giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài trong thương mại quốc tế - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Giáo Viên Hướng Dẫn: Sinh Viên Thực Hiện:
TS. DƯ NGỌC BÍCH BÙI THỊ NGỌC HÂN
MSSV: 5043964
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI – K30

Cần Thơ 05-2008
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………


Trang phụ bìa 02.
M
ỤC LỤC 04.
Lời nói đầu: 06.
1. Gi
ới thiệu chung về đề tài 06.
2. Ph
ạm vi nghiên cứu đề tài 06.
3. C
ấu trúc đề tài 07.
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 08.
1.1. Khái ni
ệm và đặc điểm của tranh chấp trong thương mại quốc tế 08.
1.1.1. Khái ni
ệm về tranh chấp trong thương mại quốc tế 08.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp trong thương mại quốc tế 09.
1.2. Gi
ải quyết tranh chấp và các phương thức giải quyết tranh chấp 10.
1.2.1. Th
ế nào là giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế ? 10.
1.2.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc
t
ế 11.
1.2.2.1. Thương lượng 12.
1.2.2.2. Hòa gi
ải 13.
1.2.2.3. Tr
ọng tài 14.

qu
ốc tế 40.
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
6
2.2.1. Sự cần thiết của việc công nhận và thi hành các quyết định của
tr
ọng tài thương mại quốc tế 40.
2.2.1.1. Công nh
ận và thi hành các quyết định của trọng tài nước
ngoài
ở các quốc gia 41.
2.2.1.2. Công nh
ận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của
tr
ọng tài nước ngoài 43.
2.2.2. Các
điều kiện công nhận và thi hành các quyết định của trọng
tài th
ương mại 46.
2.2.2.1. V
ấn đề xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài 47.
2.2.2.2. Xác
định thẩm quyền của trọng tài 47.
2.2.2.3. V
ấn đề liên quan thành phần trọng tài và tố tụng trọng tài 50.
2.2.2.4. V
ấn đề liên quan tới trật tự công cộng 52.
2.2.2.5. V
ấn đề liên quan tới thời hạn 55.

tranh ch
ấp bằng trọng tài của trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam (VIAC) 72.
3.2.1. Pháp l
ệnh trọng tài cần tiếp tục được hoàn thiện 72.
3.2.2. Vài ý ki
ến đề xuất hoàn thiện 75.
KẾT LUẬN 79.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82.
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
7
LỜI NÓI ĐẦU
  
1. Giới thiệu chung về đề tài:
Ngày nay cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội, nhu cầu hợp tác giữa các
quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường. Đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại
quốc tế. Do hoạt động thương mại quốc tế vô cùng phong phú và đa dạng bởi tính chất
đặc th
ù của hoạt động này, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia
mà còn liên quan đến nhiều quốc gia khác. Đồng thời, với môi trường kinh tế toàn cầu
hóa, đa dạng về chủ thể kinh doanh m
à lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu mà các nhà
kinh doanh luôn hướng tới. Ngay cả Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam tại Điều 57 cũng đã quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo qui định
của pháp luật”. Và tất nhiên không phải lúc nào các quan hệ kinh tế cũng được các bên
tham gia th
ực hiện chính xác và đầy đủ mà tất yếu phải có xảy ra tranh chấp, đặc biệt là
trong ho
ạt động thương mại quốc tế khi các chủ thể giao dịch thuộc các hệ thống pháp

ại, gay gắt và phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Do vậy, việc giải quyết tranh chấp
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
8
trong thương mại quốc tế cũng có nhiều phương thức khác nhau như: Thương lượng trực
ti
ếp, trung gian hòa giải, đưa tranh chấp ra trọng tài hoặc tòa án. Tuy nhiên trong phạm
vi nghiên c
ứu của đề tài chỉ xoay quanh vấn đề “Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
trong thương mại quốc tế”. Và trong khuôn khổ luận văn của mình do thời gian và trình
độ nghiên cứu có giới hạn nên người viết không trình bày một cách chi tiết từng vấn đề
mà chỉ trình bày những quy định cơ bản về phương thức “Giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh b
ằng trọng tài trong thương mại quốc tế”.
3. Cấu trúc đề tài:
Cơ cấu đề tài gồm có:
- M
ục lục.
- L
ời nói đầu.
-
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp trong thương mại quốc tế.
-
Chương II: Pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong thương mại
qu
ốc tế.
-
Chương III: Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong thương mại
qu
ốc tế và một số đề xuất hoàn thiện.

tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa, cung cấp những hàng hóa và dịch
vụ đó. Yếu tố nước ngoài là các yếu tố liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của
các chủ thể, liên quan đến nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài
sản là đối tượng của hợp đồng.
Như ta đ
ã biết thì hoạt động thương mại quốc tế có tính chất đặc trưng của nó là
nó không ch
ỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà còn liên quan đến
nhiều quốc gia. Do vậy, việc xảy ra xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong
hoạt động kinh doanh là điều không thể tránh khỏi.
Theo luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật Thương mại quốc
tế (UNCITRAL) đưa ra khái niệm “thương mại” với nội hàm rộng liên quan đến tất cả
các quan hệ mang bản chất thương mại. Xuất phát từ đó mà tranh chấp thương mại cũng
được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm to
àn bộ các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch
thương mại
1
. Ở Việt Nam giới khoa học pháp lý đã nêu lên nhiều quan hệ khác nhau về
tranh chấp thương mại, có quan điểm cho rằng tranh chấp thương mại được hiểu là “sự
bất đồng chính kiến vì một sự kiện pháp lý, là sự mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích,
về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ
khác nhau”
2
Từ những phân tích nêu trên ta thấy rằng tất cả các tranh chấp trong nước hay
quốc tế đều có thể là đối tượng của tranh chấp trong thương mại quốc tế nếu nó có yếu tố
nước ngo
ài tham gia vào các quan hệ đó. Tuy nhiên, đối với thương nhân Viêt Nam khi
tham gia vào quan h
ệ thương mại quốc tế thì bắt buộc phải có đầy đủ các điều kiện do
luật định. Theo Điều 33 Luật Thương mại Việt Nam “thương nhân chỉ được hoạt động

nhưng nh
ìn chung tranh chấp mà chúng ta thường thấy và phổ biến nhất trong đời sống
thương mại quốc tế đó l
à hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Do vậy khác với tranh
chấp trong nước, các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế không chỉ chịu sự
điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật của một quốc gia, m
à còn chịu sự điều chỉnh bởi các
nguyên tắc; các quy phạm trong luật pháp của nhiều quốc gia khác nhau; các nguyên tắc,
các quy phạm trong điều ước quốc tế và trong tập quán quốc tế về thương mại mà chủ
yếu là Incoterms, là một bộ quy tắc để giải thích những điều kiện thương mại thông
thường nhất trong thương mại q
uốc tế, giúp cho các thương gia có cách hiểu thống nhất
khi áp dụng trong giao dịch thương mại quốc tế, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những
tranh chấp có thể xảy ra.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp trong thương mại quốc tế:
Từ những khái niệm về tranh chấp trong thương mại nói trên ta có thể khái quát
được những đặc điểm của tranh chấp trong thương mại như sau:
Đặc điểm đầu tiên cơ bản nhất của tranh chấp trong thương mại quốc tế chủ yếu
là các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Các chủ thể của tranh chấp trong thương mại
quốc tế có thể là cá nhân, pháp nhân thậm chí là quốc gia khi tham gia kí kết hợp đồng
mua bán hàng hóa. Nhưng quốc gia l
à chủ thể duy nhất được hưởng quyền miễn trừ mà
các ch
ủ thể khác không có được. Do vậy để một tranh chấp là tranh chấp thương mại thì

