nghiên cứu - trao đổi
26 Tạp chí luật học số 1/
2009 ThS. Trần Phơng Thảo*
rong t tng dõn s, da trờn c s cú
n yờu cu ca ng s hoc trong
mt s trng hp khi xột thy cn thit, to
ỏn cú thm quyn gii quyt v ỏn dõn s cú
quyn ỏp dng mt hoc mt s bin phỏp
khn cp tm thi (BPKCTT) quy nh ti
iu 102 B lut t tng dõn s (BLTTDS).
Thc cht, BPKCTT trong t tng dõn
s l nhng bin phỏp c to ỏn cú thm
quyn ỏp dng trong tỡnh th khn cp
nhm gii quyt ngay yờu cu cp bỏch
ca ng s, bo v bng chng, bo
ton tỡnh trng hin cú trỏnh gõy thit hi
khụng th khc phc c hoc m bo
cho vic thi hnh ỏn (iu 99 BLTTDS).
Vic to ỏn ỏp dng BPKCTT l gii phỏp
hiu qu bo v khn cp quyn v li
ớch hp phỏp ca ng s khi to ỏn cha
xột x, cha ra bn ỏn, quyt nh gii
quyt ni dung v ỏn. Cng chớnh vỡ th,
dch quyn ti sn, phong ta ti sn, ti
khon) hoc h buc phi thc hin,
khụng thc hin mt hnh vi nht nh trỏi
vi ý chớ ca h. Tuy nhiờn, trong t tng
dõn s, cỏc ng s luụn bỡnh ng v
quyn v ngha v nờn tng ng vi cỏc
quy nh ca BLTTDS v quyn yờu cu
T
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 27
toà án áp dụng BPKCTT của các chủ thể
theo luật định, các nhà làm luật cũng tạo
cho người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT
trong tố tụng dân sự một sự bình đẳng hợp
lí, thể hiện qua các quy định của BLTTDS
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị
áp dụng BPKCTT.
Việc pháp luật tố tụng dân sự có những
quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của
người bị áp dụng BPKCTT là rất cần thiết
bởi vì rất có thể việc áp dụng BPKCTT
không đúng nên quyền và lợi ích của họ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng. Để bảo vệ quyền
và lợi ích của những người bị áp dụng
án áp dụng BPKCTT và bên bị toà án áp
dụng BPKCTT có quyền được pháp luật
bảo vệ. Về bản chất, việc buộc người có yêu
cầu toà án áp dụng BPKCTT phải thực hiện
biện pháp bảo đảm chính là sự bảo vệ chắc
chắn cho quyền, lợi ích của người bị áp
dụng BPKCTT nếu họ bị áp dụng BPKCTT
không đúng và ngăn ngừa tình trạng lạm
quyền yêu cầu của các chủ thể có quyền.
Biện pháp bảo đảm mà người có yêu
cầu toà án áp dụng BPKCTT phải thực hiện
được xác định theo quy định tại khoản 1
Điều 120 BLTTDS, theo đó họ “phải gửi
một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá do toà án ấn định nhưng
phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà
người có nghĩa vụ phải thực hiện”. Mục
đích của việc tạm ứng một khoản tiền hoặc
kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá của
người có yêu cầu áp dụng BPKCTT dự liệu
cho khả năng nếu sau này xác định được rõ
ràng người bị áp dụng BPKCTT đã bị áp
dụng không đúng và việc áp dụng BPKCTT
không đúng đó đã gây cho họ những thiệt
hại thì người có yêu cầu toà án áp dụng
BPKCTT đã có sẵn một giá trị tài sản để
bồi thường, bù đắp những thiệt hại đã xảy
ra cho người bị áp dụng BPKCTT. Biện
cầu của mình được thẩm phán hoặc hội
đồng xét xử ấn định nhưng phải được xác
định theo nguyên tắc “tương đương với
nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ
thực hiện”. Theo hướng dẫn tại Mục 9
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao số 02/2005/NQ-HĐTP
ngày 27/4/2005 hướng dẫn thi hành một
số quy định tại Chương VIII “Các biện
pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS,
vấn đề này được xác định như sau:
- “Nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi
thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho
người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người
thứ ba do việc yêu cầu áp dụng BPKCTT
không đúng gây ra. Cách giải thích này đã
giúp tránh được sự nhầm lẫn mà trước khi có
Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP một số
người mắc phải khi cho rằng nghĩa vụ tài sản
là nghĩa vụ của người bị yêu cầu áp dụng
BPKCTT sẽ phải thực hiện đối với người có
yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT.
