áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong tố tụng dân sự - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012 – 2015
Đề Tài:

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI KHI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƢƠNG MẠI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Giảng viên hướng dẫn:
Thân Thị Ngọc Bích
Bộ môn: Luật Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:
Phan Thị Kim Loan
MSSV: S1200044
Lớp: Luật Hành chính- K38

Cần Thơ, 11/ 2014


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1

1.5. Lịch sử hình thành và phát triển về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại .................................................................. 18
1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989.................................................................. 18
1.5.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến 2004.................................................................. 18
1.5.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay .................................................................... 19

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

2

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƢƠNG MẠI
2.1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể đƣợc áp dụng trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thƣơng mại .................................................................................... 20
2.1.1. Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp ................................................... 21
2.1.2. Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp22
2.1.3. Biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp ......................... 22
2.1.4. Biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc
nhà nƣớc; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ .................................................................... 23
2.1.5. Biện pháp phong tỏa tài sản của ngƣời có nghĩa vụ ..................................... 24
2.1.6. Biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định .................... 24
2.1.7. Biện pháp cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác ....... 25

CHƢƠNG 3
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƢƠNG MẠI – BẤT CẬP VÀ HƢỚNG
HOÀN THIỆN
3.1. Tình hình chung hiện nay khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải
quyết tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án ........................................... 36
3.1.1. Kết quả đạt đƣợc ........................................................................................... 36
3.1.2. Kết quả chƣa đạt đƣợc .................................................................................. 37
3.1.3. Nguyên nhân ................................................................................................. 40
3.2. Các bất cấp cụ thể về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án .......................................................... 41
3.2.1. Bất cập liên quan đến quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 41
3.2.2. Bất cập liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án ................................. 42
3.2.3. Bất cập liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại khi đƣa ra yêu cầu
không đúng ................................................................................................................... 43
3.2.4. Bất cập liên quan đến hiệu lực và thi hành bản án sau khi có quyết định của
Tòa án ........................................................................................................................... 45
3.3. Giải pháp nhằm hoàn thiện về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án ............................................... 46
3.3.1. Hoàn thiện về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ........... 46
3.3.2. Hoàn thiện về biện pháp bảo đảm thi hành án ............................................. 46
3.3.3. Hoàn thiện về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại khi đƣa ra yêu cầu không đúng
...................................................................................................................................... 48
3.3.4. Hoàn thiện pháp luật về hiệu lực và thi hành bản án sau khi có quyết định của
Tòa án.............................................................................................................................. 49
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 51

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

4

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đất nƣớc ngày càng phát triển đổi mới toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế, một nền kinh tế đang chuyển sang thời kỳ mới với nhiều sự phát triển thay đổi
của xã hội. Trong đó, kinh doanh thƣơng mại trở thành yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát
triển của đất nƣớc để vƣơng đến một tầm cao mới, khi đó kinh doanh thƣơng mại không
còn diễn ra đơn thuần chỉ là trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể kinh doanh với nhau bằng
những quy tắc, giao kèo đơn giản thiếu tính ràng buộc mà nó đã đƣợc cụ thể thành các
chế định pháp luật của quốc gia với những quy định hết sức chặt chẽ về nội dung và hình
thức cũng nhƣ các chế tài xử lý đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thƣơng mại đƣợc thực
hiện nghiêm chỉnh và hiệu quả. Một nền kinh tế phồn thịnh vốn là vấn đề mà các quốc
gia hƣớng đến để khẳng định vị thế của mình trên trƣờng quốc tế. Vì thế, trƣớc những cơ
hội và thách thức đó đồi hỏi chúng ta phải có các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế đòi
hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình những phƣơng thức để giải quyết có hiệu quả
các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Tuy nhiên, do số lƣợng
án ngày càng gia tăng và tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh thƣơng mại hiện
nay do đó không thể thiếu sự can thiệp của Nhà nƣớc thông qua hệ thống pháp luật. Mặt
dù trình tự giải quyết vụ án kinh doanh thƣơng mại đã đƣợc quy định khá chi tiết trong
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011. Trong đó việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời (đặc biệt là trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thƣơng
mại) có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và
lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh sẽ đƣợc bảo vệ tốt hơn khi pháp luật ghi nhận
phán quyết của Tòa án đƣợc đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nƣớc thông qua hoạt
động cƣỡng chế, các bên tranh chấp không cần phải có sự thỏa thuận trƣớc với nhau.

