Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
1
1
Mở đầu
rong kinh doanh, tranh chấp tồn tại nh một tất yếu: có thể ở dạng
tranh chấp hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp tơng lại. Các
mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất
chấp một khung pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu - bởi không phải lúc nào các bên
cũng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Đặc biệt trong thơng mại Quốc tế,
lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ
và cả các đặc điểm văn hoá rất khác nhau, thì tranh chấp lại càng lớn, cả về mặt quy
mô và khả năng xảy ra tranh chấp. Chỉ cần một sự sai lệnh nhỏ trong cách hiểu, xuất
phát từ bất đồng ngôn ngữ là đã có thể dẫn đến tranh chấp. Đây là cha nói đến vấn
đề phức tạm hơn là văn hoá và tập quán kinh doanh. Chẳng hạn nh hàng nhập khẩu
vào Trung Quốc bắt buộc phải có mã số, mã vạch, và điều này đợc coi là đơng
nhiên đối với các nhà nhập khẩu Trung Quốc và do đó có thể gây thiệt hại cho nhà
xuất khẩu nếu không chú ý đến điều đó trong thoả thuận hợp đồng. Hay nh quy
định về điều kiện cơ sở giao hàng của Hoa Kỳ không hoàn toàn giống với các điều
kiện cơ sở giao hàng của Phòng Thơng mại quốc tế (Incoterm) mà nếu không
nghiên cứu kỹ các bên có thể dẫn đến tranh chấp về các khoản chi phí giao hàng,
Trớc khi bắt đầu một thơng vụ, các chủ thể không bao giờ muốn có
tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, nó vẫn có thể xảy ra do những nguyên nhân chủ
quan và khách quan. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hạn chế đến mức thấp
nhất khả năng xảy ra tranh chấp là điều luôn đợc quan tâm. Nhng một khi
tranh chấp đã xảy ra, hoặc để đảm bảo lợi ích cho bản thân trong trờng hợp
xảy ra tranh chấp, thì vấn đề lựa chọn một phơng pháp giải quyết tranh chấp
cũng cần đợc quan tâm thích đáng, sao cho tranh chấp đợc giải quyết thoả
đáng với chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc là ít nhất.
Một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp hay đợc áp dụng hiện
nay là thông qua trọng tài kinh tế. Có nhiều u điểm của phơng pháp này so
phơng thức giản đơn khác nhau. Hay nói một cách khác, lịch sử ra đời và
phát triển của kinh tế có từ rất lâu trớc khi Nhà nớc xuất hiện và đa ra nx
chế định để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội cùng với sự ra đời và phát
triển của các quan hệ kinh tế xã hội, tranh chấp cũng phát sinh và đặt ra nhu
cầu đợc giải quyết sao cho công bằng và hợp lý nhất trong bối cảnh kinh tế -
chính trị - xã hội đó.
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung đợc hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng,
mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật
điều chỉnh nên chúng đợc gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền
lơng giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động đợc gọi là tranh chấp
lao động. Tơng tự nh vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai ... những
tranh chấp rõ là có liên quan đến lợi ích kinh tế của các bên. Do đó chúng có
thể đợc gọi là tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng. Một đặc trng của các
tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này
không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Trong phạm vi hẹp, quan hệ kinh tế là quan hệ giã các chủ thể kinh
doanh trong lĩnh vực kinh tế. Kể từ khi nớc ta có pháp luật về hợp đồng kinh
tế, những tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế gọi là tranh chấp
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
3
3
kinh tế, đó là sự bất đồng quan điểm của các bên về việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế. Song trong nền kinh tế thị
trờng mở cửa và nhiều thành phần kinh tế hiện nay, tranh chấp kinh tế không
chỉ đơn thuần là tranh chấp hợp đồng kinh tế, mà còn nhiều loại tranh chấp
khác, phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh nh: tranh chấp giã công
ty và các thành viên công ty; giữa các thành viên công ty với nhau, các tranh
* Theo lĩnh vực kinh doanh thì gồm: tranh chấp thơng mại, tranh chấp
về tài chính, tranh chấp đầu t, tranh chấp về bảo hiểm, tranh chấp về vận
chuyển hàng hoá...