3
Luật thương mại Việt Nam 2005
4
Dương Kim Thế Nguyên- Giáo trình luật thương mại (phần ba)-Đại học Cần Thơ 2004
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp

lu
ật luôn hướng tới mục tiêu hạn chế nó, khắc phục hậu quả của nó có thể xãy ra. Chính
vì v
ậy pháp luật cho phép các bên tranh chấp có quyền lựa chọn những giải pháp khác
nhau để giải quyết tranh chấp.
1.2. Giải quyết tranh chấp và các phương thức giải quyết tranh chấp:
1.2.1. Thế nào là giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế ?
Tranh chấp là điều tất yếu xãy ra trong hoạt động kinh doanh đặc biệt là trong môi
trường quốc tế, khi các chủ thể kinh doanh mang quốc tịch khác nhau, thì sự tranh chấp
ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Vì vậy việc giải quyết các tranh chấp trong
thương mại quốc tế phát sinh được coi như làm một đ
òi hỏi tự thân của quá trình phát
tri
ển kinh tế.
Theo cách hiểu thông thường thì giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là cách
th
ức cũng như phương pháp hoạt động, để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát
sinh nh
ằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự,
kỉ cương của xã hội.
5

5
Nguyễn Thị Kim Vinh- Pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án tai Việt Nam- Luận án tiến sĩ
luật hoc 2002.
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
12
Ngoài ra việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế còn được hiểu là
cách th

ên vi phạm hợp đồng và gây thiệt hại cho bên kia thì bên bị vi
phạm chủ động gặp bên vi phạm để thương lượng. Trong quá trình thương lượng bên bị
vi phạm sử dụng các văn bản pháp lý và các chứng từ cụ thể để chứng minh sự vi phạm
hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm hợp đồng phải có trách nhiệm bồi thường cho mình
nh
ững thiệt hại đó.
Trong trường hợp không thể gặp mặt để thương lượng t
ìm cách giải quyết thì bên
b
ị vi phạm có thể dùng các phương tiện thông tin như: Thư từ, điện tin, điện báo,
fax…để đề xuất ý kiến khiếu nại của m
ình với bên vi phạm hợp đồng. Đồng thời bên bị
khiếu nại cũng dùng các phương tiện thông tin tương tự để bày tỏ quan điểm của mình
v
ề việc giải quyết tranh chấp. Thật ra đây là hình thức giải quyết rất phổ biến, từ lâu
được giới thương gia rất ưa chuộng v
ì khá đơn giản, không tốn kém và nói chung ít gây
phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên. Quá trình thương lượng thành công
hay th
ất bại phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp, kết quả thương lượng
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
13
thường là giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những bế tắt hoặc những bất đồng phát sinh mà
trước đó các bên không ý thức trước được.
Ngoài những ưu điểm trên, hình thức giải quyết thông qua thương lượng cũng có
những hạn chế nhất định: Trước hết kết quả thương lượng phụ thuộc chủ yếu vào thiện
chí của các bên, nếu một trong các bên thiếu thiện chí thì quá trình thường kéo dài, thậm
chí bế tắt, buột các bên phải tìm kiếm hình thức khác và trong trường hợp đó sẽ còn mất
nhiều thời gian hơn. Mặt khác, kết quả thương lượng chỉ được bảo đảm bằng sự tự giác

mại của Hiệp hội trọng tài Mỹ (American Arbitration Association-AAA)…) Việc chọn
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
14
quy chế hòa giải này giúp các bên tiết kiệm được thời gian cho việc soạn thảo cách thức
tiến hành hòa giải.
6
Những ưu điểm và nhược điểm của hình thức “hòa giải” cũng giống như hình
th
ức “thương lượng”. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả được giới
kinh doanh ưa chuộng, giữ vai tr
ò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương
mại ở các quốc gia.
Hiện nay chúng ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào cụ thể điều chỉnh vấn
đề n
ày. Chính vì thiếu những cơ sở pháp lý của hình thức này nên trung gian hòa giải
trong giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thiện
chí của các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với mong muốn tiếp
tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài và uy tín, kinh nghiệm kỷ năng của người
đứng ra l
àm trung gian hòa giải phải là người thật sự am hiểu, có kiến thức sâu rộng, kĩ
năng giao tiếp trong lĩnh vực m
à mình đứng ra hòa giải. Có như vậy thì quá trình hòa
gi
ải mới thật sự mang lại hiệu quả.
1.2.2.3. Trọng tài:
Tranh chấp trong thương mại quốc tế không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc
gia mà còn liên quan đến nhiều quốc gia. Do vậy trong trường hợp các bên có sự bất
đồng với nhau trong kinh doanh m
à những tranh chấp này không thỏa thuận được thì