- Người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ
tài sản là người có yêu cầu toà án áp dụng
BPKCTT không đúng. Trong trường hợp
người yêu cầu áp dụng BPKCTT là người đại
diện theo ủy quyền của đương sự thì người có
nghĩa vụ phải thực hiện là đương sự. Trong
trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT
là người đại diện theo pháp luật của đương
toàn tình trạng tài sản hợp pháp của mình,
họ đang rất cần toà án hỗ trợ họ bảo vệ
quyền và lợi ích, không thể vì họ không có
tiền hoặc chưa có ngay tiền để bảo đảm thì
toà án sẽ quay lưng lại với họ. Cũng theo
quan điểm này, nếu người có yêu cầu toà
án áp dụng BPKCTT phải nộp một khoản
tiền để bảo đảm cho yêu cầu của mình, đề
phòng việc ra quyết định áp dụng BPKCTT
không đúng thì vai trò của toà án là cơ
quan đã ra quyết định áp dụng BPKCTT sẽ
xác định như thế nào trong trường hợp
này? Theo quy định của BLTTDS, đương
sự, người đại diện của đương sự, cơ quan,
tổ chức chỉ có quyền yêu cầu toà án áp
dụng BPKCTT chứ họ không hề có quyền
ra quyết định áp dụng BPKCTT. Quyền ra
quyết định đó là của toà án có thẩm quyền
sau khi xem xét, cân nhắc về yêu cầu của
đương sự. Vậy việc ra quyết định áp dụng
BPKCTT có cần thiết hay không là thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của toà
án, không thể buộc người đưa ra yêu cầu
phải bảo đảm về việc ra quyết định của toà
án. Theo quan điểm của chúng tôi, việc
BLTTDS quy định về thực hiện biện pháp
bảo đảm của người đưa ra yêu cầu toà án
áp dụng BPKCTT cũng có mặt tích cực
(như hạn chế tình trạng lạm quyền của
người yêu cầu, buộc họ phải thận trọng khi
tôi là không thực tế bởi rất ít khi một người
vừa yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT để bảo nghiªn cøu - trao ®æi
30 T¹p chÝ luËt häc sè 1/
2009
vệ quyền và lợi ích của mình vừa dự tính
được số tiền bồi thường thiệt hại mà chính
mình lại có thể phải trả. Điều này giống như
việc pháp luật cho người có quyền yêu cầu
áp dụng BPKCTT quyền yêu cầu nhưng lại
khống chế họ bằng các điều kiện thực hiện,
các chế tài làm họ không dám và không thể
thực hiện được quyền mà pháp luật quy
định. Mặt khác, dùng cụm từ “thiệt hại thực
tế có thể xảy ra” như trong Nghị quyết của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
số 02/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn là chưa
hợp lí bởi lẽ nếu đã là “thiệt hại thực tế” thì
thiệt hại đó đã phải xảy ra rồi, nhìn thấy
được chứ không thể có thiệt hại thực tế chưa
xảy ra, “có thể” xảy ra.
- Về thủ tục thực hiện biện pháp bảo
đảm: Cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết
số 02/2005/NQ-HĐTP, thông thường khoản
tiền hoặc kim khí quý, đá quý, giấy tờ có
giá do người có yêu cầu toà án áp dụng
BPKCTT phải được gửi vào tài khoản
phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của
hiện quyền yêu cầu của mình.