* Theo thẩm quyền giải quyền thì gồm có tranh chấp do Toà án giải
quyết và tranh chấp do các tổ chức khác giải quyết.
* Theo số lợng đơng sự trong tranh chấp gồm có tranh chấp liên quan
đến hai bên và tranh chấp liên quan đến nhiều bên.
1.1.2. Tranh chấp thơng mại
1.1.2.1. Khái niệm
Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thơng mại là tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thơng mại. Điều 238 Luật thơng mại Việt Nam nêu ra
khái niệm về tranh chấp thơng mại "là tranh chấp phát sinh do việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt đồng thơng mại".
Tại Khoản 2 - Điều 5 cũng quy định "hoạt động thơng mại là việc thực
hiện một hay nhiều hành vi thơng mại của thơng nhân, bao gồm việc mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thơng mại và các hoạt động xúc tiến thơng
mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã
hội".
Tuy nhiên, hành vi thơng mại gồm những hành vi nào là điều đáng
quan tâm hơn cả. Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành
vi thơng mại:
ở Việt Nam, Điều 45 Luật thơng mại quy định các loại hành vi thơng
mại gồm:
1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thơng nhân
3. Môi giới thơng mại
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
1.1.2.2. Phân loại tranh chấp thơng mại
Tranh chấp thơng mại cũng là một tranh chấp kinh tế, do đó tranh chấp
thơng mại có thể là:
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
6
6
* Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thơng mại trong nớc và tranh
chấp thơng mại quốc tế.
* Tranh chấp hai bên và tranh chấp nhiều bên
* Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên
- Tranh chấp do ngời mua không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định của hợp đồng.
- Tranh chấp do ngời bán không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định hợp đồng.
* Tranh chấp hiện tại và tranh chấp tơng lai. Tranh chấp hiện tại là
tranh chấp đã xảy ra đang cần đợc giải quyết. Tranh chấp tơng lai đợc hiểu
là tranh chấp có thể xảy ra và việc giải quyết đợc dự liệu trong một điều
khoản của hợp đồng.
* Theo nghiệp vụ giao dịch
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến viêc thanh toán
* Theo tính pháp lý của hợp đồng (gồm có giá trị pháp lý và hiệu lực của
hợp đồng)
- Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng
Vi phạm nguyên tắc ký kết
Căn cứ ký kết không hợp pháp
Chủ thể ký kết hợp đồng không hợp pháp, hợp lệ
mại, mà mục tiêu của các bên khi tham gia vào các quan hệ này là lợi nhuận.
Các bên tuy hợp tác, song vẫn canh tranh nhau để thu về đợc lợi ích nhiều
nhất. Chính vì thế sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn bất đồng trong việc
giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng nh quá trình thực hiện quyền và nghĩa
vụ đó của các bên - đó chính là những tranh chấp thơng mại.
Thứ ba, tranh chấp thơng mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
đợc Nhà nớc thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là
các doanh nghiệp. Vì vậy không phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động
kinh doanh cũng là tranh chấp thơng mại. Là tranh chấp thơng mại khi các
đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế (các
doanh nghiệp Nhà nớc, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp t
nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, hộ kinh doanh cá thể ).