ể làm được điều đó bởi quyết định của trọng tài là chung thẩm có giá
trị ràng buộc các bên không thể kháng cáo, kháng nghị.
Ưu điểm thứ hai m
à cũng là ưu điểm đặc trưng nhất của phương thức trọng tài mà
gi
ới kinh doanh rất ưa chuộng đó là tính bí mật. Trong xét xử tại tòa án nguyên tắc công
khai phải được bảo đảm (trừ những trường hợp pháp luật yêu cầu xét xử kín). Điều này
đôi khi bất lợi cho các bên tranh chấp bởi vì thực tế nếu sự thật vụ việc được nhiều người
biết đến sẽ ảnh hưởng đến uy tín của các bên tranh chấp trong công việc kinh doanh sau
này của ho. Ngược lại trong xét xử trọng tài, vụ việc xét xử sẽ được giữ kín. Điều này
hoàn toàn phù h
ợp với nguyện vọng của các bên tranh chấp.
Ưu điểm thứ ba l
à tính thỏa đáng và hợp lý. Khác với các vị thẩm phán, trọng tài
viên không ch
ỉ là người hiểu biết pháp luật một cách tường tận mà họ còn là các chuyên
gia gi
ỏi có nhiều kinh nghiệm thực tế trong từng lĩnh vực chuyên ngành liên quan đến
tranh chấp. Ví dụ các lĩnh vực chuyên ngành rất phức tạp như: Hàng hải quốc tế, tài
chính qu
ốc tế, bảo hiểm quốc tế… mà lĩnh vực này không phải bất cứ vị thẩm phán nào
c
ũng có thể hiểu biết một cách thấu đáo. Do vậy thông thường một phán quyết của trọng
tài thường chính xác hơn, cho nên nó thỏa đáng v
à hợp lý hơn so với phán quyết của Tòa
án.
Đặc điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp hai
yếu tố thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không
th
ể có những phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận. Do vậy vì bất kì lý do gì

Trọng tài thường trực là loại trọng tài được lập ra để thường xuyên xét xử các
tranh chấp trong thương mại quốc tế. Trọng tài loại này tồn tại và hoạt động dựa trên
quy ch
ế riêng của nó, nếu trọng tài ad-hoc là loại trọng tài không có trụ sở, không có hội
đồng trọng t
ài tồn tại một cách thường xuyên thì ngược lại trọng tài thường trực là một tổ
chức xét xử có trụ sở và hội đồng thường trực làm công tác xét xử một cách thường
xuyên.
Tr
ọng tài thương mại quốc tế là trọng tài xét xử các tranh chấp trong thương mại
quốc tế, theo Đ1-K3 Luật mẫu của trọng tài thương mại quốc tế do UNCITRAL (Ủy ban
luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc) thông qua ngày 21/06/1985, thì một tổ
chức trọng tài mang tính chất quốc tế khi nó thể hiện một trong ba dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Các bên tham gia thỏa thuận trọng tài là các bên có trụ sở ở các quốc
gia khác nhau vào thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài.
Th
ứ hai: Một trong những địa điểm sau đây nằm ngoài lảnh thổ mà ở đó các bên
có tr
ụ sở:
+ Nơi tiến h
ành tố tụng trọng tài, nếu nơi này quy định trong thỏa thuận trọng tài
ho
ặc được xác định căn cứ vào thỏa thuận đó.
+ Mọi địa điểm mà ở đó một phần chủ yếu của các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ
thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có mối quan hệ chặt chẽ
nhất.
Thứ ba: Các bên đã thỏa thuận dứt khoát với nhau là nội dung của thỏa thuận
trọng tài có liên quan đến hơn một nước.
Ngoài ra trong trường hợp nếu một bên đương sự có hơn một trụ sở th
ì trụ sở có

