Nhà n-ớc và pháp luật n-ớc ngoài
tạp chí luật học số 1/2011 55
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà *
heo phỏp lut t tng dõn s Hoa K thỡ
mt v ỏn dõn s Hoa K trc tiờn
c gii quyt to ỏn cp s thm, nu cỏc
ng s khụng ng ý vi bn ỏn, quyt
nh ca to ỏn cp s thm thỡ cú quyn
khỏng cỏo yờu cu to ỏn cp phỳc thm
xem xột li. Cỏc ng s cng cú quyn
khỏng cỏo bn ỏn, quyt nh ca to ỏn cp
phỳc thm mt ln na lờn To ỏn ti cao.
1. Gii quyt v ỏn dõn s theo th tc
s thm
Theo quy nh ca phỏp lut t tng dõn
s Hoa K, th tc t tng dõn s ti to ỏn
cp s thm gm cỏc bc sau:
- Khi kin v th lớ v ỏn dõn s
ng s cú quyn v li ớch hp phỏp
cn bo v cú quyn np n khi kin ra
to ỏn. n khi kin nờu rừ cỏc cn c
cho vic xỏc nh to ỏn cú thm quyn
gii quyt, cỏc cn c lm c s cho yờu
chi khụng cung cp chng c hoc khụng
tr li v vn no ú thỡ thm phỏn s ban
hnh lnh buc ngi t chi phi cung cp
chng c hoc ỏp dng cỏc bin phỏp ch ti
cn thit. Nu ngi khụng cung cp chng
c l b n thỡ thm phỏn s quyt nh gii
quyt v kin hon ton trờn chng c do
T
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
56 t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011
nguyên đơn xuất trình trước toà án. Trong
trường hợp thẩm phán thấy rằng chứng cứ
mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để
giải quyết vụ việc thì thẩm phán yêu cầu các
bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ chứ
thẩm phán không bao giờ tự mình thu thập
chứng cứ. Sau khi các bên thu thập được đầy
đủ thông tin, chứng cứ thì họ phải gặp nhau
theo lệnh của thẩm phán, chủ toạ phiên toà.
Tại đây, thẩm phán có thể tiến hành hoà giải
để các đương sự thoả thuận với nhau về việc
giải quyết vụ việc hoặc thống nhất những
vấn đề cần tranh tụng tại phiên toà (những
vấn đề các đương sự còn mâu thuẫn, những
thông tin, tài liệu nào mà các bên không
đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không
Phán quyết của đoàn bồi thẩm sẽ được quyết
định theo đa số và được thể hiện bằng văn
bản trình lên thẩm phán chủ tọa phiên toà.
Thẩm phán sẽ công bố kết quả nghị án của
bồi thẩm đoàn và ra bản án trên cơ sở và phù
hợp với kết quả nghị án của bồi thẩm đoàn.
Trong trường hợp bồi thẩm đoàn có quan
điểm giải quyết vụ án trái ngược với quan
điểm của thẩm phán thì thẩm phán có thể
huỷ bỏ phán quyết của bồi thẩm đoàn nếu
cho rằng phán quyết của bồi thẩm đoàn là
trái pháp luật, chưa đủ chứng cứ để giải
quyết vụ việc.
(3)
Như vậy, có thể thấy pháp luật tố tụng
dân sự Hoa Kỳ luôn đề cao vai trò của các
bên đương sự trong việc chứng minh sự việc,
họ là các chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ
động, quyết định kết quả tranh tụng. Trong
suốt quá trình tố tụng, các bên đương sự bình
đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau
những chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí để
chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp
pháp của mình trước toà án trên cơ sở các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Toà
án không chủ động thu thập chứng cứ mà chỉ
là người trọng tài, giữ vai trò trung gian, căn
đương sự trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn
với nhau và mâu thuẫn với lời khai của họ
trước đó. Luật sư được chủ động khi tham
gia tranh luận, chủ tọa phiên toà không
được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều
kiện cho người tham gia tranh luận trình
bày hết ý kiến. Khi nghị án có thể quay trở
lại việc hỏi và tranh luận. Tuy nhiên,
BLTTDS vẫn còn thiếu các quy định để
bảo đảm đương sự thực hiện nghĩa vụ
chứng minh cũng như thực hiện việc tranh
tụng. Chẳng hạn, BLTTDS quy định đương
sự có nghĩa vụ chứng minh, có quyền được
biết, ghi chép, sao chụp tài liệu chứng cứ
do bên kia cung cấp nhưng lại không quy
định về việc các đương sự có quyền và
nghĩa vụ trao đổi chứng cứ, tài liệu cho
nhau. Hoặc các đương sự có quyền yêu cầu
cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ,
quản lí chứng cứ cung cấp chứng cứ nhưng
lại không quy định biện pháp chế tài khi
các chủ thể này không cung cấp chứng cứ
cho đương sự. Nhưng như đã phân tích ở
trên thì những vấn đề này chúng ta đều tìm
thấy trong các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự Hoa Kỳ. Hơn nữa, để giúp cho
đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình, hầu hết các vụ án dân
sự ở Hoa Kỳ đều có sự tham gia của luật
sư. Trong trường hợp các đương sự không
người đặt câu hỏi để làm rõ về các vấn đề
của vụ án và giữ vai trò chủ động. Thẩm
phán là trọng tài “cầm cân công lí”, giữ vai
trò trung gian, điều khiển quá trình tranh
tụng của các bên nhằm đảm bảo quyền tranh
tụng của các bên đương sự cũng như đảm
bảo cho quá trình tranh tụng được thực hiện
theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân
sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra
phán quyết giải quyết vụ án.