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
8
8
Thứ t, tranh chấp thơng mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh
chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của
các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị
trờng. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thờng xuyên, liên
tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến
cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau
khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranh
chấp trong mối quan hệ khác. Chẳng hạn doanh nghiệp A vay tiền của ngân hàng
để mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán sản phẩm cho doanh nghiệp
C theo các hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp B không cung cấp đúng nguyên
vật liệu nh đã thoả thuận thì doanh nghiệp A cũng sẽ không giao đợc hàng cho
bên C nh trong hợp đồng và không thu hồi đợc vốn đầu t để trả cho ngân
hàng. Tranh chấp phát sinh giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp B; doanh
lệ... trong hoạt động thơng mại ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực kinh tế. Một
hành vi đợc coi là hợp pháp ở quốc gia này nhng rất có thể là hành vi vi
phạm pháp luật ở nớc khác. Chẳng hạn theo quy định nhập khẩu của Trung
Quốc, hàng hoá nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải in mã số mã vạch
trên bao bì, nhãn hiệu hàng hoá. Các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trờng
Trung Quốc nếu không tìm hiểu rõ quy định này và xuất hàng cha đăng ký
và in mã số, mã vạch thì sẽ không đợc thông qua nhập khẩu và thế là tranh
chấp phát sinh. Hay nh quy định về hạn ngạch dệt may của Mỹ khác với quy
định của EU là ở loại hạn ngạch tính theo số lợng nhập khẩu....
Các rủi ro khách quan nh: sự thay đổi pháp luật, cấm vận, chiến tranh,
bạo loạt, đình công... ảnh hởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên làm
phát sinh tranh chấp. Mặc dù đó có thể là những trờng hợp bất khả kháng,
song việc giải quyết hậu quả, phân định mức thiệt hại cho mỗi bên cũng có thể
phát sinh tranh chấp. Tranh chấp còn phát sinh khi một bên cho rằng rủi ro
không nằm trong các trờng hợp đợc miễn trách.
Trong nền kinh tế thị trờng đạo đức kinh doanh không phải lúc nào
cũng đợc các bên tôn trong, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng. Vì lợi
nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa
đào khách hàng... làm thiệt hại cho đối tác. Bản thân mục tiêu lợi nhuận
không mang tính đạo đức nhng cách thức để đạt đợc lợi nhuận thì có và
tranh chấp phát sinh, trong trờng hợp này thuộc về lý do chủ quan. Rõ ràng
trong nền kinh tế thị trờng quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa dạng và
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
10
10
phức tạp. Mục đích nhằm tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của
các bên tham gia quan hệ kinh tế thơng mại. Trong điều kiện đó, tranh chấp
là một vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải
11
xảy ra bằng cách đặt ra các chế định và chế tài tạo thành một "sân chơi" lành
mạnh và công bằng. Khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, biện pháp để
giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây da kéo dài và
thiệt hại rất lớn. Điều đó không những làm thiệt hại, kìm hãm phát triển nền
kinh tế mà còn gây nên một khuyết điểm lớn của môi trờng kinh doanh, các
chủ thể sau tranh chấp có thể "quay lng" lại với nhau đố kỵ và không tin
tởng lẫn nhau. Một tâm lý yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu t sẽ góp
phần cải thiện nền kinh tế.
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trong
việc quản lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiập, vừa góp phần tạo môi trờng pháp lý có kỷ cơng. Trong sản xuất
kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng cho các doanh
nghiệp trong nớc và ngoài nớc. Thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tính hiệu quả đợc xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả
kinh tế. Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp
nào cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc.
1.1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp.
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trớc pháp
luật, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trớc hết là ở
chỗ các bên có quyền thoả thuận phơng thức giải quyết tranh chấp có lợi nhật
có thể là tự thơng lợng, hoặc thông qua trung gian hoà giải, hoặc thông qua
một hình thức tài phán. Sau đó các bên có thể không nhất thiết phải tham gia
tố tụng mà có thể uỷ quyền cho ngời khác tham gia tố tụng, có quyền nhờ
luật s hoặc ngời khác bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Cuối cùng khi đã
đa tranh chấp ra trọng tài hoặc toà án các bên có quyền hoà giải hoặc thay
đổi nội dung đơn kiện hoặc rút đơn kiện.
