Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG THƢƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI
VỤ VIỆC
6
1.1.
Tranh chấp trong thương mại và các hình thức giải quyết
tranh chấp
6
1.1.1.
Khái niệm tranh chấp trong thương mại

phát sinh từ hoạt động thương mại
24
1.3.3.
Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
25
1.3.4.
Về sự giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải
quyết vụ việc
25

Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG THƢƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC TẠI
VIỆT NAM
30
2.1.
Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài
30
2.1.1.
Lịch sử phát triển và hình thành pháp luật về trọng tài
thương mại
30
2.1.2.
Pháp luật hiện hành về Trọng tài thương mại và trọng tài
vụ việc
36
2.1.3.
Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010
44
2.1.4.

3.1.1.
Xuất phát từ thực tiễn sử dụng trọng tài vụ việc trong giải
quyết các tranh chấp thương mại tại Việt Nam
70
3.1.2.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của trọng tài vụ việc
71
3.2.
Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng
hình thức trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp thương mại
tại Việt Nam
72
3.3.
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức
trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại
Việt Nam
77
3.3.1.
Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách và pháp luật
77
3.3.2.
Giải pháp về phía các trọng tài viên
79
3.3.3.
Các giải pháp về phía tòa án và cơ quan thi hành án
80
3.3.4.
Giải pháp về phía các doanh nghiệp
82
3.3.5.

mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều những tranh chấp thương mại
không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phức tạp của các tranh
chấp cũng ngày một nâng cao. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trong kinh
doanh thương mại… tranh chấp phát sinh luôn là hiện tượng đương nhiên,
giải quyết tranh chấp là việc làm tất yếu và đang là một vấn đề được bàn đến
nhiều của nền kinh tế thế giới hiện nay. Điều đó cũng giúp định hướng tư duy
của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế có phát sinh tranh chấp
các phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu trong đó có trọng tài. Theo đánh
giá của Tổng thư ký Tòa án trọng tài quốc tế thì trọng tài được coi là lựa chọn
có nhiều ưu thế nổi bật là tính liên tục, mềm dẻo, bí mật và phán quyết trọng
tài có giá trị chung thẩm…Với tính năng ưu việt của mình mà phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được coi là lựa chọn được ưa chuộng của
các doanh nghiệp trên thế giới. Tuy nhiên, thực trạng Việt Nam lại cho thấy
các doanh nghiệp chưa thực sự "mặn mà" với việc đem tranh chấp của mình
ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có hơn 95% tranh chấp thương mại
trong nước được đưa ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Sở dĩ có tình trạng trên thì bên cạnh
nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp còn có nguyên nhân xuất
phát từ hệ thống pháp luật về trọng tài của Việt Nam, đó là hệ thống chưa
thực sự tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả để doanh nghiệp trong
và ngoài nước tự tin khi lựa chọn trọng tài.
Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) năm 2003 đã
đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về

2
trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết
tranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trong
hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùng với sự xuất
hiện của nhiều nhân tố mới như việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), việc ban hành Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư

Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Kim Liên, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2006; "Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi mới",
của Dương Văn Hậu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999; và một số bài
viết trên các tạp chí chuyên ngành… Tuy nhiên các công trình trên chỉ đề cập
một cách khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói
chung mà chưa có công trình nào đề cập một cách chuyên sâu về phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc. Từ đó có thể khẳng định đây là
công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu chuyên biệt
về vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức
trọng tài vụ việc vào giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam, đề xuất
hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:
- Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc.
- Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về trọng tài vụ việc;
đánh giá thực trạng sử dụng phương thức trọng tài vụ việc trong thực tiễn giải

4
quyết các tranh chấp thương mại tại Việt Nam từ đó chỉ ra các khó khăn,
vướng mắc đang và sẽ gặp phải và các nguyên nhân liên quan đến việc sử
dụng trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc áp
dụng và điều chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng nhằm lựa chọn những kinh nghiệp

giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc, thẩm quyền của trọng tài vụ việc
và thủ tục của trọng tài vụ việc. Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích chi tiết
thực trạng sử dụng trọng tài vụ việc trong giải quyết tranh chấp tại Việt Nam,
các bất cập và các nguyên nhân cụ thể của các bất cập đó.
Thứ ba: Luận văn bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng phương thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại bao gồm những giải pháp về mặt cơ
chế, chính sách, pháp luật; các giải pháp từ phía các trọng tài viên, từ phía
doanh nghiệp, từ phía tòa án và cơ quan thi hành án…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài vụ việc.
Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài vụ việc tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài
vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam.