đó pháp luật về trọng tài sẽ quy định sự lựa chọn này.
Th
ỏa thuận trọng tài mang tính hình thức và tồn tại độc lập với hợp đồng đã đăng
ký khi phát sinh tranh chấp. Một hợp đồng vô hiệu toàn bộ không làm điều khoản trọng
tài trong hợp đồng đó vô hiệu.
1.2.2.4. Tòa án:
Khi áp dụng phương thức thương lượng, hòa giải để giải quyết tranh chấp nhưng
không đạt hiệu quả v
à các bên tranh chấp không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải
quyết tại trọng tài thì việc giải quyết sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên trong
thương mại quốc tế việc xác định thẩm quyền của tòa án cũng khá phức tạp, bởi lẻ một
tranh chấp trong thương mại quốc tế có thể liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau. Do
vậy có thể xác định dựa vào sự thỏa thuận lựa chọn của các bên. Trong quá trình xác lập
hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, bên cạnh đưa ra các điều khoản để thực hiện
việc mua bán hàng hóa, các bên còn thỏa thuận liên quan đến việc xét xử tranh chấp.
Nếu các bên muốn đưa tranh chấp của mình tới một tòa án thương mại nào đó thì các
bên ph
ải ghi rõ trong hợp đồng, trong trường hợp các bên chỉ thỏa thuận chọn tòa án của
một nước nào đó để giải quyết tranh chấp thì tòa án có thẩm quyền xét xử tranh chấp là
tòa án theo quy
định của pháp luật nước có tòa án.
Ngoài ra n
ếu các bên có thỏa thuận cụ thể một tòa án nhất định sẽ xét xử tranh
chấp thì tòa án được các bên thỏa thuận chọn sẽ có thẩm quyền xét xử.
Bên cạnh đó việc xác định thẩm quyền của tòa án thương mại quốc tế không thể
không nói tới Điều ước quốc tế có liên quan. Điều ước quốc tế là một trong những nguồn
luật cơ bản quan trọng nhất trong thương mại quốc tế. Trong Điều ước quốc tế về thương

8
Giáo trình luật kinh tế Việt Nam- NXB Đại hoc quốc gia 1997 (trang 473)

t
ự, thủ tục chặt chẽ, hiệu lực phán quyết của tòa án được tôn trọng, góp phần nâng cao ý
thức và tôn trọng pháp luật của ở các quốc gia của các chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên theo khái niệm của một số nước cho thấy giải quyết tranh chấp bằng
tòa án cũng có những bất lợi: Nếu tranh chấp kinh tế giữa các quốc gia với nhau thì tính
trung l
ập của tòa án không tuyệt đối nếu tòa án xét xử là tòa án quốc gia của một trong
các bên; Bản án xét xử xong chưa có giá trị chung thẩm mà các bên có quyền kháng cáo,
khiếu nại nên thời gian kéo dài, trình tự thủ tục rườm rà; thông thường Tòa án xét xử
công khai nên làm giảm sút uy tín của các bên trên thương trường, lộ bí mật kinh doanh.
Điều n
ày cũng làm cho các bên tranh chấp e ngại khi lựa chọn phương thức này. Ngoài
ra trong m
ột số trường hợp bản án, quyết định của tòa án đã tuyên ở một số quốc gia chỉ
được công nhận nhưng không được thi h
ành thì cũng không có giá trị ràng buộc các bên
tranh ch
ấp. Về nguyên tắc việc công nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án chỉ
được thực hiện nếu đôi b
ên có ký kết Điều ước quốc tế có liên quan và trên nguyên tắc
có đi có lại. Do vậ
y suy cho cùng tính khả thi của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tòa
án mang l
ại cũng không cao.
Nhìn chung, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh mang những
đặc điểm ri
êng với những ưu điểm vượt bậc nhưng đồng thời cũng có những hạn chế
nhất định. Sự đa dạng về các hình thức giải quyết tranh chấp cho thấy sự phát triển
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:

hệ chịu sự điều chỉnh của trọng tài ngày càng tăng.
Ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển, hệ thống pháp luật Anh
-
M
ỹ và hệ thống pháp luật của các nước Châu Âu- Lục Địa xu hướng chung từ 1970 đến
nay là dành cho các bên đương sự quyền lựa chọn h
ình thức trọng tài, đưa các vụ tranh
chấp ra xét xử tại các tổ chức trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập, đi đôi với việc
thu hẹp thẩm quyền xét xử các tranh chấp kinh tế, nhất là tranh chấp quốc tế của các tòa
án trong nước thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp nhà nước .
Như vậy ta thấy rằng trọng tài thương mại quốc tế được th
ành lập để giải quyết
các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài (giải quyết các hoạt động kinh tế quốc
tế, kể cả khi một trong các bên là một quốc gia hay một doanh nghiệp nhà nước). Đồng
thời nó còn được thành lập dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia trên cơ sở điều ước
quốc tế mà các bên đã kí kết hoặc gia nhập. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản so với
trọng tài thương mại quốc tế được thành lập trên cơ sở pháp luật của quốc gia mình ( nơi
trọng tài có trụ sở chính- đối với trọng tài thường trực, nơi trọng tài giải quyết tranh
chấp- đối với trọng tài vụ việc). Tuy nhiên yếu tố nước ngoài ở đây thường được hiểu
khi có một trong ba trường hợp sau:
Thứ nhất: Một trong các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài;
Th
ứ hai: Khách thể là tài sản ở nước ngoài;
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
21
Thứ ba: Sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ xảy ra ở nước
ngoài.
T
ừ những phân tích trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về trọng tài

Thứ nhất: Các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ
thống cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên vẫn có một số ngoại lệ mang sắc thái riêng trong
pháp lu
ật trọng tài ở một số nước Châu Á như: Trung Quốc, Thái lan. Nhưng nhìn chung
các trung tâm tr
ọng tài được thành lập theo sáng kiến của các trọng tài viên sau khi được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, chứ không phải được th
ành lập bởi Nhà
nước. Và hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được
cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước, phán quyết của trọng tài viên duy nhất

9
Tập bài giảng Luật thương mại quốc tế- Trường Đại học Cần thơ- Khoa luât 2002.
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
22
hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực Nhà nước mà nhân danh người thứ
ba độc lập ra quyết định.
Là tổ chức phi chính phủ nhưng trung tâm trọng tài vẫn luôn đặc dưới sự quản lý
và hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước quản lý trong việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi
giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài. Nhà nước hỗ trợ
đối với hoạt động: Hỗ trợ chỉ định, thay đổi trọng t
ài viên, hỗ thợ trong việc xem xét lại
quyết định của hội đồng trọng tài, hỗ trợ trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời; hỗ trợ trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài; cưỡng chế thi hành
quy
ết định trọng tài…
Th
ứ hai: Các trung tâm trọng tài là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp. Do vậy
nó có tư cách pháp nhân và tồn tại độc lập với các trung tâm trọng t