- Nguyên tắc bình đẳng trớc pháp luật: Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các bên không phân biệt thành phần kinh tế, số vốn, tài sản.
tin nào ngoài phạm vi giải quyết tranh chấp, nhằm hạ uy tín hay ảnh hởng
tiêu cực đến hình ảnh của đối phơng trên thơng trờng, trớc công luận, hay
trớc tổ chức giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố bí mật trong kinh
doanh trong hoạt động kinh doanh để có đợc thành công thì các chủ thể đều
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
13
13
có những bí quyết riêng của mình vì vậy họ không muốn đề ngời khác biết.
Khi mà quyền kinh doanh đợc coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong
kinh doanh cũng đợc pháp luật bảo hộ.
Trong các phơng thức giải quyết tranh chấp chỉ có thông qua toà án là
xét xử công khai nhng ngay cả trong trờng hợp các bên kiện ra toà, thì yêu
cầu về tính bảo mật và uy tín cũng đợc tôn trọng nh quy định ở Điều 7 pháp
lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế: "Các vụ án kinh tế đợc xét xử
công khai trừ trờng hợp cần giữ bí mật Nhà nớc hoặc giữ bí mật của đơng
sự theo yêu cầu chính đáng của họ".
Trong nền kinh tế, có nhiều phơng thức và loại hình giải quyết tranh
chấp khác nhau, tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, quyền
và lợi ích của các bên đều đợc bảo đảm. Các khả năng, hình thức và biện
pháp giải quyết tranh chấp đợc quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia
thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó. Đó là việc giải quyết
tranh chấp thông qua một cơ quan tài phán có đơn kiện, hoặc giải quyết tranh
chấp thông qua thủ tục đơn kiện.
1.1.3.3. Các biện pháp giải quyết tranh chấp.
a. Giải quyết tranh chấp bằng thơng lợng.
Đây là biện pháp các bên áp dụng trớc khi đi kiện khi pháp sinh tranh
chấp. Các bên sẽ đa ra trao đổi bàn bạc các biện pháp để đi đến thống nhất
nghĩa vụ "trung lập" tạo điều kiện giúp đỡ các bên tranh chấp đạt đợc một
giải pháp để điều hoà lợi ích khắc phục mâu thuẫn bất đồng đã phát sinh.
Hoà giải viên sẽ tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung
với cả hai bên để tìm hiểu kỹ nội dung tranh chấp, đa ra những lý giải, phân
tích cho các bên thấy rõ lợi ích của mình và của bên kia để cùng tìm ra một
giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp hợp tình hợp lý. Hoà giải viên
không có quyền hạn gì để ra quyết định hoặc áp đặt một giải pháp nào đối với
các bên, cũng nh không thể đa ra các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tự nguyện, nó
mang đầy đủ những u điểm của thơng lợng. Ngoài ra, hoà giải còn có
những u điểm khiến không giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn. Chẳng hạn
hoà giải viên thờng là những chuyên gia am hiểu về vấn đề đang tranh chấp,
họ lại có một đánh giá sự việc khách quan hơn, hoà giải viên có thể đa ra giải
quyết cho cả hai bên cùng tham khảo, họ thờng có những phân tích chính
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
15
15
xác, rõ ràng các vấn đề thực tế trong tranh chấp, từng bớc gỡ từng bớc
"mút" bất đồng.
Hoà giải cũng chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh
chấp và nhìn chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt
đợc sự thoả thuận. Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ thì tranh chấp cũng
không giải quyết đợc vì hoà giải viên không đa ra những quyết định buộc
các bên phải thi hành.
Ngời trung gian hoà giải đợc chọn thông qua sự thống nhất thoả thuận
của các bên. Đó có thể là các tranh chấp trong lĩnh vực chuyên môn của họ.
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong thơng mại quốc tế trung
gian hoà giải có thể là một tổ chức Chính phủ nh đại sứ quán các trung tâm
Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án kinh
tế thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối cao chỉ xét xử giám đốc thẩm và tái
thẩm các vụ án kinh tế.
Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cac xét xử phúc thẩm các bản án
sơ thẩm của toà án kinh tế Toà án nhân dân cấp huyện.
+ Thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ: Toà án cấp có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc c trú. Nếu vụ án chỉ liên quan
đến bất động sản thì toà án có nơi có bất động sản giải quyết.
+ Theo yêu cầu giải quyết của nguyên đơn: Nguyên đơn có quyền lựa
chọn Toà án để yêu cầu giải quyết trong các trờng hợp sau: Toà án an có tài
sản, nơi có trụ sở hoặc nơi c trú của bị đơn hoặc chi nhánh của bị đơn.
Toà án nơi thực hiện hợp đồng kinh tế nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi
c trú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi c trú hoặc có trụ
sở của một trong các bị đơn giải quyết vụ án.
Nếu vụ án có liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Toà án nơi có bất động sản hoặc nơi c trú của bị đơn giải quyết, hoặc chọn
một trong các nơi nếu liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi.
Đối với tranh chấp có yếu tố nớc ngoài xảy ra ở Việt Nam, Toà án cũng
có thẩm quyền xét xử, trừ trờng hợp điều ớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Muốn đa tranh chấp ra kiện ở Toà án nguyên đơn phải có đơn và tài
liệu chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời phải tạm ứng án phí. Trớc
khi xét xử Toà sẽ tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải thành thì thẩm phán lập
biên bản hòa giải thành và coi đây nh là quyết định của Toà án, bằng không
cũng lập biên bản hoà giải không thành và tiếp tục xét xử. Việc xét xử gồm xét
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
17
doanh nghiệp. Phần tiềp theo, ngời viết sẽ tập trung vào phơng pháp giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài, đặc biệt trong lĩnh vực thơng mại quốc tế.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
18
18
1.2. Trong tài kinh tế và giải quyết tranh chấp bằng thủ tục
trong tài.
1.2.1. Trọng tài.
1.2.1.1. Khái niệm.
Theo từ điển luật học của Black's "Trọng tài là cơ quan xét xử do các
bên đơng sự thoả thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa chính các bên
đơng sự đó. Thành phần của trong tài do các bên đơng sự thoả thuận giải
quyết định "
Theo Điều 1, Nghị định 116/CP về tổ chức và hoạt động của trọng tài
kinh tế quy đinh: "Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công
ty và các thành viên công ty; giữa các thành viên của công ty với nhau; các
tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
ở Việt Nam và các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây còn có hệ thống
trọng tài kinh tế của Nhà nớc, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ
trởng hoặc Uỷ ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo, giám sát của trọng
tài kinh tế cấp trên. Các cơ quan trọng tài này hoạt động nh một cơ quan Nhà
nớc có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và xử lý các vi phạm
hợp đồng kinh tế.
1.2.1.2. Các hình thức trọng tài kinh tế.
Đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp vốn đa dạng và phức tạp, tạo điều
kiện cho các bên tranh chấp thực hiện quyền lựa chọn của mình đối với các
hình thức trọng tài kinh tế trong nền kinh tế thị trờng có thể đợc phần ra
hỗ trợ của một hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa
chọn" sẽ chỉ là hình thức nếu các bên không có thiện chí với nhau. Trình tự
xét xử dễ bị trì hoãn nếu các bên không thống nhất đợc thủ tục giải quyết
hoặc trở ngại trong việc lựa chọn trong tài viên.
Trọng tài vụ việc trên thực tế chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ,
khi các đơng sự có sự am hiểu về pháp luật, dày dạn trên thơng trờng và có
kinh nghiệp tranh tụng.
