nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 29 Ts. Vò gia l©m *
1. Ở Việt Nam hiện nay, về lí luận,
người bị hại trong tố tụng hình sự là cá nhân
hay có thể vừa là cá nhân vừa là cơ quan, tổ
chức vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận
giữa các nhà nghiên cứu pháp luật và những
người áp dụng pháp luật. Trong giới nghiên
cứu luật học vẫn còn tồn tại hai quan điểm
khác nhau về người bị hại:
Quan điểm thứ nhất, người bị hại chỉ có
thể là cá nhân, tức chỉ có thể là con người cụ
thể, giống như khái niệm chủ thể của tội
phạm trong luật hình sự hay khái niệm bị
can, bị cáo trong luật tố tụng hình sự. Ví dụ:
quan điểm khoa học của Trường Đại học
Luật Hà Nội cho rằng: “Luật tố tụng hình sự
nước ta chỉ coi người bị hại là công dân,
pháp nhân hay tổ chức xã hội không được
coi là người bị hại. Thể chất, tinh thần, tài
sản của họ phải là đối tượng của tội phạm.
Thiệt hại mà người bị hại phải chịu phải là
thiệt hại thực tế, nếu thể chất, tinh thần, tài
Thứ hai, thiệt hại mà tội phạm gây ra cho
cơ quan, tổ chức chỉ có thể là thiệt hại về vật
chất, tinh thần vì thể chất là cái vốn gắn liền
với con người cụ thể. Việc thay đổi tư cách
tham gia tố tụng của họ từ tư cách nguyên
đơn dân sự có yêu cầu bồi thường thiệt hại
sang tư cách người bị hại liệu có chính xác
khi chúng ta sử dụng chữ “người” để chỉ các
đối tượng khác không phải là cá nhân, “con
người” theo đúng nghĩa của từ đó. Nếu làm
như vậy liệu có giúp đảm bảo tốt hơn quyền
lợi của các cơ quan, tổ chức này hay không?
Theo chúng tôi, trong trường hợp bị thiệt hại
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
30 T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011
do tội phạm gây ra, việc nguyên đơn dân sự
hoặc người bị hại có bảo vệ được quyền và
lợi ích hợp pháp của mình hay không, phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: họ có
được tạo điều kiện để thực hiện các quyền tố
tụng của mình hay không, việc áp dụng pháp
luật để giải quyết những vấn đề liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ có
đúng đắn, khách quan không, phán quyết của
toà án liên quan đến quyền lợi của họ có
được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời
Như vậy, cả trên phương diện pháp lí tố
tụng và phương diện luật thực định hiện nay,
“người bị hại” được hiểu thống nhất là khái
niệm dùng để chỉ con người cụ thể, cá nhân
bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp về thể
chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không thể là
pháp nhân hay cơ quan, tổ chức.
2. Quyền của người bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ được quy định tại
khoản 2 Điều 51 BLTTHS đã tương đối cụ
thể và phù hợp với mục đích tham gia tố tụng
của họ. Tuy nhiên, vẫn có vấn đề cần xác
định rõ là trong trường hợp nào thì có người
đại diện hợp pháp của người bị hại tham gia
tố tụng. Người đại diện hợp pháp của người
bị hại trong tố tụng hình sự là đại diện theo
pháp luật, người này xuất hiện trong ba
trường hợp cụ thể khi: người bị hại là người
chưa thành niên; người bị hại là người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; người
bị hại trong vụ án chết. Trong các trường hợp
này, việc tham gia tố tụng của người đại diện
hợp pháp của người bị hại là bắt buộc, họ có
các quyền giống quyền của người bị hại, các
quyền này được thực hiện độc lập, phù hợp
mục đích tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
hại. Tuy nhiên, nếu quy định như tiêu đề của
khoản 2 Điều 51 BLTTHS “người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ có quyền…”
im v tõm thn, th cht, ngi b hi hoc
ngi i din hp phỏp ca h cú quyn
buc ti b cỏo ti phiờn to, quy nh ny l
hp lớ, giỳp ngi b hi v ngi i din
hp phỏp ca h trc tip bo v quan im
buc ti nờu trong yờu cu khi t ca mỡnh.
