệu liên quan Nguyên đơn phải gửi Bản tự

liên quan Bị đơn phải chọn một Trọng tài viên hoặc yêu cầu Trung tâm chỉ định
Trọng tài viên và phải thông báo cho Trung tâm. Trong trường hợp có nhiều Bị
đơn thì các Bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên hoặc thống nhất yêu
cầu Trung tâm chỉ định một Trọng tài viên và phải thông báo cho Trung tâm.
Trong trường hợp tên của người được chọn làm Trọng tài viên không có trong
Danh sách Trọng tài viên thì Nguyên đơn phải thông báo cho Trung tâm đại chỉ
của Trọng tài viên này.
Nếu Bị đơn yêu cầu Trung tâm chỉ định Trọng tài viên, thì trong thời hạn 07
ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định Trọng tài viên, Chủ tịch Trung tâm
ra quyết định chỉ định Trọng tài viên thay thế cho Bị đơn. Trong trường hợp, Bị
đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không yêu cầu Trung tâm chỉ định Trọng
tài viên trong thời hạn 30 ngày trên thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết
thời hạn, Chủ tịch Trung tâm ra quyết định chỉ định một Trong tài viên thay cho
Bị đơn. Và trong trường hợp, có nhiều Bị đơn mà không thống nhất chọn một
Trọng tài viên hoặc không thống nhất yêu cầu Trung tâm chỉ định một Trọng tài

10


viên trong thời hạn 30 ngày trên, thì 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn, Chủ tịch
Trung tâm ra quyết định chỉ định Trọng tài viên thay cho các Bị đơn.
Thứ ba: Nếu các bên không có thỏa thuận khác, trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày Trọng tài viên được Bị đơn chọn hoặc Chủ tịch Trung tâm chỉ định được
nhận thông báo về việc được chọn hoặc chỉ định làm Trọng tài viên, các Trọng
tài viên phải lựa chọn Trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài và
thông báo cho Trung tâm. Hết thời hạn này mà Trung tâm không nhận được
thông báo thì 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn, Chủ tịch Trung tâm ra quyết định
chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài.
Trường hợp lựa chọn thành lập Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên,
quá trình xét xử cũng có thể kéo dài hơn do việc triệu tập một cuộc họp gồm ba

Mặt khác, Hội đồng Trọng tài thu thập chứng cứ vụ việc và các bên có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Trong quá trình thu thập chứng cứ, Hội đồng
Trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, các tài liệu có
liên quan đến vụ tranh chấp. Thêm vào đó, Hội đồng Trọng tài tự mình hoặc yêu
cầu một hoặc các bên trưng cầu giám định, định giá tài sản của vụ tranh chấp;
tham vấn ý kiến của chuyên gia. Nếu trong trường hợp, Hội đồng Trọng tài, một
bên hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà
không thu thập được thì có quyền gửi văn bản lên Tòa án có thẩm quyền yêu cầu
hỗ trợ theo quy định của pháp luật (Điều 17, quy tắc tố tụng của VIAC).
Thứ hai: Hội đồng Trọng tài lựa chọn Luật áp dụng để giải quyết vụ tranh
chấp. Theo Điều 22, quy tắc tố tụng của VIAC quy định: “1. Đối với vụ tranh
chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật Việt
Nam;
2. Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng
pháp luật do các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bên không thỏa thuận về
pháp luật áp dụng thì Hội đồng Trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội
đồng Trọng tài cho là phù hợp nhất;
3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên thỏa thuận hoặc pháp
luật do Hội đồng Trọng tài quyết định áp dụng không có quy định cụ thể liên
quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng Trọng tài được áp dụng tập quán
thích hợp để giải quyết tranh chấp”.
Thứ ba: Lựa chọn ngôn ngữ trọng tài, việc lựa chọn ngôn ngữ này giúp
các bên tranh chấp có được tiếng nói chung để giải quyết vụ việc nhanh chóng
hơn. Vì một khi tranh chấp đã phát sinh, hoặc vào thời điểm bắt đầu tố tụng, các
bên rất khó thỏa thuận về ngôn ngữ chung bởi mỗi bên đều muốn đạt được lợi
ích của mình từ việc lựa chọn đó. Theo quy định tại Điều 21, quy tắc tố tụng của