Trọng tài thờng trực: bên cạnh loại hình trọng tài AD - HOC, còn có
loại hình trọng tài hoạt động thờng xuyên, theo thông lệ quốc tế đợc gọi là
trọng tài thờng trực hay trọng tài quy chế. Trọng tài thờng trực có điều lệ
riêng và quy chế hoạt động cụ thể. Mỗi tổ chức trọng tài quy chế đều đa ra
một bản quy tắc tố tụng hớng dẫn trình tự tiến hành thủ tục giải quyết tranh
chấp. Các trung tâm trọng tài này đơc gọi dới các tên nh Toà án trọng tài
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
20
20
(Ví dụ Toà án trọng tài quốc tế, Toà án trọng tài Luân Đôn); Trung tâm trọng
tài (Ví dụ Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, Trung tâm trọng tài quốc tế
Hông kông...); hay Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Mỹ...). Các Trung
tâm trọng tài đợc tổ chức dới dạng công ty hoặc Hiệp hội.
Về cơ cấu tổ chức, mỗi tổ chức trọng tài quy chế gồm một bộ phận
thờng trực hoặc ban th ký nhằm cung cấp các dịch vụ hành chính và giám
sát việc áp dụng các quy tắc trọng tài. Thành phần thứ hai không thể thiếu ở
các tổ chức trọng tài qui chế là các trọng tài viên, họ là các luật s, các chuyên
gia giỏi, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực thơng mại, hàng hải, bảo hiểm...
Trọng tài thờng trực là hình thức trung gian giữa Toà án và Trọng tài
vụ việc, Trọng tài thờng trực giống trọng tài AD - HOC ở khả năng lựa chọn
trọng tài viên, tuy có hạn chế hơn (vì phải chọn một hoặc tất cả trọng tài viên
Bên cạnh những u điểm trên thì trọng tài quy chế cũng có những hạn
chế nhất định nh chi phí trọng tài cao hơn so với trọng tài AD - HOC. Ngoài
chi phí trọng tài, các tổ chức trọng tài còn thu thêm phí hành chính. Và cũng
do bộ máy hành chính nên đôi khi quá trình tố tụng trọng tài quy chế kéo dài
vì phải tuân thủ những thủ tục trong quy tắc tố tụng một cách tuần tự và
nghiêm chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa chọn" của các bên thực chất đã bị hạn
chế trong quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài.
Theo kinh nghiệm, khi phải giải quyết những vụ tranh chấp phức tạp, có
giá trị kinh tế cao thì nên kiện ra trong trọng tài quy chế.
b. Căn cứ theo vị trí trọng tì trong hệ thống tổ chức gồm:
Trọng tài Nhà nớc: (hay còn gọi là trọng tài Chính phủ): Là cơ quan
thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành Nhà nớc, có chức năng quản
lý Nhà nớc đối với công tác hợp đồng kinh tế. Hoạt động giải quyết tranh
chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phơng tiện để đạt đợc
mục đích là trực tiếp tham gia việc điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế.
Trọng tài kinh tế Nhà nớc tồn tại ở các nớc có nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung nh ở các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu và ở Việt Nam trớc
đây (từ những năm 1960 cho đến tận đầu thập kỷ 90). Và hiện nay khi chuyển
sang cơ chế thị trờng, các quốc gia này cũng tiến hành đổi mới cách thức tổ
chức giải quyết tranh chấp.
Trọng tài phi Chính phủ: là một tổ chức độc lập, không phụ thuộc hệ thống
các cơ quan Nhà nớc. Nó có thể đợc thành lập ở dạng công ty hoặc Hiệp hội
trọng tài. Mô hình này phổ biến ở nớc có nền kinh tế thị trờng.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
22
22
c. Căn cứ vào mô hình tổ chức:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
23
23
không đạt kết quả thì tranh chấp thơng mại tại trọng tài, Toà án đợc tiến hành
theo các thủ tục tố tụng của trọng tài, Toà án mà các bên lựa chọn". Điều 21b
Điều lệ mua bán licent, Điều 241 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Khoản 2 Điều 30
Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Điều 38 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, Điều 24 Luật đầu t nớc ngoài... cũng có những quy định tơng tự.