Vỡ vy, ti phiờn to xột x, h cn phi cú
mt v v trớ ca h nờn c t tng
ng vi v trớ ca kim sỏt viờn thc hnh
quyn cụng t ti phiờn to, vỡ quyn buc
ti b cỏo bo v quan im trong yờu cu
khi t ca mỡnh cng ging nh quyn ca
kim sỏt viờn lun ti bo v cỏo trng
vy. Do ú, cn quy nh s cú mt ca h
ti phiờn to l bt buc v to ỏn phi hoón
phiờn to nu ngi b hi, i din hp
phỏp ca ngi ny vng mt cú lớ do chớnh
ỏng. Tuy nhiờn, to ỏn cú th xột x nu h
vng mt khụng cú lớ do chớnh ỏng hoc h
yờu cu xột x vng mt. Nờn quy nh ti
phiờn to xột x, ngi b hi hoc ngi i
din hp phỏp ca h cú quyn buc ti b
cỏo ngay sau lun ti ca kim sỏt viờn. Do
ú, m bo quyn li ca ngi b hi,
cn b sung khon 2 iu 191 BLTTHS
theo hng i vi v ỏn khi t theo yờu
cu, nu ngi b hi, i din hp phỏp ca
ngi b hi vng mt cú lớ do chớnh ỏng thỡ
to ỏn phi hoón phiờn to. To ỏn ch xột x
vng mt ca h trong trng hp h c tỡnh
nghiªn cøu - trao ®æi
32 T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011
chỉ khởi tố vụ án khi người bị hại hoặc đại
diện hợp pháp của người này yêu cầu. Vì
những lí do trên, chúng tôi kiến nghị, sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 105 BLTTHS theo
hướng mở rộng phạm vi các tội phạm khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại, nhất là đối
với một số tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm
phạm sức khoẻ của công dân đã nêu trên…
Về phạm vi quyền kháng cáo bản án,
quyết định sơ thẩm và hiệu lực của kháng cáo
của người bị hại, người đại diện hợp pháp của
họ, hiện nay còn có sự chưa thống nhất trong
các quy định của BLTTHS. Khoản 4 Điều 51
BLTTHS quy định: “Người bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo
bản án, quyết định của toà án về phần bồi
thường cũng như về hình phạt đối với bị
cáo”. Quy định này được hiểu là người bị hại,
người đại diện hợp pháp của họ chỉ được
kháng cáo phần bồi thường về dân sự và về
hình phạt mà toà án đã áp dụng bao gồm loại
hình phạt, mức hình phạt mà không được
kháng cáo yêu cầu đổi tội danh khác hoặc
kháng cáo về việc toà án cho bị cáo hưởng án
treo, áp dụng biện pháp tư pháp v.v Tuy
nhiên, nếu theo quy định tại đoạn 1 Điều 231
BLTTHS “… người bị hại, người đại diện
người đại diện hợp pháp của họ (nếu có) đối
với mọi vấn đề có liên quan đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị hại cho thống nhất
với các quy định khác có liên quan như quy
định tại Điều 231 BLTTHS về những người
có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, phù hợp
với quy định về quyền sửa, huỷ bản án sơ
thẩm của toà án cấp phúc thẩm không chỉ tại
Điều 249 BLTTHS mà còn phù hợp với quy
định về quyền huỷ bản án sơ thẩm quy định
tại Điều 250, 251 Bộ luật này. Có thể sửa
đổi, bổ sung khoản 4 Điều 51 BLTTHS theo
hướng quy định cụ thể cho người bị hại,
người đại diện hợp pháp của họ có quyền
kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định của toà
án nếu xét thấy quyết định của toà án cấp sơ
thẩm chưa chính xác, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người
mà mình đại diện. nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 33
3. Về nghĩa vụ của người bị hại, khoản 4
Điều 51 BLTTHS quy định như sau: Người
bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ
quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; nếu từ
chối khai báo mà không có lí do chính đáng
thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo
Điều 308 BLHS.
mà việc khai báo được quy định là quyền của
họ. Nếu chúng ta cho rằng việc khoản 4 Điều
51 quy định người bị hại phải có mặt theo
giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm
sát, toà án đồng nghĩa với việc họ có nghĩa vụ
khai báo thì rõ ràng là không có cơ sở. Bởi vì,
việc phải có mặt theo giấy triệu tập không thể
đồng thời bao hàm nghĩa vụ phải khai báo.
Cho nên, nếu buộc người bị hại phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi từ chối khai
báo khi không có quy định nghĩa vụ khai báo
của họ là không có căn cứ pháp lí.
