ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ NGỌC NAM
ph©n biÖt tranh chÊp kinh doanh,
th-¬ng m¹i vµ tranh chÊp d©n sù
theo ph¸p luËt ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ NGỌC NAM
ph©n biÖt tranh chÊp kinh doanh,
th-¬ng m¹i vµ tranh chÊp d©n sù
theo ph¸p luËt ViÖt Nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN NHƢ PHÁT
HÀ NỘI - 2015
1.1.2. Bản chất của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp
dân sự .................................................................................................... 9
1.2.
PHÂN BIỆT GIỮA HÀNH VI DÂN SỰ VÀ HÀNH VI THƢƠNG MẠI .... 10
1.2.1. Lịch sử phát sinh và phát triển của hành vi dân sự và hành vi
thƣơng mại .......................................................................................... 10
1.2.2. Khái niệm hành vi dân sự và khái niệm hành vi thƣơng mại ............. 15
1.2.3. Tính chất của hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại ......................... 20
1.3.
CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH HÀNH VI THƢƠNG MẠI .......................... 23
1.3.1. Phân loại hành vi thƣơng mại ............................................................. 23
1.3.2. Các thành tố của hành vi thƣơng mại .................................................. 29
1.3.3. Một số loại trừ khi xác định hành vi thƣơng mại ................................ 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÂN
BIỆT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI VÀ
TRANH CHẤP DÂN SỰ - KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ............. 36
2.1.
THỰC TRẠNG CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÂN BIỆT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI VÀ TRANH CHẤP
DÂN SỰ ............................................................................................... 36
2.1.1. Thực trạng các qui định pháp luật trực tiếp phân biệt tranh chấp
kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự .................................... 36
Gần nhƣ thay thế ngành luật này là ngành luật thƣơng mại - một ngành luật
mới đƣợc hồi sinh. Bƣớc tiếp sự tiêu vong và sự hồi sinh này là sự hợp nhất tố
tụng dân sự và tố tụng kinh tế để đƣa ra một bộ luật chung mà hiện nay gọi là
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã xóa đi sự tản mạn của luật
tố tụng giải quyết các tranh chấp tƣ, tuy nhiên mang trong lòng nó không ít
bất cập. Bộ luật này có các qui định phân biệt giữa tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại và tranh chấp dân sự. Các qui định này gây không ít rắc rối cho
thực tiễn tƣ pháp, mặc dù luật nội dung có sự phân biệt tƣơng đối giữa luật
dân sự và luật thƣơng mại. Ngay trong học thuật, phân biệt giữa luật dân sự
và luật thƣơng mại nói chung và phân biệt giữa tranh chấp dân sự và tranh
chấp kinh doanh, thƣơng mại nói riêng là rất khó khăn và thiếu sức thuyết
phục. Bởi vì, suy cho cùng, pháp luật thƣơng mại chỉ là lĩnh vực của pháp luật
tƣ với Bộ luật Dân sự là luật gốc.
Mặt khác, phân biệt tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp
1
dân sự là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Phân biệt các loại tranh
chấp này để giải quyết tại các Tòa chuyên trách (Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế).
Việc phân biệt này cũng góp phần bảo đảm tốt việc giải quyết những tranh
chấp thƣơng mại tại trung tâm Trọng tài thƣơng mại. Bên cạnh đó, hiện về
mặt lý luận chƣa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên về sự phân biệt giữa
tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại để tạo thành nền tảng
vững chắc cho thực tiễn xây dựng pháp luật, cũng nhƣ thực tiễn thi hành và
áp dụng pháp luật.
Vì các lẽ trên và mong muốn đóng góp cho nghiên cứu khoa học của
bản thân, tôi xin lựa chọn đề tài "Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương
mại và tranh chấp dân sự theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài cho luận văn
vận tải, 2000); thứ năm, công trình mang tên "Pháp luật giải quyết tranh chấp
nội bộ công ty: nhận thức, thực trạng và cải cách" của PGS.TS Ngô Huy Cƣơng
(đăng trong Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 11(295)/2012, tr. 48- 58&82);
thứ sáu: "Giáo trình luật thương mại - Phần chung và Thương nhân" của
PGS.TS Ngô Huy Cƣơng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; thứ bảy: "Áp
dụng tập quán giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam" của Nguyễn
Mạnh Thắng (Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015)...