Do đó, BLTTDS Việt Nam cần tiếp thu
các quy định này của Hoa Kỳ để đảm bảo
cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ
chứng minh cũng như quyền tranh tụng. Đó
là BLTTDS cần bổ sung các quy định về
quyền và nghĩa vụ trao đổi trực tiếp chứng
cứ, tài liệu giữa các đương sự; các biện pháp
chế tài khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức
không thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng
cứ cho đương sự; những người có quyền
tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, cơ
sở của việc tranh luận. Ngoài ra, các quy
định về trình tự phiên toà sơ thẩm nên sửa
đổi theo hướng: Thủ tục bắt đầu phiên toà,
thủ tục trình bày của những người tham gia
tố tụng, thủ tục tranh luận, thủ tục hỏi, thủ
tục nghị án và tuyên án.
2. Giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục
phúc thẩm
- Về người có quyền kháng cáo phúc thẩm
Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011 59
làm kéo dài quá trình tố tụng. Do đó, cần
phải hạn chế quyền kháng nghị phúc thẩm
của Viện kiểm sát.
- Về việc xem xét chứng cứ mới ở toà án cấp
phúc thẩm
Với quan niệm bản án sơ thẩm là kết
quả của quá trình tố tụng công bằng, đúng
pháp luật và ở đó các yêu cầu, các chứng
cứ, tài liệu đã được xem xét, đánh giá công
khai tại phiên toà sơ thẩm nên theo pháp
luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, các đương sự
không thể kháng cáo để yêu cầu toà án cấp
trên xem xét lại vấn đề sự kiện của vụ án.
Điều này có nghĩa là “toà án cấp phúc thẩm
sẽ không chấp nhận xem xét các chứng cứ
mới”.
(5)
“Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét
vụ kiện trên cơ sở hồ sơ xử sơ thẩm mà thôi.
Nếu trong giai đoạn phúc thẩm có một
chứng cứ mới nào đó liên quan đến vụ kiện
được trình lên toà phúc thẩm thì có nghĩa
toàn bộ vụ kiện sẽ được gửi lại toà sơ thẩm
để giải quyết”.
(6)
Trái ngược với các quy định này, pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam cho phép các
toà án cấp sơ thẩm tiến hành giải quyết vụ
án. Còn nếu họ đưa ra những chứng cứ mới
nhưng lại không chứng minh được lí do tại
sao vào thời điểm này họ mới có những
chứng cứ mới đó thì toà án cấp phúc thẩm sẽ
không chấp nhận.
- Về quyền hạn của toà án cấp phúc thẩm
Do toà án cấp phúc thẩm của Hoa Kỳ chỉ
xem xét các vấn đề pháp lí nên toà án cấp
phúc thẩm chỉ có nhiệm vụ sửa lỗi về việc áp
dụng pháp luật do toà án cấp dưới gây ra.
(7)
Do đó, hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền
giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm nếu
quyết định của toà án cấp sơ thẩm là đúng
đắn; nếu quyết định của toà án cấp sơ thẩm
là trái pháp luật thì hội đồng xét xử phúc Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
60 t¹p chÝ luËt häc sè 1/2011
thẩm sẽ trả lại hồ sơ vụ án cho toà án cấp sơ
thẩm để toà án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm
lại. Hội đồng xét xử phúc thẩm “không xem
xét để ra một quyết định mới hoặc ra một
quyết định hoàn toàn mới để thay thế quyết
định của toà án cấp dưới”.
(8)
Như vậy, các
cầu. Tuy nhiên, trường hợp này tương đối
hiếm khi xảy ra.
(9)
Quyết định của toà án cấp phúc thẩm
trong hầu hết các trường hợp là quyết định
cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay. Bản
án phúc thẩm là văn bản giải thích pháp luật
và nó được xuất bản có giá trị như án lệ để
toà án cấp sơ thẩm tuân theo khi giải quyết
các vụ án xảy ra tương tự.
Ngoài ra, các đương sự có quyền kháng
cáo bản án, quyết định phúc thẩm lên Toà án
tối cao. Tuy nhiên, Toà án tối cao chỉ xem
xét lại một số ít các vụ án dân sự quan trọng
thông qua “lệnh lấy lên để xét xử” (writ of
certiorari). Điều này có nghĩa là hầu hết các
đơn kháng cáo đều chỉ được giải quyết ở toà
án cấp phúc thẩm.