Thứ hai, cũng theo lẽ tự nhiên, người bị
hại là người bị thiệt hại bởi hành vi phạm tội
gây ra nên họ luôn mong muốn người gây
thiệt hại phải bị trừng trị, thiệt hại của họ phải
nhanh chóng được khắc phục và bồi thường
nên họ thường tích cực cộng tác với cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc khai báo. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy có trường hợp người
bị hại lại thiếu hợp tác trong việc khai báo,
thậm chí tìm cách trốn tránh để không phải
đến cơ quan điều tra hoặc đến phiên toà để
khai báo và việc này cũng ít nhiều gây ra
những khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Mặc dù vậy, cũng khó có thể bắt họ phải chịu
hình thức trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc
(trách nhiệm hình sự) như quy định hiện nay
được. Bởi vì, xét cho cùng nếu họ từ chối
khai báo trong bất cứ trường hợp nào cũng
th phi chu nu b phỏt hin, x lớ nờn ó e
do, cng ộp ngi b hi khụng c t giỏc
ti phm, khụng khai bỏo vi c quan tin
hnh t tng. Thm chớ, cú trng hp ngi
b hi ó lm n yờu cu khi t nhng sau
ú do b e do, hnh hung ó phi n c
quan tin hnh t tng rỳt yờu cu khi t
ca mỡnh. Cú trng hp sau khi khai bỏo cỏc
tỡnh tit giỳp chng minh hnh vi phm ti ca
b can, do b e do nhiu ln v vỡ quỏ lo s
cho tớnh mng ca mỡnh hoc ca ngi thõn
nờn ngi b hi ó thay i li khai theo
hng cú li cho ngi phm ti Trong tt
c cỏc tỡnh hung nờu trờn, vic ngi b hi,
ngi i din hp phỏp ca ngi b hi t
chi, trn trỏnh khai bỏo hoc khụng cú mt
khi c triu tp cú th c xem l s la
chn bt c d. Trong trng hp ny cú th
coi nh h ó phi hi sinh li ớch trc mt cú
th l khụng ln bo v li ớch m h cho
l ln v l li ớch lõu di hn.
Th t, kho sỏt thc tin thi hnh BLHS
trong nhiu nm qua, chỳng tụi cha thy
mt ghi nhn no v vic truy cu trỏch
nhim hỡnh s i vi ngi b hi v hnh
vi t chi khai bỏo. Mt khỏc, i vi hnh
vi ny, vic hiu nh th no l t chi khai
bỏo cú lớ do chớnh ỏng (khụng b x lớ hỡnh
s) vi t chi khai bỏo khụng cú lớ do chớnh
ỏng (b x lớ hỡnh s) cho n nay cng
to ỏn cp phỳc thm khi xột x li v ỏn m nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 35
bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo, kháng nghị, chúng tôi thấy rằng
quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không có lợi cho bị cáo theo kháng
cáo của người bị hại tại BLTTHS là chưa
đảm bảo tối đa hiệu lực kháng cáo của người
bị hại, người đại diện hợp pháp của họ (nếu
có) đối với bản án, quyết định của toà án cấp
sơ thẩm. Đoạn 1 Điều 231 BLTTHS ghi rõ:
“… người bị hại, người đại diện hợp pháp
của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết
định của toà án”. Theo đó, trong vụ án có sự
tham gia của người đại diện hợp pháp của
người bị hại, cả người bị hại và người đại
diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng
cáo bản án, quyết định sơ thẩm với phạm vi
kháng cáo hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc
vào ý chí của nhau. Bất kì ai kháng cáo thì
kháng cáo đó đều làm bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và phải được
xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đoạn 1 của
điều luật này cũng thống nhất với quy định tại
điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS, quy định
tại điểm này cũng không hạn chế quyền
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của
lực kháng cáo của người tham gia tố tụng,
khoản 3 Điều 249 Bộ luật này cần phải bổ
sung một lí do (cơ sở) nữa để xem xét, sửa án
sơ thẩm theo hướng tăng nặng cả về phần
hình sự và dân sự, đó là: khi có kháng cáo có
căn cứ của người đại diện hợp pháp (đại diện
theo pháp luật) của người bị hại.