những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong giải quyết vụ án kinh doanh thƣơng mại (chủ yếu là các quy định trong Bộ luật Tố
tụng dân sự hiện hành) và những vƣớng mắc trong quá trình áp dụng các quy định đó
trong thực tiễn giải quyết các vụ án kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án, từ đó đƣa ra một
số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp vụ án
kinh doanh thƣơng mại tốt hơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
● Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề quy định của luật về biện pháp
khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành và Nghị Quyết 02/2005/NQ- HĐTP Ngày 27
tháng 4 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn thi hành
một số quy định tại chƣơng VIII “các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật Tố tụng
dân sự, từ đó phát hiện những bất cập trong hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh
thƣơng mại tại Tòa án và đề ra giải pháp hoàn thiện.
● Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, ngƣời viết tập trung đi vào tìm hiểu
quy định của pháp luật hiện hành về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điều kiện
áp dụng, trình tự, thủ tục giải quyết theo quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

7

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG
MẠI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.1.1. Khái niệm về biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình nhận đơn, thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án có thể phải ra
quyết định áp dụng một hoặc một vài biện pháp cần thiết nhằm đáp ứng một hoặc một số
nhu cầu cấp bách của đƣơng sự có liên quan trực tiếp đến vụ việc dân sự nói chung và
trong những vụ án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại nói riêng là biện pháp tố
tụng nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đƣơng sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tình
trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục đƣợc, hoặc bảo đảm việc thi hành
án 1.
Pháp luật ở một số nƣớc cũng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng Tòa án.
Cụ thể trong Pháp luật Tố tụng Dân sự Liên Bang Nga 2003 quy định “theo yêu cầu của
những người tham gia tố tụng, Tòa án hoặc Thẩm phán có thể áp dụng biện pháp khẩn
câp tạm thời. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được chấp nhận, nếu việc không
áp dụng chúng có thể gây khó khăn hoặc dẫn đến việc thi hành án không thể thực hiện”2.
Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Lựa chọn trọng tài làm nơi giải quyết tranh chấp nhƣng khi có
nhu cầu họ cũng có thể gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền để Tòa án quyết định nhằm hổ
trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp và bảo vệ lợi ích cho đƣơng sự “việc yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài
hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài”3. Trƣờng hợp này cho thấy
rằng việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thông qua Tòa án sẽ rộng hơn do không
cần phải thỏa thuận. Từ những vấn đề trên có thể định nghĩa biện pháp khẩn cấp tạm thời

chấp, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án”5.
So với các biện pháp khác đƣợc Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình tố tụng
để giải quyết vụ việc dân sự thì biện pháp khẩn cấp tạm thời có những điểm khác biệt,
vừa mang tính khẩn cấp, vừa mang tính tạm thời. Tính khẩn cấp của biện pháp này đƣợc
thể hiện ở chổ Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này đƣợc thực hiện
ngay sau khi đƣợc Tòa án quyết định áp dụng, nếu không sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng.
Tính tạm thời của biện pháp này đƣợc thể hiện ở chổ, quyết định áp dụng chƣa phải là
quyết định cuối cùng về giải quyết dân sự. Đây chỉ là biện pháp tạm thời đƣợc áp dụng
trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự chƣa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết
vụ việc dân sự. Sau khi áp dụng, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có
thể hủy bỏ quyết định này. Tuy nhiên, việc áp dụng có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
của ngƣời bị áp dụng và ngƣời khác. Do vậy, Tòa án phải xem xét thật thận trọng trƣớc
khi quyết định áp dụng biện pháp này và phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật
để tránh gây thiệt hại cho đƣơng sự và các chủ thể khác.
Từ đó có thể suy ra biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thƣơng mại cũng đƣợc hiểu là biện pháp, do Tòa án quyết định trong quá trình giải
quyết vụ việc có liên quan đến các chủ thể kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách
của chủ thể kinh doanh, bảo vệ bằng chứng đúng lúc, kịp thời và tính có hiệu lực ngay
sau khi ban hành.