Các công trình này đã khơi thông các vấn đề lý luận nền tảng liên
quan tới việc phân biệt giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại. Tuy nhiên, các công trình này không nghiên cứu trực tiếp sự
phân biệt này và nhìn nhận vấn đề từ phƣơng diện pháp luật kinh doanh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận chủ
yếu về phân biệt giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thƣơng
3
mại và trên cơ sở đó phân tích thực trạng pháp luật, rồi đƣa ra các kiến
nghị liên quan.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
+ Nghiên cứu các vấn đề lý luận chủ yếu của sự phân biệt giữa tranh
chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự dựa trên mô hình lớn của
pháp luật Việt Nam hiện nay;
+ Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam có liên quan;
+ Kiến nghị cải cách pháp luật liên quan.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn xác định đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu là những vấn đề lý
luận chung về phân biệt tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân
sự; và các qui định pháp luật Việt Nam liên quan và thực trạng áp dụng chúng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phân biệt tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại và tranh chấp dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về phân biệt tranh chấp
kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự - kiến nghị
hoàn thiện.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BIỆT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƢƠNG MẠI VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp
dân sự
Nói tới tranh chấp là nói tới sự tranh giành về một lợi ích vật chất hay
lợi ích tinh thần nào đó giữa những ngƣời xác định. Theo cách hiểu phổ
thông, "Tranh chấp là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là
trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên" [36, tr. 1024].
Không nằm ngoài cách hiểu thông thƣờng đó, một số luật gia Việt
Nam định nghĩa về tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng cách thêm vào đó
các đặc điểm pháp lý của kinh doanh, thƣơng mại. Giáo trình Luật thƣơng
mại của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: "Tranh chấp thương mại là
những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại" [30, tr. 432]. TS. Phan
nghĩa là tổng thể các quy phạm pháp luật thuộc cả luật tƣ và luật
công điều chỉnh việc tổ chức, hoạt động thƣơng mại và các hoạt
động khác có liên quan. Những ấn phẩm về luật kinh doanh thực
chất mô tả hay đề cập đến toàn bộ môi trƣờng pháp lý cho hoạt
động kinh doanh. Khác hơn, luật thƣơng mại là một ngành luật có
những đặc trƣng riêng để phân biệt với luật kinh doanh và các
ngành luật khác [8, tr. 20].
Qua đây có thể hiểu, khi nói tới tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại
hầu nhƣ ngụ ý về tranh chấp thƣơng mại, còn các tranh chấp liên quan khác
7
có thể là tranh chấp dân sự (nhƣ tranh chấp giữa thƣơng nhân và ngƣời cho
thuê nhà làm cơ sở kinh doanh) hoặc tranh chấp trong khu vực luật công. Ví
dụ tranh chấp giữa ngƣời xin đăng ký kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh
doanh về việc cơ quan đăng ký kinh doanh không tiến hành đăng ký kinh
doanh cho ngƣời xin đăng ký kinh doanh trong trƣờng hợp ngƣời xin đăng ký
kinh doanh đã có đầy đủ điều kiện và tiến hành đúng các thủ tục xin đăng ký
kinh doanh. Tranh chấp này thuộc lĩnh vực hành chính mặc dù việc đăng ký
kinh doanh do Luật Doanh nghiệp qui định. Vì vậy, tại đây luận văn chỉ xin
làm rõ khái niệm tranh chấp dân sự và tranh chấp thƣơng mại.
Việc xác định khái niệm tranh chấp dân sự và khái niệm tranh chấp
thƣơng mại phụ thuộc vào việc xác định hành vi dân sự và hành vi thƣơng
mại. Theo Nguyễn Mạnh Thắng, tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát
sinh từ hành vi thƣơng mại [23, tr. 39]. Nhƣ vậy, có thể hiểu tranh chấp dân
sự chủ yếu phát sinh từ hành vi dân sự. Vậy việc làm rõ khái niệm hành vi
dân sự và khái niệm hành vi thƣơng mại cũng đồng thời làm rõ khái niệm
tranh chấp dân sự và khái niệm tranh chấp thƣơng mại.
Từ các phân tích trên đây, các khái niệm tranh chấp dân sự và tranh
phạm vi nhất định khi Luật Thƣơng mại 1997 định nghĩa tại Điều 238 rằng:
"Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại" [17].
Chƣa bàn tới phạm vi, định nghĩa này chỉ nói tới tranh chấp trong vấn đề thực
hiện hợp đồng thƣơng mại.
Theo GS.TSKH. Đào Trí Öc, luật dân sự và luật thƣơng mại đều là
những ngành luật tƣ điển hình, nhƣng quan hệ giữa luật dân sự và luật thƣơng
mại mang tính chất của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng [32, tr. 22].