- Quy định về thời hạn thực hiện biện
pháp bảo đảm cũng được các nhà làm luật
chú trọng. Do tính chất của việc yêu cầu toà
án áp dụng BPKCTT là nếu không nhanh
chóng áp dụng biện pháp này thì có thể
quyền, lợi ích của người có yêu cầu sẽ bị ảnh
hưởng nghiêm trọng nên thời hạn thực hiện
biện pháp bảo đảm cũng cần phải quy định
trong khoảng thời gian nhất định. Theo Điều
120 BLTTDS, điểm 9.2 Mục 9 Nghị quyết
số 02/2005/NQ-HĐTP, thời hạn thực hiện
biện pháp bảo đảm được xác định theo
những trường hợp sau:
+ Nếu có yêu cầu áp dụng BPKCTT vào
thời điểm sau khi thụ lí đến trước khi mở
phiên toà, thời hạn thực hiện biện pháp bảo
đảm là hai ngày làm việc kể từ thời điểm
toà án ra quyết định buộc thực hiện biện nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 31
pháp bảo đảm. Nếu có lí do chính đáng,
thời hạn này có thể dài hơn nhưng mọi
trường hợp phải được thực hiện trước ngày
mở phiên toà. Nếu tại phiên toà thì việc
thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu
từ khi hội đồng xét xử ra quyết định buộc
trường hợp này, thay vì sau khi ra quyết
định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm,
phiên toà vẫn tiếp tục xét xử thì cần tạm
ngừng để ngay sau khi có căn cứ người có
yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo
đảm, phiên toà lại tiếp tục xét xử.
+ Trường hợp rất khẩn cấp (khoản 2
Điều 99 BLTTDS) thì thời hạn thực hiện
biện pháp bảo đảm không được vượt quá 48
giờ kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu và được
toà án chấp nhận. Theo chúng tôi, nếu đã là
rất khẩn cấp thì đáng lẽ toà án phải quyết
định ngay về BPKCTT cần được áp dụng
chứ không thể toà án cần ra quyết định khẩn
cấp mà lại phải chờ cho người yêu cầu thực
hiện xong nghĩa vụ bảo đảm. Nếu cứ cứng
nhắc như vậy, chúng tôi e rằng khi người có
yêu cầu thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm thì
cũng là lúc quá muộn để toà án áp dụng
BPKCTT. Ví dụ, trong thực tế hành vi tẩu
tán tài sản, chuyển tiền trong tài khoản của
một cá nhân có thể được thực hiện rất nhanh
chóng trong một khoảng thời gian vài phút
Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự càng
có những quy định phát huy vai trò chủ động
của toà án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự thì càng tốt. Hiện tại,
các quy định của BLTTDS và Nghị quyết số
02/2005/NQ-HĐTP về BPKCTT còn chưa
thể hiện rõ được điều này. Vai trò chủ động,
người có yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT
hoặc toà án đã ra quyết định áp dụng
BPKCTT. Quy định này biểu hiện rất rõ tinh
thần bảo vệ quyền và lợi ích của người bị áp
dụng BPKCTT ở chỗ mặc dù người bị áp
dụng BPKCTT bị áp dụng BPKCTT trái với
ý muốn của họ nhưng nếu việc họ bị áp dụng
BPKCTT không đúng, họ sẽ được bồi
thường. Chủ thể phải bồi thường sẽ được xác
định theo hai trường hợp sau:
- Thứ nhất: Theo khoản 1 Điều 101
BLTTDS, người có yêu cầu áp dụng
BPKCTT không đúng phải bồi thường.
Quy định này dựa trên nguyên tắc quyền
tự định đoạt của các chủ thể trong tố tụng
dân sự. Một người có quyền yêu cầu toà án
áp dụng BPKCTT thì họ phải chịu trách
nhiệm về việc thực hiện quyền yêu cầu đó.