(10)
Những căn cứ để Toà
án tối cao chấp nhận xem xét lại quyết định
của toà án cấp phúc thẩm là:
- Khi toà phúc thẩm liên bang ra quyết
định mâu thuẫn với quyết định của toà phúc
thẩm liên bang khác về cùng một vấn đề;
hoặc ra quyết định vấn đề của liên bang mâu
thuẫn với quyết định của toà án cao nhất của
bang; hoặc ra quyết định vấn đề của liên
bang khác với các quyết định được chấp
án cấp sơ thẩm có đúng pháp luật và hợp pháp
hay không thì toà án cấp phúc thẩm phải
kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của
bản án, quyết định sơ thẩm. Như vậy, toà án
cấp phúc thẩm sẽ xét xử lại vụ án dân sự cả
về sự kiện thực tế và vấn đề luật pháp. Khi
xét xử lại, với những chứng cứ đã được thu
thập ở toà án cấp sơ thẩm và những chứng
cứ được bổ sung ở toà án cấp phúc thẩm thì
toà án cấp phúc thẩm có quyền giữ nguyên,
sửa hoặc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm.
Sau khi toà án cấp phúc thẩm giải quyết,
bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật và các đương sự không có quyền
kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm mà chỉ
có quyền khiếu nại đến những người có thẩm
quyền để những người có thẩm quyền kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là quy
định hoàn toàn khác với pháp luật tố tụng
dân sự Hoa Kỳ - nơi mà chỉ có các đương sự
mới có quyền kháng cáo bản án, quyết định
của toà án. Thiết nghĩ, BLTTDS Việt Nam
nên thừa nhận quyền kháng cáo giám đốc
thẩm, tái thẩm của các đương sự bởi quan hệ
lợi ích cần được giải quyết trong các vụ việc
dân sự là quan hệ giữa các đương sự, do đó
để tôn trọng quyền tự định đoạt của các
đương sự thì việc quyết định phương thức
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trước toà án phải do chính các đương sự
l ngun ca lut t tng dõn s.
(12)
Theo
chỳng tụi, cỏc thm phỏn cú th ỏp dng ỏn
l gii quyt cỏc v vic dõn s bi vỡ:
Th nht, trong nhng trng hp phỏp lut
thnh vn khụng cú quy nh hoc quy nh
khụng rừ rng thỡ vic tham kho cỏc bn ỏn,
quyt nh ca to ỏn cp trờn l cn thit
gii quyt cỏc v vic tng t. Nh vy,
n l ó giỳp thi mt lung sinh khớ vo
thõn xỏc khụ khan v bt ng ca nhng
vn bn phỏp lớ, nh ú cỏc o lut cú
c cuc sng sinh ng, gn lin vi thc
tin.
(13)
Vic s dng ỏn l s to ra vic ỏp
dng thng nht phỏp lut i vi cỏc v
vic tng t v khụng cũn tỡnh trng v
vic dõn s tng t nhau nhng kt qu gii
quyt li khỏc nhau, qua ú to c nim
tin ca nhõn dõn vo hot ng xột x ca
to ỏn. Th hai, vic ỏp dng ỏn l cng l
mt trong nhng nhim v ci cỏch t phỏp ó
c ra trong Ngh quyt s 49-NQ/T ca
B chớnh tr Ban chp hnh trung ng ng
khoỏ IX ngy 2/6/2005 v Chin lc ci
cỏch t phỏp n nm 2020: To ỏn nhõn
dõn ti cao cú nhim v tng kt kinh nghim
xột x, hng dn ỏp dng thng nht phỏp
lut Hoa k, n phm ca Chng trỡnh thụng tin
quc t, B ngoi giao Hoa K nm 2004.
(8).Xem: Micheal Browde, Tld, tr. 6.
(9).Xem: New York University School of Law, Alan
B. Morrison (Editor), Fundamentals of American Law,
Oxford University Press Inc, New York, 1996, tr. 79, 80.
(10).Xem: Robert A. Cohen and David M. Bigge,
Tld, tr. 329.
(11).Xem: Charles Platto, United States, Civil
Appeal Procedures Worldwide, International Bar
Association Series, Graham and Trotman, London,
UK, 1992, tr. 333.
(12).Xem: Nguyn Vn Cng, Nhn thc chung v
ỏn l, tm quan trng ca ỏn l trong cụng tỏc xột x,
khỏi quỏt cỏc trng phỏi ỏn l trờn th gii, To
m v D tho Lut sa i, b sung mt s iu
ca BLTTDS ti Sa Pa, ngy 29, 30/01/2010.
(13).Xem: Vn phũng Quc hi Vit Nam, Gii thớch
phỏp lut - Mt s vn lớ lun v thc tin, Nxb.
Hng c, H Ni, 2009, tr. 508.