Luật dân sự và luật thƣơng mại liên hệ với nhau ở phạm vi trái quyền. Từ đó
9
có thể thấy bản chất của tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp liên quan tới trái
quyền có tính chất thƣơng mại. Còn tranh chấp dân sự có bản chất là tranh
chấp liên quan tới cả vật quyền, trái quyền và các quyền lợi khác.
Từ bản chất này có thể thấy, phạm vi nghiên cứu sự phân biệt giữa
tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại chỉ liên quan tới sự
phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại.
1.2. PHÂN BIỆT GIỮA HÀNH VI DÂN SỰ VÀ HÀNH VI THƢƠNG MẠI
1.2.1. Lịch sử phát sinh và phát triển của hành vi dân sự và hành
vi thƣơng mại
Luật thƣơng mại không có các nguyên tắc mang tính tổng quát nhƣ
luật dân sự. Lý luận về thƣơng mại và hành vi thƣơng mại không mang tính
lâu đời và hệ thống nhƣ lý luận về luật dân sự và hành vi dân sự. Nguyên
nhân chính của hiện tƣợng này chính là sự ra đời muộn hơn của các hành vi
thƣơng mại so với các hành vi dân sự.
Từ lâu các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng các hành vi dân sự ra
đời từ rất sớm trong lịch sử loài ngƣời khi nền kinh tế tự nhiên còn thống trị
và quy tắc thƣơng mại một cách tự nhiên đã hình thành theo con đƣờng
riêng vì lợi ích của các thƣơng gia [3, tr. 35-36].
Mọi hoạt động kinh tế ở bất cứ nơi nào cũng không ngoài ba phạm vi sau:
- Sản xuất tạo nên của cải vật chất cho xã hội;
- Trao đổi (lƣu thông, phân phối) hàng hóa, lƣu thông sản phẩm
của xã hội;
- Tổ chức xã hội mà nội hàm của nó là hoạt động kiểm soát, quản lý
của Nhà nƣớc với hai phạm vi nêu trên.
Các hành vi thƣơng mại về cơ bản nằm gọn trong ba phạm vi nêu trên.
Nền kinh tế sản xuất hàng hóa đã mở đƣờng cho sự phát triển của các hành vi
11
mang tính thƣơng mại, bởi lẽ lúc này, trọng tâm của các hoạt động kinh tế
đƣợc đặt vào quá trình trao đổi trên thị trƣờng, dƣờng nhƣ khu vực sản xuất
và khu vực quản lý của Nhà nƣớc chỉ nhằm phục vụ cho nhu cầu trao đổi. Ở
khía cạnh nào đó, hoạt động thƣơng mại hàng hóa chính là cầu nối giữa sản
xuất và tiêu dùng, tiêu dùng ở đây đƣợc hiểu là tiêu dùng cho sinh hoạt và tiêu
dùng cho sản xuất. Một thƣơng gia chuyên thực hiện các hành vi mua vật
phẩm từ các cơ sở sản xuất rồi bán lại để kiếm lời có nghĩa là anh ta đang làm
một hành vi thƣơng mại, ngay cả khi anh ta mua lại hàng hoá từ một thƣơng
một khác rồi bán lại cho một cơ sở sản xuất để cơ sở này chế biến rồi bán lại
hay bán lại cho một ngƣời tiêu dùng thì hành vi mua đi bán lại đó vẫn là hành
vi thƣơng mại. Nói một cách ngắn gọn, thƣơng gia chính là trung gian đƣa
hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Nơi tiêu thụ có thể là một cơ sở sản
xuất hay một ngƣời dân bình thƣờng.
Chính khu vực lƣu thông, trao đổi hàng hóa là khu vực kinh tế quan
trọng quyết định sự phát triển của nền kinh tế. Nói cách khác, trong nền kinh
tế thị trƣờng vai trò của hoạt động thƣơng mại là rất quan trọng.