12



được sự chấp thuận của Hội đồng Trọng tài thì xem như rút Đơn khởi kiện. Và
Hội đồng Trọng tài chỉ tiếp tục giải quyết tranh chấp khi Bị đơn có yêu cầu hoặc
Đơn kiện lại. Tương tự, đối với Bị đơn mà vắng mặt không có lí do chính đáng
13


hoặc rời bỏ phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được sự chấp thuận của
Hội đồng Trọng tài thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết tranh chấp
(Khoản 1, Điều 25 quy tắc tố tụng của VIAC).
Trong trường hợp, Bị đơn có Đơn kiện lại và đã được triệu tập tham dự
phiên họp hợp lệ mà vắng mặt không có lí do chính đáng hoặc rời bỏ phiên họp
giải quyết tranh chấp mà không được sự chấp thuận của Hội đồng Trọng tài thì
được coi là rút Đơn kiện lại, Hội đồng Trọng tài chỉ tiếp tục giải quyết Đơn kiện
lại khi có yêu cầu của Nguyên đơn (Khoản 2, Điều 25 quy tắc tố tụng của
VIAC).
Hội đồng Trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu vắng mặt của
một bên. Và theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài có thể căn cứ vào tài
liệu và chứng cứ hiện có để tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp mà không
cần sự có mặt của các bên.
2.6. Phán quyết Trọng tài.
Theo quy định tại Khoản 10, Điều 3, LTTTM như sau: “Phán quyết trọng
tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh
chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”. Khi lập Phán quyết Trọng tài đối với Hội
đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên phải tuân thủ nguyên tắc đa số, nếu không
đạt được đa số thì Phán quyết Trọng tài được quyết định bởi Chủ tịch Hội đồng
Trọng tài.
Phán quyết Trọng tài phải được thành lập bằng văn bản và có những nội
dung: “a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập Phán quyết trọng tài;
b) Tên, địa chỉ của Nguyên đơn và Bị đơn;
c) Tên của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất;

tranh chấp một cách nhanh chóng hơn.
Mặt khác, quy tắc tố tụng này quy định rõ ràng cụ thể các bước các giai
đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp được quy định trong LTTTM, giúp cho
các bên tranh chấp có cơ hội tìm hiểu rõ về cách thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại. Vì những tranh chấp bằng trọng tài thương mại khi được
giải quyết tại Trung tâm trọng tài chỉ được xem xét theo trình tự một lần duy
nhất và phán quyết có tính chung thẩm buộc các bên phải tuân thủ.
Ngoài ra, quy tắc tố tụng tạo cơ hội cho các bên tranh chấp giải quyết
tranh chấp trong “hòa bình” không phải mang ra tòa án để xử đi, xử lại và cấn
đến sự can thiệp của nhà nước hay sử dụng quyền lực nhà nước.
Bên cạnh những ưu điểm đó, thì quy tắc tố tụng của VIAC vẫn còn một số
hạn chế tồn tại. Thứ nhất: quy tắc tố tụng của VIAC là quy tắc quy định cụ thể
15


và chi tiết LTTTM nhưng chưa quy định cụ thể mỗi vụ kiện sẽ có bao nhiêu
phiên họp, mỗi phiên họp cách nhau bao nhiêu ngày và khi họp giải quyết tranh
chấp thì Hội đồng trọng tài cũng không công bố đây có phải là phiên họp cuối
cùng giải quyết tranh chấp không? Mà quy tắc cũng như LTTTM chỉ có quy
định Phán quyết của Hội đồng Trọng tài được lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày kết thúc phiên họp cuối cùng giải quyết vụ tranh chấp. Vì vậy, cần có quy
định cụ thể số phiên họp, thời gian cách nhau giữa các phiên họp và Hội đồng
Trọng tài khi giải quyết tranh chấp cần tuyên bố cuộc họp nào là cuộc họp giải
quyết tranh chấp cuối cùng. Cần phải quy định để thời gian giải quyết vụ việc
của các bên tranh chấp được nhanh chóng hơn và thuận tiện cho công việc của
các bên hơn.
Thứ hai: về phí trọng tài được quy định trong quy tắc tố tụng chưa cụ thể.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp thường e ngại giải quyết tranh chấp bằng con
đường tố tụng Trọng tài bởi họ cho rằng chi phí trọng tài khá cao và thực tế phí
trọng tài cũng không nhỏ.

Luật Trọng tài Thương mại 2010.

-

Www. viac.org.vn

-

Www.thuvienphapluat.vn.

17


18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status