4
5

Trƣờng Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb, Tƣ pháp Hà Nội năm 2006, tr/179.
Tƣởng Duy Lƣợng, Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb, Chính trị Quốc gia, 2009, tr/225.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

10


quyết định này dù cho một Thẩm phán hay một Hội đồng xét xử ban hành đều có hiệu
lực thi hành ngay sau khi ban hành và đặt ra cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền trách nhiệm phải thi hành ngay theo thủ tục thi hành án dân sự8.

6

Nguyễn Thị Hoài Thƣơng, “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Tòa án: Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện Bộ luật Tố tụng Dân sự”, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật,
Viện Nhà nƣớc và Pháp luật, số 03/2010, tr/74.
7
Nguyễn Thị Bích Thảo, “các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về quyên sở hữu trí tuệ tại
Tòa án”. Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 09/2008, tr/50.
8
khoản 1 Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

11

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

Tất cả những đặc tính trên xuất phát từ nhu cầu phải bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích
hợp pháp của đƣơng sự, giúp cho quá trình giải quyết vụ án đƣợc chính xác và hiệu quả.
Nếu Tòa án ra quyết định nhanh, mà chậm thi hành án hoặc thủ tục quá rƣờm rà thì biện
pháp khẩn cấp tạm thời cũng không còn ý nghĩa về mặt thực tiễn. Do đó, việc ra quyết
định áp dụng và thủ tục tiến hành nhanh chống có vai trò rất quan trọng trong việc áp


SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

hành án. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngăn chặn đƣợc việc bị đơn tẩu tán tài
sản, giữ đƣợc tài sản để bảo đảm cho việc thi hành án, quyết định của Tòa án sau này.
Thứ tư, các biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa về mặt kinh tế: Do mục đích
hàng đầu của biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là tạo
ra một nền kinh tế ổn định nên các biện pháp này hạn chế thiệt hại xãy ra cho chủ thể
kinh doanh nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, các nhà đầu tƣ sẽ yên tâm vào một
quốc gia có hệ thống kinh doanh đạt hiệu quả.
Nhƣ vậy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong kinh doanh thƣơng mại
không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trong điều kiện kinh tế
phát triển nhƣ ngày nay, biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày càng trở thành công cụ pháp
lý hữu hiệu để các đƣơng sự trong kinh doanh thƣơng mại bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình trong kinh doanh.
1.2. Phân loại và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
1.2.1 Phân loại biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thƣơng mại
1.2.1.1 Biện pháp khẩn cấp tạm thời có biện pháp bảo đảm
Theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011, các
biện pháp khẩn cấp tạm thời đƣợc xác định gồm 12 biện pháp cụ thể và những biện pháp
pháp luật có quy định khác. Những biện pháp này đƣợc quy định để áp dụng trong quá
trình tố tụng tại Tòa án khi giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thƣơng mại và lao động. Tuy nhiên, tùy thuộc lĩnh vực tranh chấp và đặc trƣng pháp lý
của các quan hệ tranh chấp mà phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác


Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác;

-

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước;

Phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ;
-

Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ;

-

Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định;

-

Các biện pháp khác mà pháp luật có quy định 9.
Đồng thời, các bên đƣơng sự, ngƣời đại diện phợp pháp của đƣơng sự hoặc cơ quan

tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác có quyền
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nhƣng để ngăn ngừa sự lạm quyền
của những ngƣời này, nhằm để bảo vệ lợi ích của ngƣời bị áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, trong một số trƣờng hợp pháp luật đã quy định cần buộc ngƣời yêu cầu Tòa án
cho áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá
quý hoặc giấy tờ có giá trị tƣơng đƣơng với nghĩa vụ tài sản mà ngƣời có nghĩa vụ phải
thực hiện vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở Tòa án đã ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các trƣờng hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phải có biện pháp bảo đảm sau đây:

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra.
“Người có nghiã vụ thực hiện” là ngƣời có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời không đúng. Trong trƣờng hợp ngƣời yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
là ngƣời đại diện theo ủy quyền của đƣơng sự, thì ngƣời có nghĩa vụ thực hiện là đƣơng
sự. Trong trƣờng hợp ngƣời yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là ngƣời
đại diện theo pháp luật của đƣơng sự là cơ quan, tổ chức, thì ngƣời có nghĩa vụ phải thực
hiện là cơ quan, tổ chức10.
1.2.1.2. Biện pháp khẩn cấp tạm thời không có biện pháp bảo đảm
Bên cạnh những trƣờng hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có bảo đảm theo
quy định tại Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 thì cũng còn
một số trƣờng hợp khi đƣơng sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
nhƣng không bắt buộc có tài sản đảm bảo nhƣ:
- Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục;
-

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng;

-

Buộc thực hiện trước một phần thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm;

- Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường trợ
cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
-

Tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

-


nhất để có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là do đƣơng sự yêu cầu 12. Quyền yêu
cầu có thể thực hiện ngay thời điểm gửi đơn khởi kiện hoặc trong quá trình tố tụng ở cấp
sơ thẩm, phúc thẩm.
Tranh chấp trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh thƣơng mại là tranh chấp lợi ích tƣ.
Vì vậy, cho phép các bên có quyền chấp nhận những thiệt hại ngƣời khác gây ra cho
mình và do đó, việc có yêu cầu bảo vệ lợi ích hay không là do các bên tranh chấp toàn
quyền quyết định. Pháp luật chỉ quy định cơ chế pháp lý và thủ tục tố tụng để khi có nhu
cầu các đƣơng sự và Tòa án tuân thủ mà không đặt ra nghĩa vụ chủ động cho Tòa án
trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Khi quyết định tham gia tố tụng, đƣơng sự có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu
Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong vụ tranh
chấp. Đơn yêu cầu của đƣơng sự là căn cứ để Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp, tên của biện pháp khẩn cấp tạm thời do đƣơng sự lựa chọn trong những
biện pháp pháp luật quy định, phạm vi áp dụng của mỗi biện pháp do đƣơng sự lựa chọn.
Sau khi Tòa án ban hành quyết định, đƣơng sự cũng có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này cho thấy rằng, Tòa án dẫu là chủ thể có quyền quyết
định áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhƣng quyền này phụ
thuộc hoàn toàn vào sự chủ động và tự quyết của đƣơng sự. Yêu cầu này đặt ra cho
đƣơng sự trách nhiệm trong việc bảo vệ lợi ích của mình, đồng thời đặt cho Tòa án trách

11

Tiểu mục 5.3 Mục 5 Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hƣớng dẫn thi hành một số quy định tại Chƣơng VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.
12
Trƣớc khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực (trƣớc ngày 01/01/2005), việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
có thể Tòa án chủ động hoặc viện kiểm sát yêu cầu hoặc đƣơng sự yêu cầu.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

Trƣớc hết, các bên tranh chấp phải có đơn gửi đến Tòa án yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời, nêu rõ lý do yêu cầu áp dụng, xác định biện pháp áp dụng và các
chứng cứ làm cơ sở cho việc áp dụng để Tòa án xem xét. Nếu nhƣ trƣớc khi có Bộ luật
Tố tụng dân sự 2004, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép đƣơng sự gửi đơn yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau thời điểm thụ lý vụ án thì Bộ luật Tố tụng dân sự
hiện hành đã có sự thay đổi đáng kể trong quan điểm lập pháp, cho phép đƣơng sự gửi
đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay từ thời điểm gửi đơn yêu cầu khởi
kiện. Tuy nhiên, pháp luật của một số nƣớc có những trƣờng hợp cho phép chƣa gửi đơn
13

Nguyễn Thị Hoài Thƣơng, “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Tòa án: Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự”, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật,
Viện Nhà nƣớc và Pháp luật, số 3/2010, tr/76.
14
Điều 117 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

17

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

khởi kiện cũng có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi
ích cho các bên tranh chấp.
Thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ở các thời
điểm khác nhau thuộc về các chủ thể khác nhau. Nếu áp dụng trƣớc khi thụ lý thì do