Nhƣ vậy, trên cơ sở hệ tƣ tƣởng lẫn trên cơ sở pháp lý, hoạt động
thƣơng mại ở Việt Nam không có cơ hội và điều kiện để phát triển nhƣ ở các
nƣớc phƣơng Tây, dù rằng theo quy luật khách quan, chúng có xuất hiện. Các
giao dịch thƣơng mại lúc bấy giờ chỉ là các giao dịch nhỏ trong một phạm vi
lãnh thổ rất hạn chế, lúc đầu là tại làng xã (chợ làng, chợ xã) sau dần có sự
giao thƣơng liên huyện, liên tỉnh với đối tƣợng chủ yếu là các sản phẩm nông
nghiệp và thủ công. Các hoạt động thƣơng mại chỉ giới hạn trong phạm vi
hàng tỉnh cho thấy thƣơng mại Việt Nam không hề biết tới các giao dịch
thƣơng mại mang tính quốc tế. Dƣờng nhƣ ngƣời Trung Hoa là những ngƣời
đầu tiên đã thiết lập quan hệ thƣơng mại với Việt Nam và các quốc gia lân
cận. Tuy nhiên, sự xuất hiện của ngƣời Trung Hoa trên thƣơng trƣờng Việt
13
Nam cũng trải qua rất nhiều thăng trầm do chính sách khác nhau của các triều
đình phong kiến trong từng giai đoạn nhất định [16]. Mãi đến khoảng thế kỷ
15, 16 trong thời kỳ Nam, Bắc phân chia, các thƣơng gia phƣơng Tây (Pháp;
Hà Lan; Bồ Đào Nha..) mới có cơ hội đến Việt Nam buôn bán. Tuy nhiên, các
hoạt động thƣơng mại này chỉ tập trung tại một vài trung tâm thƣơng mại lớn
nhƣ Hội An, Phố Hiến… và chỉ diễn ra thời gian ngắn ngủi.
Cho đến khi Pháp nổ súng xâm lƣợc Việt Nam và sau đó là sự đô hộ
hàng thế kỷ, các hoạt động thƣơng mại do chịu ảnh hƣởng của nền kinh tế tƣ
bản Pháp đã có những biến đổi nhất định; hoạt động sửa sang đƣờng sá nhằm
khai thác mỏ của Pháp cũng góp phần cho sự lƣu thông thƣơng mại phần nào
đƣợc thuận tiện hơn. Đến lúc này, các hoạt động thƣơng mại mới giành đƣợc
cho mình một điển chế thƣơng mại riêng độc lập với các hình luật trƣớc đây.
Đó là năm 1864, thực dân Pháp đem áp dụng Bộ luật Thƣơng mại Pháp tại
Nam Kỳ và tại Bắc Kỳ vào năm 1888.
Năm 1942 theo Dụ số 46 (ngày 27 tháng 4 năm Bảo Đại 17), Triều
ý chí của chính đƣơng sự. Hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại chỉ khác
nhau ở chỗ: hành vi dân sự làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ
pháp luật dân sự; còn hành vi thƣơng mại làm phát sinh, thay đổi hay chấm
dứt quan hệ pháp luật thƣơng mại. Tuy nhiên, bản thân việc phân biệt giữa
quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật thƣơng mại lại rất phức tạp
bởi bản thân chúng không có ranh giới rõ ràng. Chẳng hạn: Doanh nghiệp tƣ
nhân A vay vốn tại ngân hàng B và có thế chấp quyền sử dụng đất ở. Quan hệ
thế chấp quyền sử dụng đất ở là quan hệ dân sự hay quan hệ thƣơng mại trong
khi chỉ có một văn bản hợp đồng giữa A và B thiết lập nên các quan hệ này?
Vì vậy nếu không làm rõ đƣợc hành vi thƣơng mại là gì thì khó có thể làm rõ
đƣợc hành vi dân sự bởi bản thân hành vi thƣơng mại là một nhánh của hành
vi dân sự theo nghĩa rộng. Bởi vậy, Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 sửa đổi
15
(tại Điều 1) có qui định quan hệ dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả quan hệ
thƣơng mại trong đó.
Hành vi thƣơng mại thƣờng luôn gắn liền với thƣơng nhân. Các chủ
yếu này chính là ngƣời tạo ra các hành vi thƣơng mại, ngƣợc lại khi nghiên
cứu xem thƣơng nhân là những ai ngƣời ta lại thƣờng hay dựa vào tiêu chí
là các hành vi thƣơng mại. Chẳng hạn: Bộ luật Thƣơng mại Pháp 1806 và
Bộ luật Thƣơng mại Trung Kỳ (Việt Nam) 1936 quy định "thương gia là
người làm những hành vi thương mại và lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp của
mình" [28, Điều 1].
Nhƣ vậy, khái niệm hành vi thƣơng mại và khái niệm về thƣơng nhân
có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời. Hành vi thƣơng mại có tính chất
khách quan, chúng ấn định nghề nghiệp của thƣơng nhân, nói cách khác,
chúng là dấu hiệu để nhận rõ thƣơng nhân, nếu họ thực hiện các hành vi
thƣơng mại một cách thƣờng xuyên và mang tính nghề nghiệp. Đổi lại,
bản chất thƣơng mại, mặc định chúng là các hành vi thƣơng mại và quy định
trong các đạo luật thƣơng mại. Hành vi thƣơng mại là những hành vi chế tạo,
lƣu chuyển, trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp, trừ những
ngoại lệ luật định [29, tr. 25]. Về sau, các hành vi thƣơng mại theo cách liệt
kê có hạn định nêu trên bộc lộ những nhƣợc điểm của nó, đó là khi thực tế
thƣơng mại xuất hiện thêm nhiều loại hành vi thƣơng mại khác với hành vi
quy định trong luật. Vì thế sự liệt kê có hạn đó đƣơng nhiên trở thành vật cản
làm hạn chế sự phát triển của hoạt động thƣơng mại cũng nhƣ phạm vi điều
chỉnh của luật thƣơng mại đối với các loại hành vi mới đó.