6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƢƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC

1.1. Tranh chấp trong thƣơng mại và các hình thức giải quyết
tranh chấp
1.1.1. Khái niệm tranh chấp trong thương mại
Tranh chấp, theo cách hiểu thông thường, đó là sự bất đồng, sự mâu
thuẫn về một vấn đề nào đó giữa hai hay nhiều bên liên quan. Tranh chấp
thường biểu hiện rất đa dạng và sinh động trong xã hội, trong đời sống: tranh

thủy nội địa; k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng
không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
khác; m) Ðầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm dò,
khai thác.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,
giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức của công ty.
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp
luật có quy định [20].
Luật TTTM năm 2010 cũng quy định tranh chấp thương mại theo
hướng xác định những tranh chấp trong thương mại thuộc thẩm quyền của
TTTM, bao gồm:
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

8
1. Tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất một
bên có hoạt động thương mại
2. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định
được giải quyết bằng trọng tài [25].
Tranh chấp trong thương mại, có thể được hiểu như sau:
Tranh chấp trong thương mại là những bất đồng, xung đột về lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc
các hoạt động kinh tế khác mà theo quy định pháp luật là tranh chấp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế.
Nội dung khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nội dung:
Thứ nhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ
thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại;

- Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bên
tranh chấp nhờ bên thứ ba giúp đỡ để họ gặp gỡ, thảo luận và thỏa thuận về
các giải pháp nhằm dàn xếp, giải quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh. Hòa giải
và trung gian hòa giải thông thường được đánh đồng với nhau. Tuy nhiên
trong thực tiễn giữa hòa giải và trung gian hòa giải cũng có những điểm khác
nhau về phương pháp tiến hành. Người đóng vai trò trung gian và hòa giải
thường đều có những cuộc tiếp xúc với các bên tranh chấp, tuy nhiên, người
trung gian thì tiếp xúc riêng với từng bên để nắm bắt quan điểm, khả năng hòa
giải của từng bên sau đó mới tổ chức buổi hòa giải. Người hòa giải (hòa giải
viên) thường gặp gỡ trực tiếp hai bên ngay từ đầu, có thể đưa ra gợi ý, đề xuất
một hoặc một vài giải pháp, phương án khác nhau để các bên suy nghĩ, thảo
luận và tự quyết định phương án nào mà họ cho là phù hợp nhất nhằm giải quyết
tranh chấp. Thỏa thuận hòa giải không có giá trị bắt buộc. Việc thi hành thỏa
thuận hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp.
Nói đến hòa giải thì cần thiết phải phân biệt hòa giải trước (tiền) tố
tụng và hòa giải trong tố tụng Hòa giải tiền tố tụng là việc hòa giải được tiến

10
hành trước khi các bên khởi kiện ra tòa hoặc gửi đơn đến trọng tài. Sau khi
nhận đơn, thụ lý đơn, Tòa án hoặc Trọng tài có nghĩa vụ hòa giải giữa các bên
để giải quyết tranh chấp. Đây là hai quá trình, hai giai đoạn khác nhau trong
giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, trong đó có giải quyết tranh chấp
trong thương mại.
- Xét xử của tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó,
một bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không
cần có sự đồng ý, thỏa thuận của bên kia. Tòa án, cụ thể là thẩm phán/hội
đồng xét xử, thụ lý và giải quyết tranh chấp theo đúng quy định của pháp luật,
bản án do tòa án tuyên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh
chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bên trung

buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án
hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán
quyết xong, Ủy ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và
chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các
bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi
ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt
Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua
việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục
nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định
trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Tòa
án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế
thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì
có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án.