Viện Nhà nƣớc và Pháp luật, số 3/2010, tr/76.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

18

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

cầu. Điều này hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Việc quy định trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ bảo đảm, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời có yêu cầu khi đƣa ra yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ là rào chắn pháp lý hữu hiệu đối với bên đƣa ra yêu
cầu trong quá trình tố tụng, buộc họ phải cân nhắc và có trách nhiệm khi muốn áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với bên tranh chấp vụ án.
Tuy nhiên, xét ở góc độ bảo đảm quyền bình đẳng cho đƣơng sự trong tố tụng thì
cũng cần có cơ chế bảo vệ quyền lợi cho bên đƣa ra nhu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong trƣờng hợp họ đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật và kết quả
giải quyết vụ án của Tòa án cho thấy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với
bên kia là có căn cứ. Thực hiện đƣợc yêu cầu này cũng sẽ phần nào tác động đến trách
nhiệm của đƣơng sự có nghĩa vụ trong vụ án. Họ sẽ cân nhắc đến việc phải bồi thƣờng
những thiệt hại mà bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã gánh chịu trong
quá trình tố tụng để thiện chí hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ mà bên có yêu cầu đặt ra
cho họ trong vụ án16.
1.3. Điều kiện yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh
chấp về kinh doanh thƣơng mại
1.3.1. Điều kiện về đơn
Đƣơng sự, ngƣời đại diện hợp pháp, cơ quan, tổ chức, trong trƣờng hợp do tình thế

sở để xác định trách nhiệm của ngƣời yêu cầu với ngƣời bị yêu cầu hoặc ngƣời thứ ba khi
mà yêu cầu đó không đúng mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thƣờng.
Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau
đây:
- Ngày, tháng, năm viết đơn;
- Tên, địa chỉ của ngƣời có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Tên, địa chỉ của ngƣời bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Biện pháp khẩn ấp tạm thời cần đƣợc áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà ngƣời yêu cầu phải cung
cấp cho Tóa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời 18 .
1.4.2. Điều kiện về việc thực hiện biện pháp bảo đảm
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tuy giải quyết đƣợc nhu cầu cấp bách
của đƣơng sự, bảo đảm đƣợc cho việc giải quyết vụ án và thi hành án nhƣng có thể dẫn
đến việc gây thiệt hại cho ngƣời bị áp dụng hoặc ngƣời thứ ba. Do vậy, pháp luật đã quy
định buộc ngƣời yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Theo Điều 120 Bộ luật Tố
Tụng dân sự, ngƣời yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp một
khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá (gọi chung là tài sản) khi yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc buộc ngƣời yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện biện pháp
bảo đảm có ý nghĩa:
Thứ nhất, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng và người thứ ba.
Thứ hai, tránh được việc lạm dụng yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trên thực tế, mỗi vụ việc dân sự xảy ra điều có những đặc điểm riêng cho nên việc
giải quyết vụ việc dân sự, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự cũng có những nhu cầu riêng. Do vậy, không phải trong mọi trƣờng
hợp cũng cần thiết phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời. Theo Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành việc thực hiện biện pháp bảo đảm

đơn yêu cầu.
Tài sản để thực hiện biện pháp bảo đảm đƣợc gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân
hàng nơi có trụ sở của Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời
hạn do Tòa án ấn định. Trong trƣờng hợp thực hiện biện pháp bảo đảm đƣợc gửi giữ tại
Tòa án và sau đó Tòa án phải gửi ngay tài sản đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp
theo 20.
1.4. Sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thƣơng mại
Trong quá trình giải quyết vụ án, trƣớc khi mở phiên Tòa. Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời thực hiện yêu cầu cấp bách của đƣơng sự hoặc bảo vệ bằng chứng
nhằm bảo vệ việc xét xử hoặc để thi hành án đƣợc tiến hành nhanh chóng kịp thời và
chính xác, khắc phục đƣợc tình trạng bản án đã có hiệu lực pháp luật nhƣng không thi
hành đƣợc, vì ngƣời có nghĩa vụ đã tẩu tán hết tài sản, không còn tài sản để đảm bảo cho
19

Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn thi
hành một số quy định tại Chƣơng VIII “ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa
đổi, bổ sung năm 2011.
20
Trƣờng Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, Nxb, Tƣ pháp Hà Nội- 2006, tr/195.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

21

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

hơn trong lĩnh vực kinh doanh khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì họ
có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tóm lại, khi giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh thƣơng mại đã tác động nhiều mặt của đời sống xã hội và tạo
sự bình đẳng dựa trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy nền kinh tế nƣớc nhà

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

22

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
trong tố tụng dân sự

ngày càng phát triển. Qua đó, cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời là hết sức cần thiết vào việc đảm bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại thông qua hành lang pháp lý.
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong kinh
doanh thƣơng mại
1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để mau chống ổn định đất nƣớc và xây dựng
hệ thống tƣ pháp mới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945
cho tạm giữ một số luật hiện hành trong văn bản pháp luật của chế độ cũ ở Bắc, Trung,
Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất Việt Nam không trái với quy
tắc độc lập của nƣớc Việt Nam. Sau đó các Sắc Lệnh về tố Tụng Dân sự đƣợc ban hành
nhƣ Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán, Sắc
lệnh số 51/ SL ngày 17/4/1946 về ấn định thẩm quyền của các Tòa án và sự phân công
giữa các nhân viên trong ngành Tòa án. Sau khi có Hiến pháp năm 1946, Nhà nƣớc Việt
Nam non trẻ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm cải tiến bộ máy Tƣ pháp và thủ

tục giải quyết các vụ án dân sự đƣợc thông qua ngày 29/11/1989 và có hiệu lực thi hành
ngày 01/01/1990. Pháp lệnh này đã dành chọn chƣơng VIII (Điều 41 và Điều 42) để quy
định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 vấn đề biện pháp
khẩn cấp tạm thời đƣợc quy định tại chƣơng VIII (từ Điều 41 đến Điều 44). Trong các vụ
án tranh chấp lao động, vấn đề biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng đƣợc giành chọn
chƣơng VII (từ Điều 43 đến Điều 46) của pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động năm 1996. Hầu hết, các quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
giải quyết vụ án kinh tế, lao động không có sự khác biệt nhiều so với những quy định
trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
1.5.3. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Ngày 15/6/2004 Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ
hợp thứ 5 thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự và có hiệu luật ngày 01/01/2005 đã đánh dấu
một bƣớc phát triển mới của pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Các quy định về
vấn đề áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã điều chỉnh bằng một văn bản thống nhất
có hiệu lực pháp lý cao. Với 28 điều (từ Điều 99 đến Điều 126) của Bộ luật này, chế định
biện pháp khẩn cấp tạm thời đã đƣợc quy định khá đầy đủ và chi tiết. Tiếp đó, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày
27/4/2005. Gần đây nhất là Luật sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
đã đƣợc thông qua Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp
thứ 9 thông qua ngày 29/3/2011.
Hiện nay, vấn đề về biện pháp khẩn cấp tạm thời đã đƣợc pháp luật quy định tƣơng
đối đầy đủ khắc phục đƣợc tình trạng mâu thuẫn, khiếm khuyết trƣớc đó. Tuy nhiên bên
cạnh đó nhiều quy định pháp luật liên quan cũng còn nhiều bất cập khó khăn cho việc áp
dụng giải quyết các vụ án trong thực tế.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

24


dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 mà chỉ có thể giới hạn ở các biện pháp sau đây 21: Kê
biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh
chấp; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nƣớc, phong
tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của ngƣời có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc thực
21

Ngoài ra tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự còn có những biện pháp khẩn cấp tạm thời sau: Giao ngƣời chƣa
thành niên cho cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dƣỡng, giáo dục; buộc thực hiện trƣớc một phần nghĩa vụ cấp
dƣỡng; buộc thực hiện trƣớc một phần nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc
ngƣời sử dụng lao động tạm ứng tiền lƣơng, tiền công, tiền bồi thƣờng, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp cho ngƣời lao động; tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải ngƣời lao động.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

25

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Trích đoạn Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Nghĩa vụ chứng minh Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết Thủ tục thay đổi, bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status