ủa trung tâm.
Mỗi trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về trọng tài viên của trung tâm,
việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy
nh
ất để giải quyết vụ tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách trọng tài viên của
GVHD: DƯ NGỌC BÍCH Luận văn tốt nghiệp
SVTH: BÙI THỊ NGỌC HÂN trang:
23
trung tâm trọng tài. Vì vậy hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành
b
ởi các trọng tài viên của chính trung tâm. Đặc điểm này có sự khác biệt so với giải
quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài Ad-hoc.
Nét đặc trưng của trọng tài thường trực có hình thức tổ chức, trụ sở ổn định, có
danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng. Có thể nói phần lớn các tổ chức
trọng tài lớn có uy tín trên thế giới điều được thành lập theo mô hình này. Mỗi tổ chức
trọng tài quy chế đều đưa ra một bản quy tắc tố tụng hướng dẫn trình tự tiến hành tố
tụng. Các tổ chức trọng tài này được gọi dưới các tên như Tòa án trọng tài (ví dụ: tòa án
tr
ọng tài quốc tế của phòng thương mại quốc tế ICC). Đây là tổ chức trọng tài quốc tế
hàng đầu thế giới, được th
ành lập năm 1923 và có trụ sở chính ở Pari. Hàng năm, tố tụng
trọng tài ICC diễn ra ở 35 quốc gia khác nhau, tòa án ICC không thực sự là một tòa án.
Các tr
ọng tài viên được các bên chỉ định giải quyết tranh chấp được chuyển cho trọng tài
ICC, vai trò c
ủa hơn 80 thành viên của tòa án trọng tài ICC đến từ 70 quốc gia khác nhau
là giám sát tố tụng trọng tài. Đặc trưng quan trọng và duy nhất của tòa án trọng tài ICC
là được quyền xem xét kỹ lưỡng và chấp thuận phán quyết trọng tài do các trọng tài viên
so
ạn thảo. Cơ chế kiểm soát chất lượng này là một nhân tố quan trọng của hệ thống trọng

hy vọng tòa sẽ giữ vai trò hàng đầu trong lĩnh vực và giám sát giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài tại Trung và Tây Phi. Bên cạnh đó, trọng tài thường trực còn tồn tại dưới hình
th
ức trọng tài hay hiệp hội trọng tài. Ví dụ: Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế khu
vực Cairo(Cairo Regional Centre for International Commericial Arbitration- CRCICA),
Hi
ệp hội trọng tài Hoa Kỳ AAA…. Ngoài các trọng tài ở các quốc gia còn có các tổ chức
trọng tài khu vực như trung tâm trọng tài khu vực được thành lập vào năm 1978 dưới sự
bảo trợ của ủy ban tư vấn pháp luật Á-Phi, cùng với sự giúp đỡ của chính phủ Malaysia
trung tâm trọng tài khu vực Kuala lumpur (Kuala Lumpur Regional for Arbitration-
KLRCA) t
ạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết bằng trọng tài các tranh chấp thương
mại trong khu vực. Trung tâm áp dụng quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL năm
1976 với sự sửa đổi nhất định, đạo luật trọng tài của Malaysia không cho phép các Tòa
án Malaysia giám sát tr
ọng tài quốc tế được tiến hành theo quy tắc của trung tâm. Trung
tâm cung cấp phòng xét xử, phòng cho trọng tài viên nghỉ ngơi, thư viện, giúp đở các
nghiệp vụ thư ký và cung cấp dịch vụ ăn uống. Năm 2000 trung tâm giải quyết khoảng
35 vụ đây là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động nhằm tạo ra một cơ chế giải quyết
tranh chấp vì lợi ích của các bên tham gia thương mại, đầu tư vào khu vực và trong khu
v
ực.
Tại một số quốc gia, tổ chức trọng tài thương mại quốc tế được tổ chức dưới hình
th
ức một tổ chức nằm bên cạnh phòng thương mại. Ví dụ: Viện trọng tài thương mại
Stockholm Thụy Điển (Arbitration Institute of the Stockholm Chamber of Commerce-
SCC),
Ủy ban trọng tài thương mại Thái Lan…bản quy tắc tố tụng của Viện trọng tài
thương mại Stoc-khôm (Viện SCC) quy định ủy ban trọng tài gồm ba trọng tài viên trong
đó mỗi bên chỉ định một trọng tài viên, còn một trọng tài viên do cơ quan trọng tài chỉ