Nhằm khắc phục sự bất hợp lý này, các nhà nghiên cứu tìm đến phƣơng
thức liệt kê vô hạn định các hành vi thƣơng mại. Chẳng hạn: Bộ luật Thƣơng
mại 1972 của Chính quyền Sài Gòn cũ, tại Điều 342 và Điều 343, có kể ra
17
một số hành vi thƣơng mại, nhƣng nói rõ sự liệt kê đó chỉ mang tính cách chỉ
dẫn, nghĩa là liệt kê nhƣ ví dụ chứ không phải là giới hạn trong số những hành
vi đó. Theo cách này, hành vi thƣơng mại gồm có:
1. Sự khai thác hầm mỏ và nguyên liệu;
2. Sự chế tạo và biến chế để mọi sản phẩm kỹ nghệ;
3. Sự mua để bán lại và cho thuê các tài vật và hàng hóa bất cứ loại gì;
4. Các nghiệp vụ ký kho và tồn trữ hàng hóa;
5. Mọi việc chuyên chở khách hàng, tài vật và hàng hóa;
6. Các nghiệp vụ bảo hiểm dƣới mọi hình thức;
7. Các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán;
8. Các nghiệp vụ trung gian, trọng mãi, đại diện, đại lý thƣơng mại;
9. Các doanh nghiệp cung cấp vật liệu, dịch vụ xây cất, giải trí công
cộng, xuất bản, truyền tin, truyền hình (Điều 342);
10. Việc đóng thuyền tàu, phi cơ;
từng thời kỳ lịch sử cũng nhƣ đặc điểm pháp luật của mỗi một quốc gia. Có
khi hành vi thƣơng mại chỉ đƣợc hiểu là một số hành vi liên quan đến mua
bán hàng hóa, cũng có khi hành vi thƣơng mại đƣợc hiểu ở một phạm vi rộng
lớn bao gồm tất cả các hoạt động mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ sản
xuất hàng hóa; xây dựng; đầu tƣ... Trong các văn bản quy phạm pháp luật của
các quốc gia khác nhau, khái niệm hành vi thƣơng mại đƣợc xây dựng theo
tiêu chí khác nhau và đƣợc hiểu ở những phục vụ khác nhau. Do đó mà một
khái niệm thống nhất về hành vi thƣơng mại và một cách hiểu chung về
thƣơng mại hiện nay chƣa có.
19
1.2.3. Tính chất của hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại
Việc xác định bản chất của một vấn đề là khá phức tạp, việc xác định
bản chất của hành vi thƣơng mại càng phức tạp hơn, bởi vì loại hành vi này
bản thân chúng rất phức tạp, để công việc đƣợc tiến hành tiện lợi, kiếm đƣợc
nhiều lợi nhuận, thu hút đƣợc nhiều khách hàng, thƣơng nhân buộc phải liên tục
có sáng kiến, cải tạo cách thức hoạt động, lề lối làm việc, do đó phát sinh những
hành vi thƣơng mại mới với những phƣơng thức khác nhau và hậu quả pháp lý
khác nhau. Để xác định rõ bản chất của hành vi thƣơng mại cần phải đặt hành
vi này trong mối quan hệ với một số hành vi có liên quan mật thiết với nó.
Nếu nhƣ so với các quan hệ dân sự thì các quan hệ thƣơng mại có lịch
sử ra đời muộn hơn. Luật dân sự có từ rất lâu đời trong các nền kinh tế tự
nhiên. Nó điều tiết các quyền lợi của tƣ nhân, cá nhân và gắn bó với đời sống
của con ngƣời. Luật thƣơng mại ra đời muộn hơn, khi những quan hệ cơ bản
của đời sống con ngƣời đã đƣợc luật dân sự điều chỉnh, do đó có thể nói quan
hệ thƣơng mại là các quan hệ dân sự đặc biệt, nó cũng là các quan hệ tƣ giữa
các cá nhân trong cộng đồng với nhau. Các quan hệ này đều thiết lập trên cơ
sở tự nguyện thỏa thuận và bình đẳng. Tuy nhiên, các quan hệ thƣơng mại