12
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt.
Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng
tài xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện
rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu
cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện
cạnh tranh.
Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết
trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc
công chúng) - điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động
kinh doanh của mình.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục
Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa

Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền
kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối
đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối
hòa khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan
hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của
những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín
đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được
quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi
hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt
hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.

14
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của
các chuyên gia
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên
đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu
biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực
chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một
tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án
trên các mặt sau:
Xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại
về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời; xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài; công nhận và thi hành

tổ chức trọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quy tắc tố tụng trọng tài của tổ
chức đó.
Mức độ giám sát tố tụng trọng tài của mỗi tổ chức là khác nhau. Nói
chung, tổ chức trọng tài quy chế giám sát một phần tố tụng trọng tài, và giới
hạn sự trợ giúp trong việc thành lập hội đồng trọng tài (chỉ định các trọng tài
viên), dựa trên nguyện vọng của các bên cũng như các quy tắc tố tụng trọng
tài của chính tổ chức đó.
Tổ chức trọng tài có thể thông báo đơn kiện cho bên kia và yêu cầu
bên đó trình bày rõ quan điểm về vụ kiện và việc thành lập hội đồng trọng tài.
Đôi khi, tổ chức trọng tài có quyền ấn định một khoản tiền ước tính đủ để trả
chi phí trọng tài, có quyền yêu cầu các bên thanh toán và khi kết thúc tố tụng,
có quyền quyết định các chi phí cuối cùng. Tổ chức trọng tài quy chế cũng có
thể giám sát quá trình thông báo cho các bên về quyết định được hội đồng

16
trọng tài ban hành. Tuy nhiên, tổ chức trọng tài quy chế cũng có thể không
thực hiện nhiều công việc như vậy. Loại trọng tài này thường được coi là
trọng tài được giám sát một phần.
Trọng tài quy chế cũng có thể là trọng tài được giám sát toàn bộ.
Trong trường hợp này, tổ chức trọng tài không chỉ chịu trách nhiệm nhận đơn
kiện và thông báo cho bên kia, mà còn thành lập hội đồng trọng tài, ấn định
khoản phí ứng trước và có thể còn xác định địa điểm tiến hành trọng tài. Như
vậy, tổ chức trọng tài giám sát toàn bộ quá trình tố tụng và sẽ giải quyết một
số khó khăn nhất định chẳng hạn như quyết định thay thế các trọng tài viên
thiên vị. Đôi khi, tổ chức trọng tài quy chế thậm chí phải bảo đảm nội dung
quyết định trọng tài được chấp nhận về mặt bố cục và có thể lưu ý trọng tài
viên vào một số điểm của nội dung vụ kiện. Tổ chức trọng tài còn giám sát cả
việc thông báo quyết định trọng tài cho các bên và sau khi đã ấn định phí
trọng tài, tổ chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viên được trả thù lao. Tóm
lại, tổ chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viên được trả thù lao và bảo đảm

- Bước thứ tư: Mở phiên họp trọng tài: Phiên họp giải quyết tranh
chấp (không công khai)
- Bước thứ năm: ban hành phán quyết trọng tài.
Trong phạm vi của luận văn, những nội dung cụ thể liên quan tới thủ tục
trọng tài vụ việc sẽ được đề cập một cách cụ thể và chi tiết hơn ở chương sau.
1.2. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc
1.2.1 . Trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc) là gì?
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ "Trọng tài vụ việc".
"Trọng tài vụ việc" có thể được hiểu là hình thức trọng tài được lập ra theo
yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể
khi tranh chấp đó đã được giải quyết.