1.2.3. Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Uỷ ban trọng tài và các bên đơng
sự phải tuân theo. Do trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp đợc hình thành
trên cơ sở tự nguyện của các trọng tài viên, theo quy định của Pháp luật; hoặc
trên cơ sở lựa chọn của các đơng sự (trọng tài AD - HOC), nên không tồn tại
một tố tụng thống nhất. Tuy vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
của tất cả các tổ chức, hình thức trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau mà
nếu vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất phức tạp.
+ Nguyên tắc tự nguyện: Là nguyên tắc cốt lõi trong vấn đề trọng tài vì
trọng tài đợc hình thành là do ý chí tự nguyện của các bên đơng sự và trong
quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài đều nhân danh ý chí tối cao của các
bên đơng sự. Họ có thể thoả thuận chọn hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài,
trọng tài viên, địa điểm mà họ thấy thuận tiện và thậm chí là cả quy tắc tố
tụng áp dụng trong vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng, nếu các bên đạt đợc
sự thống nhất trên cơ sở thơng lợng hoặc hoà giải thì trọng tài phải tôn
trọng sự thoả thuận đó và chấm dứt việc giải quyết vụ việc.
+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp: Trong mọi việc: từ lựa
chọn hay bãi miễn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm tố tụng, trong việc đa
đơn yêu cầu hay đơn biện minh trong việc nhận thông tin từ trọng tài và phía
bên kia. Mọi tài liệu thông tin cho trọng tài đều phải thông báo cho bên kia,
mọi biện pháp, quyết định của trọng tài đều phải đảm bảo sự bình đẳng giữa
chấp đã xảy ra hoặc có thể xảy ra để giải quyết thông qua thủ tục trọng tài.
Thoả thuận trọng tài có giữa các bên đồng nghĩa với việc các bên đã
gián tiếp thoả thuận khớc từ thẩm quyền xét xử của Toà án quốc gia. Nếu
không có thoả thuận sẽ không có trọng tài, hoặc nếu trọng tài không đợc tiến
hành dựa trên cơ sở thoả thuận thì trọng tài này bị pháp luật coi là vô hiệu khi
đã thoả thuận, các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ thoả thuận này.
Nếu một bên vi phạm thoả thuận trọng tài, bên kia có quyền yêu cầu Toà án
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp TTTT quốc tế Việt Nam
25
25
can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thoả thuận trọng tài không
dẫn đến các chế tài phạt nh trong chế tài phát hợp đồng. Thay cho chế tài
buộc thực hiện hợp đồng phạt hoặc bồi thờng thiệt hại trong hợp đồng, thông
thờng là quy định của pháp luật đảm bảo cho thoả thuận trọng tài đợc thực
hiện mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên liên quan.
Thoả thuận trọng tài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài. Đó chính là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ hoạt
động của trong tài: từ lúc đa tranh chấp ra trọng tài nào, chọn trọng tài viên
ra sao... cho đến cách thức thủ tục giải quyết tranh chấp.
Thoả thuận trọng tài tồn tại dới hai dạng đó là Điều khoản trọng tài
trong hợp đồng và thoả thuận trong tài riêng biệt. Điều khoản trọng tài trong
hợp đồng là thoả thuận giữa cá bên hợp đồng chon trọng tài để giải quyết
tranh chấp có thể xảy ra trong tơng lai. Điều khoản này nằm ở phần cuối hợp
đồng, không phải là do nó không quan trọng bằng các điều khoản khác mà là
do trình tự đàm phán. Sau khi các bên đã thoả thuận xong phần lớn điều khoản
chủ yếu khác rồi mới thoả thuận điều khoản này. Nó còn đợc gọi một cách
hình ảnh là "Điều khoản nửa đêm" (midnight clause). Do tranh chấp hợp đồng
cha xảy ra và có thể không bao giờ xảy ra nên Điều khoản trọng tài thờng