Nếu việc thực hiện yêu cầu đó là không
đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của
người khác thì họ phải bồi thường. Theo
quan điểm của chúng tôi, việc buộc người có
yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT phải chịu
trách nhiệm như khoản 1 Điều 101 BLTTDS
là đúng, có như vậy mới buộc họ phải thận
trọng trong việc đưa ra yêu cầu. Tuy nhiên,
chúng ta cũng cần phải bàn về trách nhiệm
của toà án trong trường hợp này. Như đã
phân tích ở trên, người có yêu cầu chỉ có
quyền đưa ra yêu cầu, toà án mới là người có
Mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp
luật. Vì vậy, nếu đương sự nào yêu cầu toà
án áp dụng BPKCTT không đúng, gây thiệt
hại phải bồi thường thì tương tự toà án nào
ra quyết định áp dụng BPKCTT không đúng,
gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT
hoặc cho người thứ ba thì toà án đó phải bồi
thường. Căn cứ cụ thể để xác định trách
nhiệm bồi thường của toà án được liệt kê
theo ba trường hợp sau:
+ Toà án tự mình áp dụng BPKCTT.
+ Toà án áp dụng BPKCTT khác với
BPKCTT mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có
yêu cầu.
+ Toà án áp dụng BPKCTT vượt quá yêu
cầu áp dụng BPKCTT của cá nhân, cơ quan,
tổ chức có yêu cầu.
Đọc qua điều khoản này, chúng ta có
cảm giác các căn cứ để xác định trách nhiệm
bồi thường của toà án là tương đối đầy đủ,
cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế nhu cầu áp
dụng các BPKCTT mà toà án có quyền tự
mình áp dụng, không cần dựa vào yêu cầu
của cá nhân, cơ quan, tổ chức là rất thấp. Vì
thế rất hiếm khi toà án phải chịu trách nhiệm
về trường hợp này. Còn với hai trường hợp
sau thì cũng rất ít khi toà án lại để mình rơi
vào tình cảnh đó vì tốt nhất là người có
quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT nào, áp
dụng đến mức nào thì toà sẽ ra quyết định áp
Thời hạn khiếu nại là 3 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được quyết định. Chánh án toà án
đã ra quyết định áp dụng BPKCTT sẽ là
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
của đương sự bị áp dụng BPKCTT nếu khiếu
nại đó xảy ra vào thời điểm trước phiên toà
xét xử. Tại phiên toà mà đương sự bị áp
dụng BPKCTT có khiếu nại về quyết định áp
dụng BPKCTT thì hội đồng xét xử không
chấp nhận, giải thích cho họ biết họ có nghiªn cøu - trao ®æi
34 T¹p chÝ luËt häc sè 1/
2009
quyền yêu cầu hội đồng xét xử thay đổi, áp
dụng bổ sung BPKCTT hoặc hủy bỏ
BPKCTT. Nếu đương sự có khiếu nại về
quyết định của hội đồng xét xử về việc ra
quyết định, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ
BPKCTT thì hội đồng xét xử sẽ xem xét,
thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.
Theo chúng tôi, việc BLTTDS quy định
đương sự bị áp dụng BPKCTT có quyền
khiếu nại là quy định đảm bảo tính khách
quan trong hoạt động giải quyết vụ án của
toà án nhưng nếu đương sự có khiếu nại về
quyết định của hội đồng xét xử về việc ra
quyết định, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ
BPKCTT thì hội đồng xét xử sẽ xem xét,
lãnh đạo của cấp uỷ Đảng; hai là việc đi lại
của nhân dân đến trụ sở toà án quá xa,
không thuận tiện. Vì vậy, cần thành lập một
số tổ chức hoà giải ở từng xã, giải quyết các
tranh chấp bằng hoà giải kết hợp với tài
phán, giảm bớt khối lượng công việc gửi lên
toà án khu vực.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng (4/2006) đã tiếp tục nêu lên một cách
khái quát, cô đọng tinh thần cải cách tư
pháp của Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ
Chính trị. Đại hội khẳng định: “Đẩy mạnh
việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn
chương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét
xử làm trọng tâm”.
(10)
Tóm lại, nhận thức của Đảng về đổi mới
tổ chức toà án là quá trình từng bước hình
thành và hoàn thiện các chủ trương của
Đảng nhằm xây dựng được mô hình tổ chức
toà án hiện đại, xét xử đúng người, đúng tội,
tránh oan sai, phù hợp với thực tiễn đất
nước, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư
pháp hiện nay./.
(10).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, Hà Nội,
2006, tr. 127.