18
Trọng tài vụ việc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành
theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực. Do các bên
không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tổ
chức trọng tài thường trực, họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụng
riêng. Nói cách khác, trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it
yourself arbitration) [31].
Theo Khoản 7 Điều 3 Luật TTTM năm 2010 thì ‘Trọng tài vụ việc là
hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục
do các bên thỏa thuận" [25].
Địa điểm tổ chức trọng tài vụ việc giữ vai trò vô cùng quan trọng bởi
hầu hết các khó khăn liên quan đến tiến hành trọng tài vụ việc sẽ phải giải
quyết theo luật quốc gia của nơi tiến hành trọng tài. Chẳng hạn như khi các
bên đã thỏa thuận sẽ tiến hành trọng tài vụ việc trước một hoặc ba trọng tài
viên và một bên không tham gia vào tố tụng trọng tài. Vậy sẽ chỉ định bao
nhiêu trọng tài viên? Câu trả lời phụ thuộc chủ yếu vào nơi sẽ diễn ra tố tụng
trọng tài.
Ví dụ, nếu nơi tiến hành trọng tài là Ấn Độ, theo Luật Trọng tài Ấn độ

ở phần sau của đề tài.
Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản
sau đây:
- Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự
chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.
- Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành (vì chỉ được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của
các bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.

20
1.2.3. Trọng tài vụ việc - ưu điểm và nhược điểm
Trọng tài vụ việc có một số ưu điểm và nhược điểm cơ bản sau đây:
i) Ưu điểm
Một là, ưu điểm cơ bản của hình thức Trọng tài vụ việc đó là quyền tự
định đoạt của các bên là rất lớn. Thủ tục giải quyết của Trọng tài vụ việc hoàn
toàn do các bên tự thỏa thuận cho riêng họ và các Trọng tài viên phải tuân theo.
Điều này đòi hỏi sự hợp tác của các bên để thực hiện một cách đầy đủ và hiệu
quả vì các bên phải thỏa thuận chi tiết về việc tiến hành quá trình tố tụng.
Hai là, việc tiến hành Trọng tài vụ việc có chi phí thấp và thời gian
giải quyết nhanh. Với việc lựa chọn hình thức trọng tài này, các bên sẽ không
phải trả thêm các khoản chi phí hành chính cho các trung tâm trọng tài (thông
thường khoản chi phí này không nhỏ). Ví dụ, theo Quy tắc tố tụng của Tòa án
Trọng tài quốc tế ICC, khi nộp đơn kiện, Nguyên đơn phải nộp một khoản phí
đăng ký là 2.500 USD và khoản phí này sẽ không được hoàn lại trong bất kỳ
điều kiện nào. Mức phí hành chính tối đa mà ICC yêu cầu "các bên phải nộp
có thể lên tới 75.800 USD" [14]. Theo Quy tắc tố tụng của Viện trọng tài
Stockhoml, Thụy Điển, "khi nộp đơn kiện, Nguyên đơn cũng phải nộp một
khoản phí đăng ký là 1.500 Euro và khoản phí này sẽ không được hoàn lại
trong bất kỳ trường hợp nào" [15].

giám sát thời hạn và không có biểu phí cố định cho trọng tài vụ việc, các bên
sẽ phải thỏa thuận trực tiếp các vấn đề này với trọng tài viên. Vì vậy, các bên
có thể phải thỏa thuận mức thù lao theo giờ với các trọng tài viên, và kết quả
là tổng chi phí cuối cùng có thể cao hơn số tiền các bên phải trả nếu đưa tranh
chấp ra giải quyết theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế.
iv) Liệu các bên có thể nhận được trợ giúp trong trọng tài vụ việc không?
Mặc dù các bên trong trọng tài vụ việc không đưa tranh chấp ra giải
quyết theo quy tắc của bất kỳ tổ chức trọng tài quy chế nào, các bên vẫn có
thể nhờ một tổ chức trọng tài quy chế hoặc một tổ chức nào đó, vì dụ như một

Trích đoạn HIỆU QUẢ SỬ DỤNG HÌNH THỨC TRỌNG TÀI VỤ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2 Xuất phát từ vị trí, vai trị của trọng tài vụ việc Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại tại Việt Nam Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách và pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status