Phạm vi quyền kháng cáo của người bị
hại, đại diện hợp pháp của họ không chỉ giới
hạn trong việc yêu cầu tăng hình phạt, áp
dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn hoặc
tăng mức bồi thường thiệt hại mà còn có thể
có yêu cầu toà án cấp phúc thẩm kết tội bị cáo
được toà án cấp sơ thẩm tuyên vô tội; áp dụng
hình phạt đối với bị cáo được toà án cấp sơ
thẩm miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn
hình phạt; yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị
cáo được hưởng án treo và không cho bị cáo
hưởng án treo hoặc không yêu cầu tăng hình
phạt tù nhưng lại yêu cầu không cho bị cáo
hưởng án treo như bản án sơ thẩm đã tuyên nghiên cứu - trao đổi
36 Tạp chí luật học số 11/2011
v.v Trong nhng trng hp ny, nu yờu
cu ca h cú cn c thỡ theo quy nh ti
khon 3 iu 249 BLTTHS hin hnh, to ỏn
cp phỳc thm cng khụng cú c s phỏp lớ
sa ỏn s thm. Nh vy, s khụng t
5. Da vo nhng phõn tớch, lớ gii v kt
lun nờu trờn chỳng tụi xut hon thin
mt s quy nh ca BLTTHS v ngi b hi
nhm m bo tt nht quyn v li ớch hp
phỏp ca h trong t tng hỡnh s nh sau:
Th nht, sa i, b sung khon 1 iu
51 v cỏc ni dung c bn sau:
- B sung tiờu chớ xỏc nh t cỏch ngi
b hi theo hng giỳp phõn bit rừ t cỏch
ngi b hi vi t cỏch nguyờn n dõn s
trỏnh vic hiu v thc hin khụng thng
nht v chớnh xỏc trong thc tin. Cỏc tiờu
chớ ú l: ch cỏ nhõn b thit hi do ti phm
gõy ra mi tham gia t tng vi t cỏch
ngi b hi phõn bit vi cỏc i tng
khỏc khụng phi l cỏ nhõn b ti phm gõy
ra thit hi; thit hi m ti phm gõy ra cho
cỏ nhõn ú phi l thit hi trc tip phõn
bit vi cỏc cỏ nhõn khỏc cng b thit hi v
vt cht do ti phm gõy ra.
- B sung vo khon 1 iu 51 BLTTHS
iu kin v hỡnh thc xỏc nh t cỏch
ca ngi b hi: ngi b hi phi l ngi
c c quan tin hnh t tng cụng nhn.
- Sa i, b sung tiờu ca khon 2
iu 51 BLTTHS theo hng trong v ỏn cú
s tham gia ca ngi b hi v ngi i
din hp phỏp ca h thỡ c hai ngi ny
u cú quyn nh nhau.
- Sa i, b sung khon 4 iu 51
trờn) v ti mi c b sung trong lut sa
i, b sung mt s iu ca BLHS ngy
19/6/2009 l ti xõm phm quyn tỏc gi v
cỏc quyn khỏc quy nh ti iu 170a.
ng thi a iu 131 BLHS ra khi quy
nh ca iu 105 BLTTHS vỡ iu ny ó
b lut núi trờn bói b. Ngoi ra, vi vic quy
nh quyn yờu cu khi t cho ngi i
din hp phỏp ca ngi b hi l ngi
cha thnh niờn, ngi cú nhc im v
tõm thn, th cht thỡ ni dung iu lut hin
hnh ó vt quỏ phm vi tờn iu lut xỏc
nh. Do vy, cn sa i tiờu ca iu
lut t Khi t v ỏn theo yờu cu ca
ngi b hi thnh Khi t v ỏn theo yờu
cu cho phự hp vi ni dung ca nú. Bờn
cnh ú, bo m trit quyn li ca
ngi b hi, nờn b t hoc trong on
ch c khi t khi cú yờu cu ca
ngi b hi hoc ngi i din hp phỏp
ca ngi b hi l ngi cha thnh niờn,
ngi cú ca khon 1 iu 105 v thay
vo ú bng du phy xỏc nh rng
trong trng hp ny c ngi b hi v i
din hp phỏp ca h u cú quyn yờu cu
khi t v ỏn, ch khụng phi l hoc ngi
ny hoc ngi kia nh quy nh hin hnh.
Th ba, b sung khon 1 iu 191
BLTTHS quy nh s cú mt ca ngi b
hi, nguyờn n dõn s, b n dõn s, ngi
khn khai bỏo, n nn, hi ci.
(6).Xem: Tiu mc 1.3 Phn I Ngh quyt s
05/2005/NQ-HTP ngy 8/12/2005 ca Hi ng
thm phỏn To ỏn nhõn dõn ti cao, hng dn ỏp
dng mt s quy nh ti Phn th t Xột x phỳc
thm ca BLTTHS nm 2003.