tư…trọng tài thường trực có quy chế tổ chức v
à hoạt động định sẵn, các bên tranh chấp
không có quyền tham gia xây dựng sửa đổi.
Việc xét xử của trọng tài được tiến hành trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên. Do
v
ậy, địa điểm tiến hành tố tụng có thể là nước bị đơn, nước nguyên đơn hoặc một nước
thứ ba nào đó. Trên thực tế việc lựa chọn địa điểm tiến hành tố tụng còn phụ thuộc vào
tương quan lực lượng giữa các bên trong các hợp đồng thương mại quốc tế, trong trường
hợp các bên không thỏa thuận được thì có thể áp dụng một quy tắc có tính tập quán là
vi
ệc xét xử được tiến hành tại tổ chức trọng tài nơi bị đơn. Bản quy tắc tố tụng của Hiệp
hội trọng tài Hoa kỳ quy định thư kí của ủy ban có quyền chỉ định địa điểm tố tụng trong
vòng 60 ngày kể từ ngày thành lập ủy ban trọng tài, nếu các bên không thỏa thuận được
địa điểm n
ày hoặc tổ chức trọng tài sẽ lấy trụ sở chính của nó làm địa điểm xét xử cho vụ
tranh chấp đó. Nói chung về quy tắc tố tụng (trình tự, thủ tục, giải quyết tranh chấp)
trọng tài thường trực có quy tắc tố tụng của mình. Đối với một số tổ chức trọng tài
thường trực, khi các bên lựa chọn tổ chức trọng tài này thì các bên chọn quy tắc tố tụng
của tổ chức đó, đối với một số tổ chức khác các bên có thể chọn quy tắc tố tụng của
trọng tài thường trực khác.
Ngày nay giới kinh doanh thường lựa chọn hình thức trọng tài quy chế để giải
quyết tranh chấp bởi lẻ nó có những đặc trưng mà hình thức giải quyết tranh chấp khác
không có được. Tuy nhi
ên với mỗi cách thức giải quyết đều có những ưu, nhược điểm
khác nhau nên vẫn có một số tranh chấp vẫn được các thương gia lựa chọn trọng tài Ad-
hoc để giải quyết vụ việc.
2.1.2.2. Giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập
(tr
ọng tài Ad-hoc):
“Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận

Th
ứ hai: Trọng tài ad-hoc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều
hành và không có danh sách trọng tài viên riêng:
Tr
ọng tài được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên trong hoặc
ngoài danh sách trọng tài viên hoặc bất cứ trung tâm trọng tài nào.
Th
ứ ba: Trọng tài vụ việc không có quy tắc trọng tài dành riêng cho mình được
các bên thỏa thuận xây dựng. Tuy nhiên để tránh lãng phí thời gian các bên tranh chấp có
thể thỏa thuận lựa chọn bất kì một quy tăc tố tụng phổ biến nào hoặc một quy tắc tố tụng
của một trung tâm trọng tài khác.
V
ới những đặc trưng trên ta thấy rằng trọng tài vụ việc cũng có những ưu điểm mà hình
th
ức trọng tài thường trực không đáp ứng được như:
- Nó có thể giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và ít tốn kém bởi xét cho
cùng trọng tài vụ việc vẫn chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp;
- Các bên có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên có tên trong danh sách hoặc
ngoài danh sách trọng tài viên sẵn có mà không bị giới hạn bởi danh sách trọng tài viên
c
ủa trung tâm trọng tài. Mà có quyền lựa chọn bất kỳ trọng tài viên nào của bất kỳ trung
tâm trọng tài nào có tên trong hoặc ngoài danh sách.
- Các bên có quy
ền tự do lựa chọn quy tắc tố tụng của bất kỳ trung tâm trọng tài
nào mà các bên ch
ấp nhận. Trong khi đó hình thức trọng tài thường trực các bên chủ yếu
chịu ràng buộc bởi quy tắc tố tụng của chính trung tâm trọng tài mà các bên đã lựa chọn.
Tuy nhiên do không có trước một quy tắc tố tụng trọng t
ài riêng nên có những
trường hợp việc thỏa thuận giữa các trọng tài viên để xây dựng những quy tắc trọng t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status